1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát tri
ển bền vững
không ch
ỉ đơn thuần là quá trình phát triển kinh tế, là sự gia
tăng v
ề quy mô sản lượng mà còn là phát triển mang tính bền vững, đảm bảo sự tiến
b
ộ về cơ cấu kinh tế, xã hội và sự cân bằng của môi trường sinh thái.
Hi
ện nay, phát triển bền vững là một tro
ng nh
ững nhiệm vụ quan trọng nhất của
các qu
ốc gia tr
ên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đ
ể có thể giám sát t
ình hình phát
tri
ển của đất n
ước
, Vi
ệt nam đ
ã xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền
v
ững
v
ới những mục ti
ợp đánh giá phát triển bền vững để có cái nhìn tổng quát về vấn đề này. Mặc dù vậy,
cho đ
ến nay vẫn chưa có hệ thống đánh giá nào được đề xuất cụ thể và áp dụng trên
th
ực tiễn. Từ đó, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu
"Nghiên c
ứu thống kê phát
tri
ển
b
ền vững ở Việt Nam"
, đ
ề
xu
ất
phương pháp tính ch
ỉ số tổng hợp phát triển bền vững
rõ ràng, c
ụ thể và khả thi.
T
ừ đó, tác giả sử dụng dữ liệu sẵn có của Việt Nam giai
đo
ạn 2001
– 2010 đ
ể tính toán thử nghiệm.
Đ
ề tài này sẽ góp
ph
ần trả lời cho câu hỏi
qu
- Tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp phát triển bền vững ở Việt Nam giai
đoạn 2001 – 2010
2
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển bền vững.
Phạm vi nghiên cứu:
+ Luận án tổng hợp số liệu, tính toán và phân tích chỉ số tổng hợp phát triển bền
vững trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam
+ Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 10 năm, từ 2001 đến 2010, phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm của Việt nam.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án dự kiến sẽ sử dụng một số phương pháp
thống kê sau:
- Phương pháp phân tích tư liệu. Đây là một trong các phương pháp thu thập
thông tin trong điều tra xã hội học. Dựa trên các tài liệu đ
ã có v
ề phát triển bền vững
cũng như cách tính các chỉ số tổng hợp, tác giả đưa ra cái nhìn tổng quát về đối tượng
nghiên cứu, làm cơ sở thực hiện các đánh giá sau này.
- Phương pháp bảng, đồ thị thống kê: tổng hợp và biểu diễn số liệu các chỉ tiêu
thống kê phát triển bền vững theo thời gian.
4. Những đóng góp mới của luận án
Thông qua nghiên c
ứu của mình, tác giả đã có một số đóng góp tri thức mới về
m
ặt lý luận và thực
ti
ễn
ho
ạt động thống kê. Cụ thể
:
ển của Việt Nam
giai đo
ạn 2001
– 2010. Tác gi
ả
s
ử dụng số liệu thực tế
c
ủa Việt Nam và công thức tính chỉ số tổng hợp vừa nêu để đi vào tính toán thử
nghi
ệm, phân tích thực trạng phát triển bền vững của Việt N
am trong 10 năm qua.
K
ết quả nghiên cứu sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra phương pháp
t
ổng hợp, đánh giá và so sánh tính bền vững trong quá trình phát triển của đất nước.
Ngoài ra, đ
ề tài cũng mở ra hướng nghiên cứu tiếp về việc hoàn thiện hơn nữ
a h
ệ
th
ống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững đã có cũng như lựa chọn phương pháp
đánh giá c
ụ thể trong giai đoạn phát triển mười năm tới.
3
5. Kết cấu của luận án
Sau phần mở đầu, đề cập đến sự cần thiết, mục tiêu, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu, đề tài giới thiệu tổng quan nghiên cứu. Phần nội dung chính được chia làm
3 phần:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về phát triển bền vững
ẩm
Chi
ến lược bảo tồn Thế giới
(công b
ố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nh
iên và Tài
nguyên Thiên nhiên Qu
ốc tế
- IUCN) v
ới nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của
nhân lo
ại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những
nhu c
ầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
[40, tr.18-19].
