Nghiên cứu thống kê kết quả hoạt động du lịch ở Việt Nam - Pdf 16

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của xã hội, du lịch ngày càng trở thành một hiện
tượng kinh tế xã hội phổ biến, là nhu cầu không thể thiếu của nhiều nước trên
thế giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển. Khi xã hội phát triển
đời sống vật chất tăng lên thì nhu cầu du lịch cũng tăng lên. Du lịch được coi là
một trong những tiêu chí đánh giá mức sống của dân cư mỗi nước. Du lịch là
chiếc cầu nối của tình hữu nghị, tạo sự đoàn kết cảm thông giữa các dân tộc,
tạo nên thế giới hoà bình tôn trọng lẫn nhau. Ở nước ta có tiềm năng du lịch dồi
dào phong phú và đa dạng đã thu hút nhiều khách đến thăm con người và đất
nước Việt Nam. Nhận thức được thế mạnh và vị trí của du lịch trong giai đoạn
hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang dành cho du lịch một vị trí xứng
đáng, coi phát triển du lịch là một định hướng chiến lược quan trọng trong
đường lối phát triển kinh tế xã hội nhắm góp phần CNH- HĐH đất nước.
Nghị quyết Trung ương IX xem “hoạt động du lịch là một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn”. Ngày 22/7/2002.Thủ tướng chính phủ đã ký quyết
định số 97/2002/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam
2001-2010 với mục tiêu “phát triển du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn
trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền
thống văn hoá lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự
hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện CNH- HĐH đất nước, từng bước
đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ khu vực, phấn đấu năm
2010 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát
triển”. Khi hoạt động du lịch phát triển sẽ kéo theo sự tăng trưởng của các
ngành kinh tế khác như vận tải, khách sạn, nhà hàng, bưu điện, các dịch vụ du
lịch khác...
Trong những năm qua, được Đảng và Nhà nước quan tâm, các ngành các
cấp phối hợp, giúp đỡ hoạt động du lịch Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, đạt
được nhiều kết quả tiến bộ. Về số lượng khách, doanh thu du lịch, thu nhập xã
hội về du lịch, giá trị sản xuất... thực tế cho thấy, từ năm 1991 đến năm 2002
lượng khách du lịch quốc tế tăng từ 300 nghìn lượt lên 2,63 triệu lượt người,

Chương III: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích và dự
đoán kết quả hoạt động du lịch ở Việt Nam thời kỳ 1995-
2002.
Trong phạm vi bài viết này đã trình bày được một số nội dung chủ yếu
phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tuy nhiên còn một số vấn đề tôi chưa có
điều kiện nghiên cứu sâu hơn.Vì vậy bài viết sẽ không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được ý kiến phê bình, đóng góp, bổ sung của
các thầy cô, bạn đọc cho bài viết để bài viết có thể hoàn thiện hơn.
Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thầy giáo - Th.s Nguyễn
Hữu Chí, PGS.TS Phan Công Nghĩa - giảng viên Khoa Thống kê - Trường
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
ĐHKTQD đã trực tiếp hướng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa, cùng các cô các
chú ở Vụ Kế hoạch và Đầu tư thuộc Tổng cục Du lịch Việt Nam đã giúp đỡ em
hoàn thành tốt bài viết này.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT QUẢ
HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
I. KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH VÀ NGÀNH DU LỊCH
1. Khái niệm và phân loại về du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến
không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển. Trong
đó có Việt Nam. Hoạt động du lịch liên quan trực tiếp đến cuộc sống con
người, nó đáp ứng được các nhu cầu của cong người, của xã hội. Tuy nhiên,
cho đến nay nhận thức về du lịch vẫn chưa thống nhất. Hiện nay, có rất nhiều
tác giả nghiên cứu về du lịch do đó có rất nhiều khái niệm về du lịch, trong các
khái niệm này có những điểm khác biệt do các cách tiếp cận khác nhau. Tuy
nhiên, nhìn chung có một số cách tiếp cận phổ biến nhất về du lịch như sau:
*Một là, coi du lịch là một hiện tượng xã hội.Với cách tiếp cận này, du lịch
được hiểu là:
Theo Ausher: du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân.

thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật, …
Nghĩa thứ hai: “du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao
về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hoá
dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước
ngoài là tình hữu nghị đối với dân tộc mình, về mặt kinh tế du lịch có thể coi là
hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ”.
Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu thống kê, du lịch cần được hiểu theo
nghĩa đầy đủ nhất nhằm phục vụ cho quá trình thống kê du lịch. Vì vậy, Hội
nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa – Canada ngày 24-28/6/1991 đã
thống nhất khái niệm về du lịch như sau:
“Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một môi trường thường
xuyên trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức
du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các
hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm”.
Khái niệm trên là cơ sở định tính và lượng hoá trong việc thống kê du lịch
nói chung và thống kê kết quả hoạt động du lịch nói riêng.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
Mặt khác, khái niệm này được áp dụng cho mọi phạm vi nghiên cứu. Nó
cho biết du lịch bao gồm cả các chuyến đi ra khỏi môi trường thường xuyên
của con người trong một ngày không nghỉ qua đêm hoặc nhiều ngày đêm
nhưng ít hơn 12 tháng.
Qua khái niệm có thể thấy hoạt động du lịch bao gồm ba nội dung sau:
* Về mặt không gian:
Du lịch bao gồm các chuyến đi của con người ra khỏi môi trường thường
xuyên của mình. Môi trường thường xuyên được hiểu là phạm vi không gian
của nơi cư trú hoặc những chuyến đi có tính chất thường xuyên như: đi làm
việc ở cơ quan, đi chợ hàng ngày, …
* Về mặt thời gian:
Được tính vào hoạt động du lịch khi về mặt thời gian không quá dài vượt
ra phạm vi được qui định. Thời gian này ít nhất là một ngày đêm, nhiều nhất

trang đi hành quân, đại diện các cơ quan tư vấn đi làm nhiệm vụ…
Nhưng trong thực tế, các đối tượng nêu trên nếu có tiêu dùng sản phẩm
của ngành du lịch thì vẫn được tính vào khách du lịch. Vì vậy, quy định nói
trên vẫn mang tính chất tương đối.
Nền kinh tế càng phát triển, đời sống dân cư càng được nâng cao thì nhu
cầu của khách du lịch ngày càng đa dạng và phát triển không ngừng. Du lịch
của khách có rất nhiều mục đích khác nhau, vì vậy việc phân loại khách du lịch
là hết sức quan trọng và cần thiết. Hoạt động du lịch có thể được phân chia
thành các nhóm khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích, quan điểm khác nhau. Một
số cách tiếp cận phổ biến bao gồm:
* Căn cứ theo môi trường tài nguyên: Gồm du lịch văn hoá và du lịch
thiên nhiên.
Du lịch văn hoá là du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn. Tài
nguyên du lịch nhân văn bao gồm: các di tích lịch sử, các công trình đương đại
lễ hội, phong tục tập quán, viện bảo tàng, …
Du lịch thiên nhiên là loại hình du lịch đưa du khách về những nơi có điều
kiện, môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan tự nhiên hấp dẫn… nhằm thoả
mãn nhu cầu đặc trưng của họ.
* Căn cứ vào mục đích chuyến đi, gồm hai loại: du lịch thuần tuý và du
lịch kết hợp.
