Chuyên đề 4: LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM - Pdf 19

Chuyên đề 4: LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CON
ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM

1. LÝ LUẬN HÌNH THÁI KT-XH VÀ VAI TRÒ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NÓ
1.1 Những tiền đề xuất phát để xây dựng lý luận hình thái KT-XH
- Các Mác đã xem XH là một thể thống nhất của những nhân tố VC và nhân tố YT tạo thành một hệ
thống tự phát triển. Theo Mác xã hội dưới bất cứ hình thức nào cũng là sản phẩm của sự tác động lẫn
nhau giữa người với người.
- Quan điểm DV về XH đã lấy tồn tại XH để giải thích những hiện tượng về YT XH.
- Quan niệm duy vật về XH đã xem xét XH là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên, vận động và
phát triển theo những quy luật KQ. Tính đặc thù của XH là có sự tham gia của con người có YT. Do đó,
hoạt động của con người không chỉ tuân theo quy luật tự nhiên mà còn tuân theo quy luật bản thân.
- Quan niệm duy vật về XH đã xác định chủ thể của tiến trình lịch sử là quần chúng nhân dân. Vì
vậy, phải xác định một lực lượng cụ thể nào đó trong xã hội là người quyết định lịch sử, phải xuất phát
từ một luận điểm DV cho rằng “sản xuất VC là cái quyết định sự tồn tại phát triển của xã hội. Lực luợng
đó là quần chúng nhân dân. Quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích căn bản bao gồm
những thành phần, tầng lớp liên kế với nhau thành một tập thể dưói sự lãnh đạo của một cá nhân hay
một tổ chứa nào đó để thực hiện những vấn đề về KT, chính trị, Xh trong mỗi giai đoạn lịch sử.
1.2 Cấu trúc XH - Phạm trù hình thái KT-XH
Quan điểm DV của CN Mác xem XH với tư cách là một hệ thống gồm 4 lĩnh vực sau
- Lĩnh vực kinh tế của đời sống XH tức là quan hệ SX, quan hệ kinh tế giữ vai trò là qhệ ban đầu, qhệ
cơ bản quyết định các qhệ khác.
- Lĩnh vực XH tức là qhệ gia đình, tầng lớp XH, giai cấp, dân tộc, trong đó qhệ giai cấp là quan trọng
nhất, đóng vai trò chi phối các qhệ khác trong XH.
- Lĩnh vực chính trị của đời sống XH tức là các tổ chức, các thiết chế quyền lực, hệ thống pháp luật
và tư tưởng chính trị.
- Lĩnh vực tinh thần của đời sống chính trị: đóng góp khoa học của Mác và Ănghen là xác định đúng
vị trí, vai trò của các yếu tố và chỉ ra chiều tác động qua lại giữa chúng; những mối liên hệ bản chất tất
yếu giữa chúng và do đó làm cho cả hệ thống xã hội vận động, biến đổi. Mỗi lĩnh vực trong đời sống
XH đều bị chi phối bởi những yếu tố khác nhau và được CNDV lịch sử triển khai, phân tích bằng hệ
thống những quy luật, những phạm trù sau:

nhân TLSX. Các nhà kinh tế TB đã có những điều chỉnh QHSX bằng cách điều chỉnh qhệ sở hữu (bán
cổ phần cho người lao động), qhệ quản lý (vai trò của người lao động được xác nhận), qhệ phân phối sản
phẩm (đời sống XH được nâng cao)
. TH2: QHSX tiên tiến một cách giả tạo, thường xảy ra ở các nước nghèo đang phát triển,
chẳng hạn như Việt Nam. LLSX quá thấp kém, QH sở hữu toàn dân, quan hệ phân phối bình quân, cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp… làm nền kinh tế chậm phát triển. Khắc phục bằng cách điều chỉnh như
giao ruộng đất cho nông dân, bán cổ phần cho người lao động, qhệ quản lý và qhệ phân phối cũng phải
điều chỉnh. Có như vậy nó mới là động lực cho nền sản xuất phát triển.
1.3.2 Biện chứng giữa CSHT và KTTT
- Vai trò của CSHT quyết định đối với KTTT thể hiện ở 2 điểm:
+ CSHT nào thì quyết định KTTT đó và QHSX nào thống trị sẽ tạo ra KTTT tương ứng. Mâu
thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tính chất đối kháng trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Mâu thuẫn
trong chính trị, tư tưởng phản ánh mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế. Ví dụ CSHT của XH VN được đặt
trên QHSX XHCN sẽ quyết định sinh ra hệ tư tưởng XHCN và các thiết chế, tổ chức XHCN. QHSX nào
thống trị tạo ra KTTT chính trị tương ứng.
+ Khi CSHT có sự thay đổi thì nó sẽ quyết định sự tay đổi của KTTT. Sự thay đổi diễn ra trong
2 trườn hợp
. Trong mỗi hình thái KT-XH.
. Từ hình thái KT-XH này sang hình thái KT-XH khác. Ví dụ từ PK sang TBCN, từ TBCN
sang XHCN thì CSHT thay đổi đặc trưng nởi QHSX thống trị.
- Vai trò của KTTT đối với CSHT: Triết học Mác đánh giá rất cao vai trò của KTTT đối với
CSHT thông qua chứng năng XH của nó là nó bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển CSHT dồng thời
tham gia đấu tranh xoá bỏ CSHT và KTTT cũ. Vì chức năng ấy nên nó tác động rất tích cực vào CSHT.
Trong đó Nhà nưóc là bộ phận quan trọng nhất của KTTT vì sức mạnh của Nhà Nước ngoài sức mạnh
bạo lực còn thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Tất cả mọi hoạt động của XH phải tuân thủ tính KQ.
1.4 Sự phát triển của các hình thái KT-XH là một quá trình lịch sử tự nhiên
Theo Mác, sự phát triển của các hình thái KT nối tiếp nhau trong lịch sử là một quá trình lịch sử tự
nhiên. Về mặt lý luận, điều gì làm cho XH thay thế nhau như là một quá trình lịch sử tự nhiên? Điều ấy
không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, không phải do Thượng đế mà do tác động nội tại
của các quy luật trong đời sống XH như quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX và

2. NHẬN THỨC VỀ CNXH
2.1 Dự báo của Các Mác và Lênin về CNXH
Học thuyết hình thái KT-XH không chỉ xác định các yếu tố cấu thành của một XH cụ thể mà còn
chỉ ra rằng XH ấy không ngừng vận động. Theo Mác “Tôi coi sự phát triển của các hình thái KT-XH là
một quá trình lịch sử tự nhiên”. Trên cơ sở đó, Mác và LêNin kết luận “Hình thái KT-XH TBCN nhất
định sẽ được thay thế bằng hình thái KT-XH CSCN và sự thay thế đó cũng là một quá trình lịch sử tự
nhiên”.
XH loài người đã trải qua tuần tự một số hình thái KTXH nhưng do đặc điểm lịch sử cụ thể, điều
kiện không gian, thời gian khác nhau cho nên không phải quốc gia nào cũng tuần tự trải qua các hình
thái KTXH. Thực tế lịch sử cho thấy một số quốc gia phát triển bỏ qua một hay hai hình thái KT-XH
như Canada, Úc.
Chính dựa vào tình hình cụ thể của lịch sử, Mác nêu ra lên tư tưởng về khả năng phát triển rút
ngắn và trong điều kiện lịch sử cụ thể Lê Nin nêu ra khả năng không phải trải qua giai đoạn phát triển
TBCN để tiến thẳng lên CNXH ở những quốc gia lạc hậu. Trong thời đại ngày nay, chủ trương phát
triển rút ngắn để đi lên CNXH ở một số quốc gia tiền TBCN như nước ta chẳng hạn thì chẳng những
không mâu thuẫn với tính lịch sử tự nhiên của nhân loại mà trái lại làm phong phú thêm quá trình lịch sử
của nhân loại . Tuy nhiên, chỉ khi nào chủ trương rút ngắn một cách duy ý chí, bất chấp quy luật thì khả
năng rút ngắn hoàn toàn đối lập với quá trình lịch sử tự nhiên.
Thực chất của sự quá độ lên CNXH không qua CNTB ở VN là không qua những cuộc CM mà giai
cấp TS đã thực hiện trong suốt quá trình tạo lập phương thức SX TBCN. Tiêu biểu là 3 cuộc CM:
- CM KT TK 18: bản chất của cuộc CM này là chuyển công cụ lao động từ thủ công lên cơ khí,
thực hiện xã hội hóa lao động, phân công lao động và đặc biệt là tạo lập nền SX lớn. VN không đi qua
cuộc CM này nên gặp một số khó khăn.
- CM tư duy ý thức: chuyển tư duy XH từ trình dộ kinh nghiệm lên trình độ lý luận, hình thành tư
duy lý luận khoa học và khẳng định vai trò của tư duy lý luận trong SX, trong quản lý và trong hoạt
động thực tiễn. Nhận thức kinh nghiệm chỉ đến hiểu biết rời rạc, riêng lẻ, bề ngoài về đối tượng. Vì vậy
nhược điểm của nhận thức kinh nghiệm là không chứng minh được tính tất yếu của SV HT.
- CM về dân chủ: hình thành ý thức về kỷ luật, pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của công dân. Đây
cũng là hạn chế của chúng ta, chưa làm quen với khái niệm về dân chủ, về pháp luật…
Việt Nam không đi qua ba cuộc cách mạng này nên đã gặp những khó khăn. Thực chất là VN