Khái ni
ệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ
Báo cáo Brundtland
(còn g
ọi là báo cáo Tương lai chung của chúng ta) của Ủy ban M
ôi trư
ờng và Phát
tri
ển Thế giới
(WCED) thu
ộc Liên hiệp quốc. Báo cáo này ghi rõ
"phát tri
ển bền vững
4
là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn
các th
ế hệ mai sau và sự phát triển của loài người không đe doạ sự sống còn hay làm
suy giảm nơi sinh sống của các sinh vật khác trên hành tinh.
1.2.Sự cần thiết phải thực hiện phát triển bền vững
Mọi người trên trái đất này luôn mong muốn hoàn thiện hơn cuộc sống của
mình
đ
ể tạo nên những phát triển thần kỳ chưa từng có. Nhưng trái đất của chúng ta
với các điều kiện tự nhiên lại không thể đáp ứng được những mong muốn vô hạn ấy
của con người. Các nguồn tài nguyên chỉ là hữu hạn nên có thể cạn kiện dần, điều kiện
thiên nhiên có thể khắc nghiệt hơn Điều này tạo nên mâu thuẫn gay gắt, đ
òi h
ỏi vừa
phải phát triển, vừa phải duy trì sự hài hoà giữa con người với môi trường sống của
mình. Do vậy, thực hiện phát triển bền vững được coi như là nhiệm vụ cấp bách hàng
đầu của mỗi quốc gia. Các tổ chức và các quốc gia tuỳ theo những mục tiêu khác nhau
mà đưa ra sự cần thiết phải phát triển bền vững và các nội dung khác nhau về phát
triển bền vững.
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển bền vững đ
ã đư
ợc thể hiện rõ ràng, chi tiết trong
các Văn kiện chính trị, đặc biệt, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản toàn quốc
lần thứ IX đ
ã nêu rõ Chi
ến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010: “Phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ,
công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”; “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo
vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi
trường thiên nhiên, giữ gìn
đa d
c
ận phát triển bền vững theo bản chất của nó là sự phát triển có tính tổng hợp và tính
h
ệ thống. Theo mối quan hệ không tách rời nhau giữa ba nhân tố kinh tế, xã hội và môi
trư
ờng, Jacobs và Sadler đưa ra n
ội dung của phát triển bền vững l
à ba đỉnh của một
tam giác: môi trư
ờng, kinh tế và xã hội; trong đó, môi trường được đặt lên hàng đầu và
nhân t
ố thể chế được gộp trong xã hội. Mô hình này đã được Mohan Munasingle,
chuyên gia c
ủa Ngân hàng thế giới (WB) ph
át tri
ển thành sơ đồ ba cực.
Quan điểm này hiện nay được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới. Đó là sự kết
hợp của ba nhân tố với sức mạnh tổng hợp để tạo nên được sự ổn định, bền vững của
mỗi quốc gia.
1.3.2. Việt Nam
Năm 2004, Vi
ệt Nam đ
ã xây dựng được
cho mình ch
ương tr
ình phát triển bền
v
ững riêng, mang tên AGENDA
-21. Trong đó, Vi
ệt Nam nêu rõ mục tiêu tổng quát
ặt, các tính chất quan trọng nhất của tổng thể và về mối liên hệ cơ bản giữa các
m
ặt trong tổng thể cũng như giữa tổng thể nghiên cứu và hiện tượng có liên quan
(trong ph
ạm vi mục đích nghiên cứu).
Để có được hệ thống chỉ tiêu thống kê phù hợp, có thể sử dụng để đánh giá t
ình
hình phát triển thực tế, hệ thống chỉ tiêu cần đáp ứng bốn yêu cầu: mục đích nghiên
cứu, đặc điểm phản ánh, tính khả thi và số lượng chỉ tiêu.
Dựa vào các yêu cầu này, luận án sẽ đánh giá tính hợp lý, khả thi của hệ thống
chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững áp dụng vào Việt Nam sau này.
1.4.2. Các nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững trên thế
giới
Bắt đầu vào năm 1995, đáp ứng yêu cầu của Hội đồng phát triển bền vững của
Liên hợp quốc (UN CSD), Ủy ban kinh tế và các vấn đề xã hội Liên hợp quốc hợp tác
với các chuyên gia từ các tổ chức quốc tế và các thành viên khác đ
ã xây d
ựng hệ thống
chỉ tiêu thống kê gồm 134 chỉ tiêu quốc gia về phát triển bền vững.