Du lịch thuần tuý là loại hình hoạt động du lịch nhằm nghỉ ngơi, giải trí,
tham quan nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Du lịch thuần tuý bao
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
gồm: Du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá,
du lịch thể thao, du lịch lễ hội
Du lịch kết hợp là loại hình hoạt động du lịch thuần tuý kết hợp với các
mục đích khác như học tập, công tác, nghỉ ngơi, tôn giáo, nghiên cứu… bao
gồm: du lịch kết hợp mục đích tôn giáo, du lịch kết hợp học tập, nghiên cứu,
du lịch kết hợp, du lịch kết hợp hội nghị, du lịch kết hợp thể thao, du lịch kết
hợp chữa bệnh, du lịch kết hợp thăm thân, du lịch kết hợp với mục đích kinh

phương tiện này nhà cung ứng được chủ động hơn,
- Du lịch bằng tàu hoả: phương tiện này rất thuận lợi, nhanh chóng, an
toàn và giá cả thấp, do đó hình thức du lịch này cũng khá phổ biến song kém
linh động.
- Du lịch bằng tàu thuỷ: hiện nay, nhờ tiến bộ của khoa học công nghệ,
nhiều tàu du lịch ra đời với đầy đủ tiện nghi như phòng ăn, phòng ngủ, bar,
phòng khiêu vũ, hoà nhạc, sân thể thao … Loại hình này đang là thời thượng.
- Du lịch máy bay: đây là phương tiện ưa dùng nhất trong du lịch vì nó
cho phép du khách đi đến nhiều nơi xa xôi trong thời gian nhất định. Song chủ
yếu là với khách quốc tế.
Bảng 1.1: Cơ cấu du khách quốc tế đến Việt Nam theo phương tiện
(Đơn vị: %)
Phương tiện 1993 1994 1995 1996 1997
Đường không 89,8 92,4 98,3 58,5 60,3
Đường bộ 5,0 4,6 9,1 31,5 32,1
Đường thuỷ 5,2 3,0 1,6 10,0 7,6
Nguồn: Bộ Công An, Tổng cục Du lịch Việt Nam
* Căn cứ vào loại hình lưu trú:
Lưu trú là một trong những nhu cầu chính của du khách trong chuyến đi
du lịch. Bao gồm:
- Khách sạn: là cơ sở lưu trú có đầy đủ tiện nghi phục vụ việc ăn, ngủ, vui
chơi giải trí …
Ở Việt Nam, khách sạn đước xếp hạng từ một đến năm sao, đây là hình
thức xếp hạng phổ biến nhất.
- Motel: là một dạng cơ sở lưu trú được xây dựng gần đường giao thông -
Nhà trọ thanh niên: là dạng cơ sở lưu trú phục vụ chủ yếu cho sinh viên, thanh
niên và những người không có khả năng thanh toán cao.
- Camping.
- Bungalow: là một dạng nhà trọ làm bằng gỗ hay bằng các vật liệu nhẹ,
thường xuất hiện ở các vùng ven biển hay vùng núi.

Kinh doanh lữ hành là ngành kinh doanh các chương trình du lịch, là hoạt
động đặc trưng trong kinh doanh du lịch bao gồm sản xuất, đại lý, môi giới,
nhằm cung ứng một cách thuận lợi các sản phẩm dịch vụ du lịch.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
Hiện nay, loại hình này rất phát triển trên thế giới nói chung và ở Việt
Nam nói riêng. Ở nước ta hiện nay có gần 80 hãng lữ hành quốc tế.
Kinh doanh du lịch lữ hành được tổ chức thành các hãng lữ hành bao gồm:
hãng lữ hành quốc tế, hãng lữ hành nội địa và đại lý lữ hành.
- Hãng lữ hành quốc tế bao gồm lữ hành quốc tế chủ động, kinh doanh các
chương trình du lịch đón khách và lữ hành quốc tế bị động, kinh doanh các
chương trình gửi khách ra nước ngoài.
- Hãng lữ hành nội địa là kinh doanh các chương trình đưa khách du lịch
trong nước đi du lịch ở các vùng thuộc lãnh thổ nước đó.
