Bài 4: Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược (19/12/1946 20/7/1954)_1 - Pdf 19

Bài 4: Kháng chiến toàn quốc chống thực
dân Pháp xâm lược (19/12/1946 -
20/7/1954) I. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CỦA ĐẢNG

Hành động của thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương
hòng đặt lại ách thống trị thực dân không phải là việc bất ngờ đối với
Đảng và nhân dân ta. Ngay tại Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào,
Đảng ta chỉ rõ, đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị của chúng ở
Đông Dương.

Ngày 16-12-1946, những tên trùm thực dân Pháp ở Đông Dương đã họp
tại Hải Phòng bàn triển khai kế hoạch đánh chiếm Hà Nội và khu vực
Bắc vĩ tuyến 16. Ngày 17 và 18-12-1946 tại Hà Nội, quân Pháp khiêu
khích, tàn sát đồng bào ta ở các phố Yên Ninh, Hàng Bún. Ngày 18-12-
1946, đại diện Chính phủ Pháp cắt đứt mọi liên hệ với đại diện Chính
phủ ta.
Cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp đang lan ra cả nước.

Nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
với bao khó khăn: nước ta vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến mới
được giải phóng, đất không rộng, người không đông, với một nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu, lại bị Chiến tranh thế giới thứ hai tàn phá và bị chủ
nghĩa đế quốc bao vây bốn phía. Pháp là một nước đế quốc có nền kinh
tế công nghiệp phát triển, có một quân đội chính quy, trang bị hiện đại,
có sẵn 100.000 quân đóng tại đất nước ta, có kinh nghiệm chiến tranh
xâm lược thuộc địa, lại được đế quốc Mỹ, Anh giúp sức Tuy nhiên,
chúng ta cũng có những thuận lợi nhất định: nhân dân ta đã giành được
quyền làm chủ trong cả nước. Là người làm chủ đất nước, nhân dân ta

viên nhân lực, vật lực, tài lực của cả nước; đoàn kết với hai dân tộc Lào,
Campuchia anh em, với nhân dân Pháp, với các nước châu Á và các dân
tộc bị áp bức, các dân tộc yêu chuộng hoà bình, dân chủ trên thế giới, cô
lập kẻ thù, tranh thủ thêm nhiều bầu bạn; củng cố chế độ cộng hoà dân
chủ, lập ra uỷ ban kháng chiến các cấp.

Về quân sự, cuộc kháng chiến sẽ trải qua ba giai đoạn: phòng ngự, cầm
cự, phản công; triệt để dùng "du kích vận động chiến", tiến công địch ở
khắp nơi, vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng; tản cư nhân dân ra xa
vùng chiến sự.

Về kinh tế, toàn dân tăng gia sản xuất, tự túc tự cấp, xây dựng kinh tế
theo hướng "vừa kháng chiến vừa kiến quốc"; ra sức phá kinh tế địch,
không cho chúng lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.

Về văn hoá, đánh đổ văn hoá nô dịch, ngu dân, xâm lược của thực dân
Pháp, xây dựng nền văn hoá mới, xoá nạn mù chữ; thực hiện cần, kiệm,
liêm, chính; động viên các nhà văn hoá tham gia kháng chiến.

Ta chủ trương đánh lâu dài để làm cho những chỗ yếu cơ bản của địch
ngày càng bộc lộ, chỗ mạnh của địch ngày một hạn chế; chỗ yếu của ta
từng bước được khắc phục, chỗ mạnh của ta ngày một phát huy.
Tự lực cánh sinh là dựa vào sức lực của toàn dân, vào đường lối của
Đảng, vào các điều kiện nhân hoà, địa lợi, thiên thời của đất nước ta,
đồng thời ra sức tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để chiến thắng kẻ
thù.

Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh raLời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến, Người nói: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu
mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất

phương cũng về đóng nơi tạm thời an toàn. Bộ máy chính quyền các cấp
được kiện toàn.

Trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ và Thư gửi các đồng chí Trung Bộ
(tháng 3 - 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên tu
dưỡng, gương mẫu về đạo đức, trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ, một
lòng, một dạ vì dân, chống bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, địa
phương chủ nghĩa, bè phái, vô kỷ luật.

Để tăng cường lực lượng lãnh đạo của Đảng, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng chủ trương mở đợt phát triển đảng viên "Lớp tháng Tám".
Hàng nghìn công nhân, nông dân, trí thức cách mạng và chiến sĩ lực
lượng vũ trang ưu tú đã gia nhập Đảng. Cuối năm 1947, tổng số đảng
viên có trên 70.000 người.

Lực lượng vũ trang được chăm lo xây dựng, công tác Đảng trong quân
đội được tăng cường một bước. Riêng mùa hè năm 1947 có tới 35.000
người tình nguyện nhập ngũ. Bộ đội chủ lực cũng phát triển từ 80.000
lên 120.000 chiến sĩ. Lực lượng dân quân tự vệ lên tới 1 triệu người.
Nhiều căn cứ địa kháng chiến ở địa phương được xây dựng.

Để động viên toàn dân tham gia kháng chiến, Đảng và Chính phủ tìm
mọi biện pháp ổn định đời sống nhân dân và xây dựng những cơ sở ban
đầu của nền kinh tế và văn hoá kháng chiến.

Đảng cũng quan tâm lãnh đạo công tác đối ngoại để tranh thủ sự đồng
tình của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến, đặt cơ quan đại
diện ở Thái Lan, Miến Điện và cử đoàn đại biểu đi dự các hội nghị quốc
tế.
Sau khi chiếm được một số thành phố, thị xã ở Bắc Bộ, quân Pháp tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status