Năm 2001, UN CSD đ
ã đưa ra h
ệ thống chỉ tiêu khuyến nghị gồm 15 chủ đề
chính, 38 chủ đề nhánh và 58 chỉ tiêu. Hệ thống chỉ tiêu này được sửa đổi một lần nữa
vào năm 2006, là cơ sở để các quốc gia xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững
cho riêng mình.
Các tổ chức khác của Liên hợp quốc c
ũng
như các tổ chức xã hội và phi chính
phủ c
ũng nghiên c
Cơ quan
ch
ịu trách nhiệm
thu th
ập, tổng hợp
L
ộ
trình
I
Các ch
ỉ tiêu tổng hợp
1
GDP xanh (VND ho
ặc
USD)
B
ộ Kế hoạch và Đầu tư
(T
ổng cục Thống kê)
2015
2
Ch
ỉ số phát triển con người (HDI)
(0-1)
B
ộ Kế hoạch và Đầu tư
(T
ổng cục Thống kê)
2015
3
B
ộ Kế hoạch và Đầu tư
(T
ổng cục Thống kê)
2011
6
T
ỷ trọng đóng góp của
năng su
ất các nhân
t
ố tổng hợp vào tốc độ tăng trưởng chung
(%)
B
ộ Kế hoạch và Đầu tư
(T
ổng cục Thống kê)
2015
7
M
ức giảm tiêu hao năng lượng để sản xuất
ra m
ột đ
ơn vị GDP (%)
B
ộ Kế hoạch và Đầu tư
(T
ổng cục Thống k
ê)
2015
ổng cục Thống kê)
2011
10
Cán cân vãng lai (t
ỷ USD)
Ngân hàng Nhà nư
ớc
2011
11
B
ội chi ngân sách Nhà nước
(%/GDP)
B
ộ Tài chính
2011
12
N
ợ của Chính phủ
(%/GDP)
B
ộ Tài chính
2011
13
N
ợ nước ngoài
(%/GDP)
Ch
ủ tr
ì: Bộ Tài chính
2011
tư
(T
ổng cục Thống kê)
2011
17
H
ệ số bất bình đẳng trong phân phối thu
nh
ập (hệ số Gini)
(l
ần)
B
ộ Kế hoạch và Đầu tư
(T
ổng cục Thống kê)
2011
18
T
ỷ số giới tính khi sinh
(trai/100 gái)
B
ộ Y tế
2011
19
S
ố sinh viên/10.000 dân
(SV)
B
ộ Giáo dục
và Đào t
ảo hiểm xã hội
Vi
ệt Nam
2011
22
S
ố người chết do tai nạn giao thông
(ngư
ời/100.000 dân/năm)
B
ộ Công an
2011
23
T
ỷ lệ số xã được công nhận đạt tiêu chí
nông thôn m
ới (%)
B
ộ Nông nghiệp và Phát
tri
ển nông thôn
2015
IV
Các ch
ỉ tiêu về tài nguyên và môi trường
24
T
ỷ lệ che phủ rừng (%)
B
ộ Nông nghiệp và Phát
B
ộ Tài nguyên
và Môi trư
ờng
2011
28
T
ỷ lệ ngày có nồng độ các chất độc hại
không khí vư
ợt quá tiêu chuẩn cho phép (%)
B
ộ Tài nguyên
và Môi trư
ờng
2011
29
T
ỷ lệ các
đô th
ị, khu công nghiệp, khu chế
xu
ất, cụm công nghiệp xử lý chất thải rắn,
nư
ớc thải đạt tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ
thu
ật quốc gia tương ứng (%)
- Ch
ủ trì: Bộ Xây dựng
2011
- Ph
kết hợp chặt chẽ, là mối quan hệ qua lại giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội
và các yếu tố của môi trường một cách hài hoà, ổn định, linh hoạt. Đây là yêu c
ầu cấp
thi
ết của mỗi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
N
ội dung của phát triển bền vững tập trung vào ba lĩnh vực chính, đó là kinh tế,
xã h
ội và môi trường, không thiên lệc
h b
ất kỳ lĩnh vực nào. Những nội dung này là cơ
s
ở cho việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững trên thế giới cũng
như
ở Việt Nam. Từ đó, chương 1 giới thiệu một số hệ thống chỉ tiêu thống kê phát
tri
ển bền vững đã có và đi sâu phân tíc
h h
ệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững
của Việt Nam hiện nay. Đây là hệ thống chỉ tiêu mới nhất do Chính phủ ban hành, có
s
ự có mặt của một số chỉ ti
êu mang tính tổng hợp, đánh giá nhiều lĩnh vực.