- Đại lý lữ hành là những hãng kinh doanh thực hiện một hoặc nhiều công
đoạn do các hãng du lịch quốc tế hay du lịch nội địa uỷ thác.
Ngành kinh doanh lữ hành có vai trò quyết định đối với sự phát triển du
lịch thế giới. Thực tế cho thấy trên 80% khách du lịch sử dụng dịch vụ của
ngành du lịch lữ hành. Kinh doanh du lịch lữ hành phát triển sẽ góp phần thúc
đẩy sự phát triển của các loại hình kinh doanh du lịch khác.
* Về kinh doanh khách sạn-du lịch.
Nếu xét trong tổng thể kinh doanh du lịch, kinh doanh khách sạn là công
đoạn phục vụ khách du lịch để họ hoàn thành chương trình du lịch đã chọn, bao
gồm các dịch vụ cho khách thuê phòng, bán hàng ăn uống, hàng lưu niêm, các
hàng hoá khác, các dịch vụ phục vụ vui chơi giải trí, dịch vụ phục vụ sinh hoạt
các nhân…
Sản phẩm của hoạt động du lịch khách sạn là sản phẩm dịch vụ trực tiếp
phục vụ người tiêu dùng hay xuất khẩu trực tiếp. Tuy nhiên, ngành này mang
tính độc lập tương đối.
Hiện nay, kinh doanh khách sạn du lịch rất đa dạng, bao gồm: Hotel,
Motel, Camping, biệt thự, toa xe lửa có giường nằm (Rotel), toa xe có giường

khách và đạt hiệu quả cao.
* Về kinh doanh các dịch vụ khác.
Đây là loại hình kinh doanh thông tin trong du lịch bao gồm nhiều dạng
khác nhau: dịch vụ môi giới, tìm địa chỉ, thông tin về giá cả, tư vấn về pháp lý,
thông tin nguồn khách, tổ chức tuyên truyền quảng cáo, xúc tiến hội chự du
lịch, …
Tuy nhiên, để kinh doanh thông tin đòi hỏi các doanh nghiệp du lịch phải
có nguồn dự trữ thông tin, xử lý chọn các thông tin đáng tin cậy, trừ các thông
tin thuộc bí mật quốc gia không được cung cấp.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
2.2. Đặc điểm ngành du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp. Hoạt động của
ngành du lịch vừa mang tính kinh tế vừa mang tính chất văn hoá xã hội. Vì vậy,
hoạt động sản xuất cũng rất phong phú và đa dạng. Nó bao gồm nhiều hoạt
động có tính chất kinh tế rất rõ rệt, đồng thời cũng có những hoạt động nhằm
nâng cao hiệu quả đối với con người. Nhìn chung có ba hoạt động chính:
- Hoạt động sản xuất bao gồm chế biến các món ăn uống của các cửa hàng
phục vụ ăn uống, hoặc sản xuất vật liệu phục vụ du lịch, sản xuất hàng du lịch,
hàng thông thường, …
- Hoạt động thương nghiệp bao gồm các hoạt động mua bán các món hàng
ăn, các hàng hoá khác đối với khách du lịch.
- Hoạt động dịch vụ bao gồm hoạt động lữ hành, dịch vụ lưu trú, hướng
dẫn khách, vận chuyển hành khách, vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung
khác …
Ngành du lịch là một ngành kinh doanh đặc biệt, do đó nó có nhiều đặc
điểm khác biệt với các ngành kinh doanh khác.
- Thứ nhất, du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. Tài nguyên
du lịch là cơ sở khách quan, là điều kiện ban đầu để phát triển ngành du lịch,
bao gồm tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn. Đó là những nơi,
những khu vực do tạo hoá của thiên nhiên, cũng có thể là do bàn tay của con

một thời điểm nào đó trong một thời điểm nhất định, gây tắc nghẽn giao thông,
do đó làm giảm chất lượng phục vụ khách du lịch.
