SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁCH MỞ BÀI TRONG
VĂN NGHỊ LUẬN A. đặt vấn đề.
Chất lượng môn ngữ văn ở trường THPT thường thấp. Bởi tập làm
văn là một phân môn khó- đặc trưng của phân môn này là yêu cầu học
sinh vận dụng kiến thức đã được học ở phân môn văn và tiếng việt vào
việc làm văn. Mặt khác, ý thức học môn văn của học sinh chưa cao.
Không hiếm tình trạng giáo viên chỉ chú trọng đến giờ văn học, xem nhẹ
giờ làm văn, chỉ dạy qua loa, chiếu lệ.
Biểu hiện rất rõ của học sinh trước một đề văn là thường tỏ ra lúng
túng ngay ở khâu tìm hiểu đề, xác định các yêu cầu, cho đến công đoạn
vận dụng kiến thức văn chương, lịch sử, xã hội… và năng lực tư duy
ngôn ngữ để triển khai, lập dàn ý. Đáng lưu ý hơn nữa là tình trạng mò
mẫm trong công đoạn tạo văn bản hoàn chỉnh. Nhiều bài viết của học
sinh còn bộc lộ tình trạng làm bài mà không hề có ý thức về việc vận
dụng kiến thức mà môn làm văn đã cung cấp, bỏ qua công đoạn phân
tích, tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý, cứ đề ra thì bắt tay vào viết: nghĩ sao
viết vậy, lắp ghép câu chữ tùy tiện, quanh quẩn lặp lại những điều đã
viết, đến lúc không nghĩ ra được điều gì nữa thì kết thúc bài. Đó là những
bài văn lạc đề, lệch đề, không có kết cấu, đoạn mạch rõ ràng, đầy những
B. giải quyết vấn đề
I. Cách thức tiến hành:
1.Viết các câu dẫn nhập.
Viết các câu dẫn nhập nói chung là khó. Bởi vì câu dẫn nhập đầu
tiên là câu văn “khởi động” cả quá trình tạo văn bản phức tạp. Nó chi
phối, quy định các câu tiếp theo, nên có thể gây khó khăn hay tạo điều
kiện thuận lợi cho người viết trong việc dẫn nhập. Tuy nhiên về phương
diện tâm lý, nếu có ý thức rõ về bước “khởi động” quan trọng này, viết
dẫn nhập vẫn không phải là chuyện nan giải. Trước hết cần xác định rõ
điểm “xuất phát” và khoảng cách giữa điểm “xuất phát” với đề tài được
bàn luận trong bài.
Chẳng hạn, nếu đề tài được bàn luận là nhân vật thì điểm xuất phát
gần nhất là tác phẩm, xa hơn nữa là tác giả, hoàn cảnh sáng tác, là bối
cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội có liên quan đến tác phẩm; xa hơn nữa là
trào lưu sáng tác, giai đoạn văn học… Có thể minh họa điều này bằng
một ví dụ cụ thể. Trong trường hợp đề văn yêu cầu phân tích nhân vật Hộ
trong tác phẩm “Đời thừa” của nhà văn Nam Cao, thì trong phần mở bài
có thể chọn điểm xuất phát và từng bước dẫn vào như sau:
(1) Vị trí của Nam Cao trong trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt
nam thế ký XX, giai đoạn 1930-1945.
(2) Hai loại đề tài mà Nam Cao thường khai thác trong các sáng tác
trước năm 1945.
(3) “Đời thừa”- một thành công tiêu biểu của Nam Cao về đề tài người
trí thức nghèo.
(4) Nhân vật Hộ trong tác phẩm ít nhiều mang bóng dáng của nhà văn
Nam Cao.
Trên cơ sở xuất phát điểm đã xác định, người viết từng bước dẫn
của nền văn xuôi thế kỉ XX.
Yêu cầu hàng đầu của việc dẫn nhập là “tự nhiên” và có “hướng
đích xác định”. CÇn tránh lối dẫn nhập màu mè, gượng ép hay phô
trương kiÕn thức một cách vô bổ mà không có giá trị thông tin.
2. Viết câu luận đề:
Nêu luận đề là bước nối tiếp dẫn nhập, nếu người viết muốn nêu
luận đề ngay trong phần mở bài. Luận đề có thể được nêu trong cả câu
luận đề hay một thành phần câu, một cơ nào đó. Câu luận đề có thể là câu
đơn, câu ghép, và là câu trần thuật, khẳng định, nêu lên một nhận định
khái quát, với hai thành tố nội dung cơ bản: Đối tượng và đặc trưng của
đối tượng. Yêu cầu cơ bản của câu văn này là phải bao quát được luận đề
và xác định về đối tượng và nội dung nhận định.
Chẳng hạn, có thể viết câu luận đề tiếp nối theo hai chuỗi câu dẫn
nhập ở trên tạo thành hai phần mở bài hoàn chỉnh
Mở bài 1:
Nam Cao là một trong những đại biểu xuất sắc của văn học hiện
thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Ở giai đoạn văn học này
nhà văn tập trung vào hai đề tài chính: cuộc sống cùng quẫn, thê thảm
của người nông dân ở nông thôn và cuộc sống mòn mỏi, bế tắc của người
trí thức nghèo ở thành thị. Trong những truyện viết về người trí thức, có
thể nói “Đời thừa” là một thành công tiêu biểu. Nhân vật trung tâm của
truyện là nhà văn Hộ, một nhân vật ít nhiều mang bóng dáng của nhà văn
Nam Cao. Qua cuộc đời của nhà văn Hộ, Nam Cao đã làm nổi bật lên sự
sa sút, thui chột về tài năng và nhân cách của người trí thức trong hoàn
cảnh bần cùng, bế tắc.
Mở bài 2:
Kim Lân là một hiện tượng đặc biệt trong nền văn xuôi Việt Nam
hiện đại. Cả cuộc đời cầm bút, ông viết không nhiều. Nhưng khi đề cập
định rằng, vấn đề mà Nam Cao đặt ra trong “Chí Phèo” là “bi kịch của
con người bị từ chối quyền làm người” (Nguyễn Văn Trung: “xây dựng
tác phẩm tiểu thuyết”, Sài Gòn, 1965), … Vậy, vấn đề sâu xa mà Nam
Cao muốn đặt ra trong “Chí Phèo” là gì?
Trong phần mở bài, nêu luận đề một cách rõ ràng, xác định, nêu lấp
lửng hay không nêu, điều đó chủ yếu là do ý đồ trình bày của người viết
và mỗi cách có lợi thế riêng
II. Kết quả và việc phổ biến ứng dụng vào thực tiễn.
Qua thực tế giảng dạy, với phương pháp như trên học sinh đã có
một bước tiến bộ rõ rệt. Những học sinh trung bình có khả năng viết văn
tốt hơn, những học sinh yếu viết được phần mở bài mạch lạc, sáng sủa.
Kết quả cụ thể ba lớp dạy của học kỳ I như sau:
-Kết quả khảo sát đầu năm:
+ Lớp 11B9 : 35% trên TB
+ Lớp 11B10 : 43 % trên TB
+ Lớp 11B11: 30 % trên TB
-Kết quả học kỳ I:
+ Lớp 11B9 : 48% trên TB
+ Lớp 11B10 : 53 % trên TB
+ Lớp 11B11: 45 % trên TB
-Kết quả học kỳ II:
+ Lớp 11B9 : 51% trên TB
+ Lớp 11B10 : 56 % trên TB
+ Lớp 11B11: 49 % trên TB
C. Kết thúc vấn đề.