Ph
ần cuối của ch
ương phân tích những điểm giống và khác nhau giữa hệ thống
ch
ỉ ti
êu thống kê phát triển bền vững ở Việt Nam và hệ thống chỉ tiêu phát
triển bền
Có nhiều phương pháp khác nhau được đưa ra để tính toán chỉ số tổng hợp này.
Cụ thể:
11
Thứ nhất, để tính chỉ số phát triển con người (HDI), UNDP đã tính theo công
thức bình quân nhân giản đơn của 3 chỉ số thành phần:
HDI = I
/
I
/
I
/
Trong công thức tính chỉ số tổng hợp, các chỉ số thành phần lại được tính dựa
trên lý thuyết chuẩn hóa dữ liệu min-max. Để tính toán và phân tích đơn giản nhất, tổ
chức thống kê Liên hợp quốc đ
ã hư
ớng dẫn cách tính các chỉ số thành phần sao cho
các chỉ số này sẽ nhận giá trị trong khoảng [0,1].
Ngoài ra, báo cáo phát triển con người năm 1991 của UNDP c
ũng gi
ới thiệu
một chỉ số khác, đó là chỉ số về quyền tự do của con người. Nghiên cứu thực hiện tính
toán chỉ số bằng phương pháp rất đơn giản: cho điểm 1 đối với những chỉ tiêu đảm bảo
quyền tự do, và điểm 0 với những chỉ tiêu vi phạm quyền tự do con người. Sau đó,
điểm tổng hợp của 40 chỉ tiêu sẽ là căn cứ để xếp hạng các quốc gia về việc đảm bảo
quyền tự do của con người.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của của Đại học Yale – Hoa Kỳ kết hợp với Đại học
Columbia và diễn đàn kinh tế thế giới đ
ã đưa ra công th
ức tính Environmental
Performance Index (EPI) 2008 và Environmental Sustainability Index (ESI) 2005 [39].
Công thức 2.2:
I =
ln(giá trị thực tế) − ln(giá trị tối thiểu)
ln(giá trị tối đa) − ln(giá trị tối thiểu)
Thứ hai, đối với các chỉ tiêu nghịch: giá trị của chỉ tiêu càng lớn, tính bền vững
của chỉ tiêu càng thấp và ngược lại. Đề tài sẽ điều chỉnh theo chiều hướng thuận: khi
chỉ số tăng, giá trị gần 1, phát triển của đất nước bền vững hơn. Khi đó, công thức tính
sẽ có dạng ngược.
Công thức 2.3:
I = 1 −
Giá trị thực tế − Giá trị tối thiểu
Giá trị tối đa − Giá trị tối thiểu
Công thức 2.4:
I = 1 −
ln(giá trị thực tế) − ln(giá trị tối thiểu)
ln(giá trị tối đa) − ln(giá trị tối thiểu)
Thứ ba, đối với các chỉ tiêu hướng tâm: giá trị của chỉ tiêu càng gần một giá trị
trung tâm nào đó, quá tr
ình phát tri
ển sẽ càng bền vững. Công thức tính 2.5 và 2.6 có
dạng:
I =
Giá trị thựctế − Giá trị trungtâm
Giá trị tốiđa−Giá trị trungtâm
Và:
I =
|
ln
(
giá trịthựctế
được giới hạn nhỏ nhất của các chỉ tiêu, giá trị tối thiểu sẽ sử dụng giá trị đó. Các
trường hợp còn lại có thể lựa chọn giá trị xu hướng làm giá trị tối thiểu cho chỉ tiêu.
Thứ hai, nhóm chỉ tiêu hướng tâm.