Tính thời vụ trong du lịch không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của bản thân ngành du lịch mà còn ảnh hưởng đến các ngành kinh tế và dịch vụ
có liên quan.
-Thứ tư, hoạt động du lịch cần phải bảo đảm những nhu cầu về an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội cho du khách, cho địa phương đến nhận khách
Du lịch không chỉ là ngành kinh tế mà còn là một ngành văn hoá xã hội. Vì
vậy, ngoài kinh doanh, dịch vụ du lịch còn phải đảm bảo cho du khách được
tiếp cận với những nét thuộc đặc trưng về văn hoá- xã hội riêng của nước mình,
cho du khách tiếp cận với tinh hoa, bản sắc dân tộc của quốc gia, nhằm thu hút
và gây ấn tượng ban đầu đối với du khách. Khách tham quan cũng rất đa dạng,
với nhiều mục đích khác nhau, kể cả những mục đích không lành mạnh. Người
dân ở nước đến bao gồm nhiều thành phần xã hội kể cả thành phần xã hội đen,
có thể gây hại đến khách du lịch. Vì vậy để bảo đảm an toàn cho du khách, các
cơ quan, tổ chức du lịch cần phối hợp với Đảng, Nhà nước có những biện pháp
tạo môi trường lành mạnh đối với các hoạt động tham quan của du khách.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
3. Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển của nền kinh tế
Du lịch là hiện tượng của một xã hội có trình độ cao, là ngành dịch vụ mà
sản phẩm của nó dựa trên sản phẩm có chất lượng cao của nhiều ngành kinh tế
khác nhau. Tuy du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt nhưng nó
phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của nền kinh tế. Nền kinh tế tác động trực
tiếp và nhiều mặt đến hoạt động du lịch. Khi nền kinh tế phát triển thì người
dân có cuộc sống ổn định, mức sống được cải thiện và nâng cao, thời gian nhàn
rỗi của họ nhiều hơn, khi đó, nhu cầu cho việc vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi, …
càng cao. Mặt khác kinh tế phát triển sẽ tạo môi trường thuận lợi cho việc phục
vụ nhu cầu đa dạng của khách, các ngành kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy sự phát
triển của ngành du lịch.
Nông nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm đã cung cấp một khối

xuất khẩu tại chỗ đôi khi không cần thiết phải đóng góp và bảo quản phức
tạp….
Như vậy, du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinh tế khu
vực. Nhiều nước trên thế giới coi du lịch là cứu cánh để mong muốn vực dậy
nền kinh tế ốm yếu của mình. Du lịch là ngành công nghiệp không có khói, là “
con gà đẻ trứng vàng”.
Du lịch không chỉ tác động đến kinh tế khu vực mà còn có ý nghĩa rất
quan trọng trong lĩnh vực văn hoá, xã hội. Trên bình diện là ngành văn hoá-xã
hội, du lịch mang lại hiệu quả về mặt xã hội đối với con người. Du lịch không
chỉ tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên mà còn khám phá tài nguyên nhân văn. Điều
đó có nghĩa du lịch nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, nâng
cao sự hiểu biết, mở mang quan hệ của các du khách,…. Tạo điều kiện bảo tồn
di sản văn hoá dân tộc, giữ gìn bản sắc dân tộc quốc gia, tăng cường các mối
quan hệ dân tộc, xã hội, tình hữu nghị và sự hiểu biết về con người với nhau
giữa các quốc gia.
Như vậy, du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, có tác
dụng góp phần tích cực thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự đổi mới và
phát triển nhiều ngành kinh tế, tạo công ăn vệic làm, mở rộng giao lưu văn hoá-
xã hội giữa các vùng và giữa các quốc gia với nhau.