thuộc về nhân dân. Bên cạnh đó Nhà nước phải thiết lập nền dân chủ XHCN, quyền lực của nhân dân
phải được khẳng định và thực hiện bằng pháp luật mang tính công khai, bình đẳng, dân chủ và tiến bộ.
- Về LLSX:
+ Xây dựng CNXH ở VN phải thực hiện những biến đổi mang tính cách mạng trên cả ba phương
diện là LLSX, QHSX và KTTT. Trong đó phải coi việc phát triển LLSX là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu
tạo tiền đề kinh tế vững chắc cho sự ra đời của phương thức SX XHCN. Sự phát triển LLSX trong điều
kiện CM KH & công nghiệp phát triển mạnh mẽ như ngày nay đòi hỏi chúng ta phài có quan điểm mới
về công ngiệp hóa. Không phải ưu tiên xây dựng cơ sở vật chất với những ngành công nghiệp truyền
thống theo kiểu công nghiệp hóa cổ điển trước đây mà phải dựa vào những ngành công nghiệp thích
hợp, xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống thông tin, tạo tiềm năng nhanh chóng
ứng dụng công nghệ mới.
+ Phải giải phóng và khai thác nhanh chóng mọi năng lực của LLSX, phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần nhằm tạo ra nguồn sản phẩm & nguồn tích lũy, phải coi đó là nhiệm vụ hàng đầu hiện
nay. Ở đây nói về vai trò của con người (người lao động)
- Về quan hệ SX: để phù hợp với sự phát triển của LLSX, chúng ta phải thiết lập từng bước quan hệ
SX XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu và chế độ công hữu phải là kết quả hợp
quy luật của quá trình XH hóa thực sự chứ không thể tạo ra bằng biện pháp hành chính, cưỡng ép:
+ Quan hệ sở hữu: cần phân biệt hai khía cạnh của sở hữu là khía cạnh pháp lý phản ánh nội dung
kinh tế của sở hữu nhưng khía cạnh pháp lý của sở hữu thì tương đối ổn định. Còn khía cạnh thực hiện
quyền sở hữu (nội dung kinh tế của sở hữu) thì thường xuyên biến đổi là do sự phát triển của LLSX.
Nếu hình thức thực hiện quyền sở hữu không thay đổi cho phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì
quyền sở hữu của người lao động bị vi phạm và làm cho nền SX XH bị đình trệ.
+ Quan hệ quản lý: trong QHSX thì quan hệ tổ chức là quan hệ rất nhạy cảm nên cần phải nhấn
mạnh khía cạnh chuyên môn hóa như quan hệ phân công, quan hệ quản lý. Nên việc chuyển từ quản lý
bằng hiện vật sang quản lý bằng hàng hóa tiền tệ là ta đang trở về đúng với quá trình phát triển tự nhiên
của nền kinh tế.
+ Quan hệ phân phối: phải thực hiện nhiều hình thức phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế là chủ yếu.
- Phải tiến hành cuộc cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, phải phát huy nhân tố
con người. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực để xây dựng một XH văn minh, giải phóng cá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status