- Giá trị trung tâm: Với những chỉ tiêu có thông tin về giá trị tối ưu, lựa chọn
giá trị trung tâm chính là giá trị tối ưu. Với những chỉ tiêu còn lại, căn cứ vào đặc điểm
từng chỉ tiêu để có lựa chọn phù hợp.
- Giá trị tối đa: là giá trị trong dãy số thời gian có chênh lệch lớn nhất (có thể
chênh lệch âm hoặc hoặc chênh lệch dương) với giá trị trung tâm.
2.2.2. Phương pháp tính các chỉ số thành phần
2.2.2.1.Bình quân cộng hay bình quân nhân?
Bình quân cộng và bình quân nhân
đ
ều mang đặc điểm của số bình quân nói
chung. Tuy nhiên, công thức bình quân nhân coi trọng sự đồng đều hơn b
ình quân
cộng. Một chỉ số đạt giá trị lớn không thể kéo theo chỉ số chung tăng lên nhanh chóng
nếu tính theo công thức bình quân nhân. Chính vì vậy, để có thể phản ánh chính xác
thực tế, chỉ số tổng hợp tính ra có ý ngh
ĩa trong các trư
ờng hợp số liệu khác nhau,
công thức bình quân nhân là lựa chọn tốt hơn cả.
2.2.2.2. Bình quân nhân giản đơn hay b
ình quân nhân gia quy
ền?
Đề tài đưa ra cách tính theo cả hai phương pháp b
ình quân nhân gi
ản đơn và gia
quyền. Số liệu thực tế sẽ quyết định phương pháp nào phù hợp hơn trong điều kiện
Việt Nam hiện nay.
Vấn đề quan trọng trong xác lập công thức bình quân nhân gia quyền chính là
ếu số lượng chỉ tiêu trong mỗi nhóm
không đ
ủ để đại diện cho nhóm chỉ tiêu đó,
ch
ỉ số thành phần tính ra sẽ không phản
ánh chính xác th
ực tế phát triển. Khi đó, cần tính chỉ số tổng hợp phát t
ri
ển bền vững
tr
ực tiếp từ các chỉ số ri
êng biệt, trong đó coi vai trò của từng chỉ tiêu đóng góp là
như
nhau. Công th
ức
t
ổng quát:
n
n
1i
i
II
Theo các công th
ức n
êu trên, chỉ số tổng hợp phát triển bền vững luôn nhận giá
tr
ị trong khoảng 0
thiểu phù hợp. Từ các chỉ số riêng biệt, tác giả phân tích và lựa chọn các công thức
tính chỉ số thành phần khác nhau trên cơ sở tính bình quân: bình quân cộng hay bình
quân nhân, bình quân nhân giản đơn hay b
ình quân nhân gia quy
ền. Sau đó, tác giả đi
vào giải quyết vấn đề xác định quyền số trong công thức gia quyền.
Nội dung cuối cùng của chương 2 là xây dựng công thức tính chỉ số tổng hợp
phát triển bền vững. Tác giả đưa ra hai công thức tính: tính bình quân trực tiếp từ chỉ
số riêng biệt trong trường hợp thiếu số liệu và tính bình quân gián tiếp từ các chỉ số
thành phần khi số liệu thu thập được tương đối đầy đủ.
Sau khi xây dựng được các công thức tính, vấn đề đặt ra là: Các công thức, cách
tính đ
ã nêu
có thực sự khác biệt trong đánh giá phát triển bền vững hay không? Nên
lựa chọn cách tính nào để sử dụng thực tế? Điều này không thể chỉ sử dụng lý luận
mà cần phải có luận cứ thực tế để chứng minh. Số liệu thực tế phát triển của Việt Nam
giai đoạn 2001 – 2010 sẽ được áp dụng vào phần lý thuyết nêu trên để tính toán thử
nghiệm, lựa chọn công thức tính phù hợp và chứng minh tính khả thi của nghiên cứu.