Thực tế cho thấy, trong mấy thập kỷ gần đây, du lịch ở nhiều nước rất phát
triển. Số lượng tham gia vào các chuyến du lịch quốc tế ngày càng tăng: năm
1950 mới có 25,3 triệu lượt người đi du lịch thì đến năm 1996 đã có 592 triệu
lượt người. Năm 1950, thu nhập ngoại tệ từ du lịch toàn thế giới mới là 2,1 tỷ
USD thì năm 1996 là 423 tỷ USD, bằng 8% kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước. Hoạt động du lịch đã
tạo ra 180 triệu chỗ làm việc, thu hút khoảng 11% lực lượng lao động toàn cầu.
Nhìn chung, nền kinh tế nước ta thường nhập siêu cao. Trong khi đó, hoạt
động du lịch lại là hoạt động xuất khẩu tại chỗ (chỉ đứng sau ngành công
nghiệp khai thác và trồng trọt) nên đã có đóng góp to lớn nhằm giảm mức nhập

trình độ văn hoá của người tiêu dùng, phải được xã hội chấp nhận.
Đối với du lịch, hoạt động sản xuất kinh doanh du lịch tạo ra các sản phẩm
dịch vụ đặc biệt như: kinh doanh dịch vụ lữ hành, kinh doanh dịch vụ khách
san, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận tải hành khách và một số dịch vụ khác liên
quan. Những sản phẩm này phải phù hợp với tiêu chuẩn quy định, phục vụ
được mọi nhu cầu đa dạng của khách đi du lịch
Kết quả hoạt động du lịch được đánh giá qua các chỉ tiêu như: Số khách,
số ngày khách, doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm, thu nhập
xã hội từ du lịch, số cơ sở lưu trú,…
Kết quả hoạt động du lịch bao gồm những nội dung sau:
Kết quả hoạt động du lịch phải do lao động sản xuất kinh doanh trong lĩnh
vực du lịch tạo ra có đủ tiêu chuẩn chất lượng mà Nhà nước quy định theo yêu
cầu sử dụng và hưởng thụ.
Kết quả hoạt động du lịch đáp ứng được mọi yêu cầu tiêu dùng đa dạng
của cá nhân, của cộng đồng có nhu cầu đi du lịch. Do đó sản phẩm của các
doanh nghiệp kinh doanh du lịch tạo ra phải có giá trị sử dụng và giá trị hưởng
thụ. Nếu sản phẩm dịch vụ này không được tiêu dùng thì sẽ không có giá trị,
nếu tiêu dùng càng nhiều càng có giá trị. Song giá trị sử dụng của những sản
phẩm này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, phát triển khoa học kỹ
thuật, nền văn minh xã hội…
Kết quả hoạt động du lịch đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng và doanh
nghiệp. Do vậy chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch không vượt quá giới hạn
lợi ích kinh tế của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Lợi nhuận của doanh
nghiệp thể hiện ở chi phí sản xuất không vượt quá giá bán các sản phẩm dịch
vụ du lịch cho khách và lợi ích của người tiêu dùng thể hiện ở khả năng thanh
toán khi mua hàng và mức tiết kiệm trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Kết quả hoạt động du lịch mang lại lợi ích kinh tế chung cho tiêu dùng xã
hội, được biểu hiện bằng kết quả tiếp nhận, tiết kiệm chi phí, tiền của, thời gian
sử dụng sản phẩm và giảm thiệt hại cho môi trường xã hội.
2. Ý nghĩa, nhiệm vụ nghiên cứu thống kê kết quả hoạt động du lịch.

