Những vấn đề cơ bản về gia đình Việt Nam trên báo chí đương đại - Pdf 19

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ
------
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài :
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIA ĐÌNH VIỆT
NAM TRÊN BÁO CHÍ ĐƯƠNG ĐẠI
Sinh viên thực hiện : Bạch Thị Thanh
Lớp : K45
Người hướng dẫn : TS. Phạm Thanh Hưng
Hà Nội, 4-2003
LỜI NÓI ĐẦU
Gia đình là nơi sản sinh ra và nuôi dưỡng con người, duy trì và
phát triển nòi giống. Cùng với trường học, xã hội, gia đình là nơi
giáo dục, rèn luyện đặc biệt bồi dưỡng những chuẩn mực tình cảm,
vun đắp đạo lý làm người trong sâu thẳm tâm linh của mỗi con người
Việt Nam. Hồ Chí Minh đã chỉ ra những nét truyền thống tốt đẹp của
gia đình Việt Nam là hiếu học. Tri thức là chìa khoá giúp con người
giải quyết các mối quan hệ xã hội. Người viết : “Người Việt Nam rất
hiếu học con học giỏi là một niềm vinh hạnh cho cha mẹ”. Đạo lý
hiếu học có từ xa xưa, xuất phát từ mỗi gia đình, gia đình đóng vai
trò quan trọng tạo điều kiện chắp cánh cho một người. Có thể bay cao
bay xa. Việc quan tâm tới gia đình là một việc cần làm và phải làm.
Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình tốt.
Ngày nay các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam vẫn
được củng cố, phát huy trong giai đoạn hiện đại nhưng cũng có
không ít những biểu hiện tiêu cực.
Nói như L Mooc-gan “gia đình là một yếu tố năng động, nó
không bao giờ đứng nguyên ở một chỗ mà chuyển động từ thấp lên
một hình thức cao”. Trải qua rất nhiều những biến đổi thăng trầm của

I. Nhiệm vụ báo chí về việc giữ gìn, phát huy và tiếp thu các
giá trị tiến bộ trong vấn đề gia đình.
3
II. Các gia đình trên báo chí và tờ GĐXH.
1. Báo chí bảo vệ thuần phong mỹ tục, tư tưởng tình cảm tốt
đẹp và đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong Gia
đình.
2. Báo chí tham gia cuộc đấu tranh chống bạo lực Gia đình.
3. Báo chí giáo dục “Sức khoẻ tình dục”.
4. Báo chí hướng dẫn cách chăm sóc Gia đình.
5. Báo chí - nhịp cầu nối bạn bè.
Chương III : Một số hình thức thể hiện của tác phẩm báo chí viết về
Gia đình.
I. Các thể loại boá chí chủ yếu được sử dụng
1. Phóng sự.
2. Thư tín
3. Tiểu phẩm
II. Một số cách tổ chức tác phẩm báo chí hiệu quả.
1. Chuyên mọc
2. Chuyên trang
3. Chuyên đề
III. Đặc điểm ngôn ngữ tác phẩm báo chí.
1. Văn Phong.
2. Ảnh .
Kết luận
4
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIA ĐÌNH
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ
CỦA GIA ĐÌNH.
Trong đời sống con người gia đình là môi trường đầu tiên có

đồ của L Mooc-gan về năm hình thái gia đình nói trên. Nhiều người
cho rằng loài người không trải qua hình thái gia đình huyết tộc trong
đó anh chị em là vợ chồng của nhau. Loài người cũng không trải qua
hình thái gia đình Panalua theo đó một nhóm anh em trai lấy một
nhóm phụ nữ bất kỳ và trái lại một nhóm chị em gái lấy một nhóm
đàn ông bất kỳ. Hình thức hôn nhân này nếu có chỉ là một dạng của
quần hôn. Đồng thời với việc bác bỏ sơ đồ của L mooc-gan về cái
hình thái gia đình các nhà khoa học trên thế giới hiện nay về cơ bản
đã thống nhất được cách phân loại gia đình mới là :
- Gia đình lớn (hay đại gia đình).
- Gia đình nhỏ (hay tiểu gia đình).
Tồn tại như một thiết chế xã hội, gia đình luôn phải đảm bảo
những chức năng cơ bản như chức năng sinh học, chức năng kinh tế,
chức năng giáo dục, chức năng xã hội, chức năng văn hoá… Những
chức năng này tồn tại lâu dài cùng với sự tồn tại của gia đình và phản
ánh bản chất của gia đình tộc người. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều
kiện cụ thể và do ảnh hưởng văn hoá từ bên ngoài vào, các chức năng
của gia đình có những thay đổi nhất định.
*Chức năng tái sản xuất con người.
6
Tái sản xuất ra con người là chức năng cơ bản và vĩnh cửu của
gia đình nhằm duy trì, phát triển nòi giống. Không có chức năng này
thì gia đình dòng họ, dân tộc, không tồn tại được. Đối với nhiều dân
tộc trên thế giới, đặc giệt với phương Đông những nơi theo khổng
giáo và trong đó có Việt Nam việc nối dõi tông đường được xem
trọng thì chức năng này có ảnh hưởng to lớn tới đời sống gia đình.
*Chức năng kinh tế :
Chức năng kinh tế là một chức năng không thể thiếu được của
gia đình. Lịch sử của loài người đã chứng mình rằng gia đình dù là
đại gia đình hay tiểu gia đình đều là một đơn vị kinh tế. Thực hiện