CHƯƠNG 3. TÍNH TOÁN THỬ NGHIỆM VÀ PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG
CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 – 2010
3.1. Tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp phát triển bền vững ở Việt Nam giai
đoạn 2001 – 2010
3.1.1. Điều kiện số liệu các chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ở Việt Nam hiện
nay
Hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững được lựa chọn để tính chỉ số
tổng hợp phát triển bền vững là hệ thống chỉ tiêu sử dụng cho kế hoạch phát triển giai
đoạn 2011 - 2020. Chính vì vậy, khi sử dụng để tính toán thử nghiệm cho giai đoạn
2000 - 2010, số liệu thực tế không đáp ứng đủ. Rất nhiều chỉ tiêu chưa được thống kê
đầy đủ. Thực tế chỉ có 16 chỉ tiêu có số liệu để có thể tính toán thử nghiệm.
16
0.295
0.344
0.370
0.434
0.494
(2)
0.414
0.453
0.476
0.522
0.568
(3)
0.415
0.459
0.483
0.530
0.569
Năm
Cách tính
2006
2007
2008
2009
2010
(1)
0.492
0.403
0.316
0.284
0.420
3.2. Phân tích xu thế phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
3.2.1. Lựa chọn phương pháp phân tích
Sử dụng phương pháp bảng và đồ thị thống kê, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng
quát bằng trực giác về xu hướng phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 10 năm
vừa qua.
3.2.2. Xu hướng phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
Lựa chọn cách tính chỉ số phát triển bền vững dựa vào các chỉ số riêng biệt, sử
dụng số bình quân nhân giản đơn. Kết quả tính toán được biểu diễn bằng đồ thị 3.1.
Thực tế phát triển của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 không thực sự ổn định
và bền vững. Thời gian đầu của thập kỷ này (từ 2001 đến 2005), xu hướng phát triển
khá tốt. Chỉ số phát triển bền vững tăng dần theo thời gian, nếu như năm 2001 phát
triển bền vững chỉ ở mức yếu là 0.280 thì tới năm 2006 đ
ã bư
ớc lên mức trung bình,
đạt giá trị 0.470. Từ năm 2006, phát triển bền vững bắt đầu giảm nhẹ và từ 2007, phát
triển bền vững giảm mạnh cho tới năm 2009. Chỉ số phát triển bền vững năm 2009 chỉ
nằm trong khoảng phát triển hơi bền vững hay tính bền vững là yếu, thậm chí kém hơn
năm 2001 với giá trị 0.270. Tuy nhiên, Việt Nam đ
ã có s
ự bứt phá mạnh trong năm
2010 với chỉ số phát triển bền vững đạt tới 0.400. Tuy chưa đạt được mức phát triển
18
bền vững của những năm giữa thập niên này nhưng nhìn chung, tới năm 2010, Việt
Nam đ
ã có xu hư
ớng phục hồi lại đà phát triển của mình.
Đồ thị 3.1. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam
giai đoạn 2001 - 2010
Trong các nhân tố đóng góp vào phát triển bền vững, nhóm nhân tố nào có biến
động mạnh, ảnh hưởng tới biến động chung? Câu hỏi này được trả lời qua các đồ thị 3.2.
0.000
0.100
0.200
0.300
0.400
0.500
0.600
0.700
0.800
0.900
1.000
ICOR NSLĐ XH Tỷ trọng
TFP
CPI Cán cân
vãng lai
Bội chi
NSNN
Nợ nước
ngoài
2008
2009
20
3.3.Đánh giá chung về chỉ số phát triển bền vững và một số kiến nghị
3.3.1. Đánh giá chung về chỉ số phát triển bền vững
Từ kết quả tính toán thử nghiệm chỉ số phát triển bền vững ở Việt Nam giai
đoạn 2001 – 2010, tác giả sẽ trở lại đánh giá sự phù hợp của hệ thống chỉ tiêu thống kê
phát triển bền vững c
ũng như các công th
ức tính đ
ã đ
tiêu thống kê phát triển bền vững để có được hệ thống chỉ tiêu đánh giá tốt nhất quá
trình phát triển ở Việt Nam. Tổng cục Thống kê c
ũng c
ần nghiên cứu để đưa ra
phương pháp tính cụ thể, thống nhất chỉ số tổng hợp phát triển bền vững, giúp Hội
đồng phát triển bền vững quốc gia trong đánh giá, phân tích thực trạng phát triển của
đất nước.