sở vật chất kỹ thuật và mức độ phục vụ. Đó là cơ sở để tính ra nhiều chỉ tiêu
khác như cơ cấu doanh thu, …
- Chỉ tiêu giá trị sản xuất, lợi nhuận, giá trị tăng thêm, doanh thu xã hội từ
du lịch…: Là các chỉ tiêu kết quả quan trọng chho phép đánh giá khối lượng
kinh doanh đồng thời phản ánh hiệu quả hoạt động du lịch. Từ đó có thể lập kế
hoạch và dự báo cho tương lai.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
Thống kê kết quả hoạt động du lịch là một trong những nhiệm vụ rất quan
trọng trong thống kê kinh tế nói chung và thống kê về du lịch nói riêng, bao
gồm các nhiệm vụ sau:
- Xác định đúng kết quả hoạt động của các đơn vị kinh doanh du lịch và
của toàn ngành qua các chỉ tiêu: Số lượng khách, số ngày lưu trú của khách, kết
cấu khách, tổng doanh thu, kết cấu doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị
tăng thêm, thu nhập xã hội từ du lịch…nhưng tránh việc tính trùng các kết quả.
-Từ cơ sở số liệu thu thập được có thể lựa chọn các phương pháp thống kê
vận dụng phân tích kết quả hoạt động du lịch bao gồm: phân tích theo thời
gian, phân tích theo không gian, phân tích mối liên hệảnh hưởng của các yếu tố
tác động đến biến động kết quả hoạt động du lịch.
- Đưa ra nhận xét, đánh giá xu hướng của sự biến động đồng thời dự báo kết
quả trong tương lai. Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh đối với từng doanh nghiệp cũng như toàn ngành.
III. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ HOẠT
ĐỘNG DU LỊCH.
1. Khái niệm hệ thống chỉ tiêu thống kê nghiên cứu kết quả hoạt động
du lịch.
Hệ thống chỉ tiêu kết quả hoạt động du lịch là tập hợp các chỉ tiêu phản
ánh các mặt, các tính chất quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt
của kết quả sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực du lịch và mối liên hệ của nó
với các đối tượng có liên quan.
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê kết quả hoạt động du lịch hoàn chỉnh

bảo tính hệ thống nghĩa là các chỉ tiêu phải nêu lên được mối liên hệ giữa các
mặt của hiện tượng sao cho phù hợp với mục đích nghiên cứu. Các chỉ tiêu này
vừa mang tính chất chung của tổng thể vừa mang tính chất bộ phận, phản ánh
được đặc điểm phát triển của ngành.
Thứ ba, hệ thồng chỉ tiêu kết quả hoạt động du lịch phải đảm bảo tính khả
thi nghĩa là ở từng doanh nghiệp, từng địa phương, từng quốc gia khi xây dựng
hệ thống chỉ tiêu kết quả hoạt động du lịch trước hết phải căn cứ vào đặc điểm
sản xuất của ngành ở đó và đặc điểm kinh tế chung ở từng phạm vi. Các chỉ
tiêu này không được tính trùng hoặc tránh trường hợp xây dựng quá nhiều chỉ
tiêu.
Thứ tư, hệ thống chỉ tiêu kết quả hoạt động du lịch phải đảm bảo tính hiệu
quả nghĩa là hệ thống chỉ tiêu được xây dựng phải mang đầy đủ thông tin phản
ánh được kết quả hoạt động du lịch. Những thông tin này phải đạt được tiêu
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
chuẩn và chất lượng nhất định. Mặt khác khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu cần
phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu, căn cứ vào nhu cầu thông tin quản lý vĩ
mô. Tính hiệu quả ở đây được hiểu là hiệu quả về mặt lý luận cũng như hiệu
quả về mặt thực tiễn.
3. Các chỉ tiêu thống kê kết quả hoạt động du lịch.
3.1. Nhóm chỉ tiêu khách du lịch.
Khách du lịch được nhận thức theo 3 tiêu chí sau:
- Về không gian: Khách du lịch phải là người đi khỏi nơi cư trú thường
xuyên của họ.
- Về thời gian: Khách du lịch phải là người đi khỏi nơi cư trú thường
xuyên từ 24 giờ trở lên.
- Về mục đích chuyến đi: Khách đi du lịch không vì mục đích kinh tế,
không nhằm mục đích kiếm tiền nơi mà mình đến du lịch.
Việc phân biệt theo các điều kiện trên được cụ thể theo sơ đồ sau (trang
bên).
Các chỉ tiêu thống kê khách du lịch được xây dựng trên cơ sở: phân biệt

Còn số khách du lịch trong nước được thu thập theo 2 cách như sau:
+ Theo thống kê kinh nghiệm: Số khách du lịch trong nước là tổng số
khách của các đơn vị kinh doanh nhân hệ số điều chỉnh quy định trước.
+ Qua điều tra: Điều tra từng hộ gia đình hoặc điều tra chọn mẫu.
Ngoài ra tổng số khách du lịch bao gồm số khách của 3 bộ phận:
Số lượng khách du lịch quốc tế
Số lượng khách du lịch trong nước
Số lượng khách du lịch trong nước đi ra nước ngoài.
* Chỉ tiêu số ngày khách:
Số ngày khách là tổng số ngày khách được thu thập từ các báo cáo thống
kê định kỳ của các tổ chức kinh doanh du lịch
Đơn vị tính: ngày khách (ngày người)
- Đối với từng đơn vị kinh doanh: tổng số ngày khách bằng tổng số khách
cộng dồn trong kỳ nghiên cứu.
- Đối với toàn ngành: tổng số ngày khách bằng tổng số khách cộng dồn
của các đơn vị kinh doanh du lịch trong kỳ nghiên cứu.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
Chỉ tiêu về số ngày khách phản ánh cụ thể hơn về quy mô khách du lịch so
với chỉ tiêu số khách.
3.1.2. Nhóm chỉ tiêu thống kê nghiên cứu kết cấu khách du lịch.
* Kết cấu theo nguồn khách.
- Khách du lịch quốc tế phân theo khu vực và quốc tịch.
- Khách du lịch trong nước chia theo vùng và địa phương
* Kết cấu theo mục đích chuyến đi.
- Nhóm khách vui chơi giải trí, du lịch
- Nhóm khách du lịch kết hợp với công việc.
- Nhóm khách với mục đích thăm thân và bạn bè.
- Nhóm khách với mục đích khác.
* Kết cấu theo phương tiện đến.
- Khách đến bằng đường không

- Doanh thu khách sạn
- Doanh thu vận chuyển khách
- Doanh thu khác: doanh thu bán hàng, doanh thu dịch vụ vui chơi giải
trí…
3.2.2. Nhóm chỉ tiêu thống kê nghiên cứu kết cấu doanh thu du lịch
* Theo từng loại khách
- Doanh thu khách quốc tế
- Doanh thu khách du lịch trong nước
- Khách trong nước ra nước ngoài
* Theo loại hình sản phẩm du lịch
- Doanh thu cho thuê phòng
- Doanh thu lữ hành
- Doanh thu bán hàng hoá
- Doanh thu vận chuyển khách
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thái Thị Bé - Lớp: Thống kê 41A
- Doanh thu bánông nghiệp hàng ăn uống
- Doanh thu dịch vụ vui chơi giải trí
- Doanh thu khác
3.2.3. Chỉ tiêu doanh thu bình quân 1 khách, doanh thu bình quân 1 ngày khách.
3.3. Chỉ tiêu lợi nhuận du lịch.
Tổng lợi nhuận của tổ chức du lịch là khoản chênh lệch giữa tổng doanh
thu và tổng chi phí (hoặc giá thành toàn bộ) của tổ chức du lịch đó.
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động du lịch trong kỳ
nghiên cứu vì mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận.
3.4. Chỉ tiêu giá trị sản xuất ngành du lịch.
Giá trị sản xuất là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong
một thời kỳ nhất định của doanh nghiệp, thường là 1 năm.
Đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của hoạt
động du lịch. Nghiên cứu chỉ tiêu này cho phép phản ánh một cách tổng hợp
thành quả đạt được của đơn vị. Giá trị sản xuất du lịch toàn ngành bao gồm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status