21
- Đối với các Bộ và cơ quan ngang Bộ có liên quan: Phối hợp với các cơ quan
có liên quan, thống nhất phương pháp luận tính một số chỉ tiêu mới. Nắm rõ và báo
cáo theo định kỳ các số liệu thống kê được yêu cầu, phục vụ tổng hợp, xử lý và phân
tích dữ liệu kịp thời.
3.3.2.2. Giải pháp
- Về mô hình báo cáo thống kê theo các cấp:
Sơ đồ 3.1. Mô hình báo cáo thống kê theo các cấp
- Về chế độ báo cáo thống kê:
Phát triển bền vững c
ũng là m
ột vấn đề v
ĩ mô và c
ần được tích luỹ về lượng
trong một thời gian dài. Chính vì vậy, số liệu của các chỉ tiêu thống kê phát triển bền
vững c
ũng
cần được các cơ quan có trách nhiệm tổng hợp theo định kỳ hàng năm.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Nội dung chính của chương 3 là việc thu thập số liệu của các chỉ tiêu trong hệ
thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững, từ đó áp dụng quy trình tính toán
đã nêu
ở
gia
Chính
phủ
22
Với các phân tích đã có, tác giả chọn công thức tính phù hợp nhất với điều kiện
số liệu giai đoạn 2001 – 2010. Tuy chỉ mang tính tương đối do số lượng chỉ tiêu có số
liệu còn hạn chế, nguồn số liệu chưa thống nhất, chỉ số tổng hợp phát triển bền vững
đ
ã ph
ản ánh phần nào quá trình phát triển ở Việt Nam trong giai đoạn 10 năm, từ 2001
đến 2010. Điều đó chứng minh tính khả thi trong nghiên cứu của luận án.
Qua tính toán và phân tích bằng đồ thị, chỉ số tổng hợp phát triển bền vững cho
thấy kết quả phát triển của Việt Nam chưa thực sự ổn định và bền vững như mong
muốn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2010. Kinh tế phát
triển không ổn định do chịu ảnh hưởng bối cảnh chung của thế giới, c
ũng nh
ư c
ủa các
chính sách liên quan. Đời sống người dân tuy đ
ã
đư
ợc cải thiện nhưng vẫn còn khá
thấp, chỉ ở mức trung bình.
Trong phần cuối của chương, tác giả quay trở lại đánh giá hệ thống chỉ tiêu
c
ũng như các công th
ức đ
ã đ
ề xuất dựa trên kết quả tính toán và phân tích chỉ số tổng
hợp phát triển bền vững giai đoạn 2001 – 2010 ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra một
số tổng hợp phát triển bền vững. Đây là nội dung trọng tâm của luận án. Kết quả của
quá trình này sẽ cho thấy cái nhìn tổng quát về quá trình phát triển của Việt nam theo
thời gian nghiên cứu.
- Thu thập số liệu các chỉ tiêu giai đoạn 2001 – 2010 để tính toán thử nghiệm
chỉ số phát triển bền vững đề xuất. Việc tính toán này chứng minh tính khả thi trong
nghiên cứu của luận án. Bên cạnh đó, tác giả thực hiện phân tích thực trạng phát triển
bền vững của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 dựa trên kết quả tính toán được.
- Trình bày một số kiến nghị và giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác thống kê
phát triển bền vững ở Việt Nam, tạo điều kiện số liệu tốt nhất, góp phần đánh giá tính
bền vững trong quá trình phát triển đất nước một cách chính xác.
Luận án đề xuất phương pháp luận cơ bản tính chỉ số tổng hợp phát triển bền
vững cho Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển. Trong đó, việc xác định các giá trị
giới hạn c
ũng như quy
ền số của từng chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu cần được tiếp tục
đi sâu nghiên cứu. Ngoài ra, trên cơ sở phương pháp luận đ
ã nêu và h
ệ thống chỉ tiêu
phát triển bền vững địa phương, có thể tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững
cho các vùng, địa phương. Từ đó, tạo điều kiện so sánh và đánh giá tr
ình
đ
ộ phát triển
của mỗi tỉnh thành trong cả nước, rút ra các yếu tố cần khắc phục để đưa đất nước phát
triển ngày càng bền vững hơn.