trị, hay trong điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế - văn hoá với bên
ngoài và trong điều kiện do sự phát triển của khoa học kỹ thuật nên
nhịp độ quốc tế hoá đời sống các dân tộc ngày một tăng… Hơn nữa
gia đình còn là nơi tiếp thu và phát triển các truyền thống văn hoá
dân tộc. Các giá trị văn hoá dân tộc được lưu giữ, làm phong phú
thêm trong các gia đình. Con người lớn lên nối tiếp nhau gìn giữ bản
sắc văn hoá dân tộc chính là nhờ chiếc nôi đầu tiên ấy là gia đình.
II. CÁC MỐI QUAN HỆ CƠ BẢN TRONG GIA ĐÌNH VIỆT
NAM:
1. Quan hệ gứa vợ - chồng :
Mối quan hệ vợ chồng ở mỗi hình thái gia đình có sự khác
nhau. Ở hình thái gia đình của xã hội phong kiến, người vợ trở thành
người đầy tớ chính và không được tham gia vào sản xuất xã hội. Gia
đình phong kiến Phương Đông theo mẫu hình nho giáo thì quyền lực
8
thuộc về nam giới “phụ-xướng/Phụ-tuỳ” (chồng nói/vợ làm theo) cao
hơn một chút phu-nghĩa/phụ-kính (chống có nghĩa vợ kính trọng).
Tuy vậy trong xã hội cổ truyền Việt Nam có ảnh hưởng của nho giáo
song các giá trị văn hoá gai đình bản địa vẫn được lưu giữ trong sự
ứng xử giữa vợ - chồng. Chẳng hạn các giá trị “hoà thuận” (thuận vợ
thuận chồng tát biển đông cũng cạn), “thuỷ chung” (“ở sao chung
chuỷ vẹn toàn” - “vợ chồng là nghĩa tao khang”) hay giá trị về “bình
đẳng” (“của chồng công vợ”, “chồng nhữ giỏ,vợ như hom”, “lệnh ông
không bằng cồng bà”) v.v…
Trong gia đình hiện đại, quan hệ vợ chồng được xây dựng trên
cởơ tình yêu chân chính, sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Những
giá trị đó được biểuhiện trong việc lựa chọn vợ hoặc chồng một cách
tự do của những người trong độ tuổi thành hôn, trong việc tham gia
lao động, công việc xã hội, trong việc đóng góp và hưởng thụ tài sản
gia đình, trong việc quyết định những vấn đề chung của gia đình giữa

mẹ khi con cái họ đã ra ở riêng họ vẫn có bổn phận đối với con cái,
phải dạy bảo chúng và giúp chúng sửa chữa những thói hư tật xấu
hoặc nâng đỡ con cái khi chúng thất bại.
Ở gia đình hiện đại những giá trị truyền thống tốt đẹp đó đựơc
gìn giữ và phát triển. Tinh thần thương yêu, sự hy sinh của cha mẹ và
con cái và sự kính trọng biết ơn và hiếu thảo của con cái đối với cha
mẹ. Song nhiều yếu tố bảo thù trong mối quan hệ này vẫn tồn tại
hoặc có sự biến động thái quá, dẫn đến những tiêu cực trong gia đình.
3. Quan hệ giưa anh- chị - em trong gia đình.
10
Trong gia đình phong kiến trước kia đề cao vai trò của các anh
em trai đối với các chị em gái “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”.
Gia đình phong kiến nho giáo đề cao vai trò con trưởng (chủ yếu là
con trai trưởng) “quyền huynh thế phụ” (anh có quyền thay cha)
trong mọi quyết định đối với các em. Ngược lại các em phải phục
tùng anh trai (hoặc chị phục tùng em trai) như phục tùng cha mẹ nên
“hiểu” đi đối với “để” các giá trị mà họ phải tuân thủ trong gia đình
truyền thống vn, quan hệ giữa anh - chị - em là quan hệ “luật là máu
mủ” thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau, “trên kính dưới nhương” hoà
thuận và gắn kết “máu chảy ruột mềm” “khôn ngoan đối đáp người
ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Hiện nay các giá trị này
vẫn được củng cố trong các gia đình hiện đại nhưng môi trường sống,
tình hình thời thế có nhiều thay đổi dẫn đến những giá trị nàycó
nhiều biểu hiện tích cực song không ít những mặt hạn chế.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ MỚI TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM
HIỆN NAY.
1. Căn bệnh thế kỳ và các tệ nạn xã hội khác ảnh hưởng tới
đời sống gia đình .
Thực tế cho thấy rằng : Sự phát triển của khoa học kỹ thuật của
lao động sản xuất làm cho đời sống của nhân dân không ngừng được

càng dễ lây lan. Hiện nay rất ít những trường hợp bị bệnh tự đến báo
cáo với chính quyền, các cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm ở địa
phương mà họ thường im lặng. Họ sợ khi biết sự thật người thân sẽ
“xấu hổ, nhạc nhã”, “cộng đồng sợ hãi khi giao tiếp...”. Tốt hơn là im
lặng trừ khi không thể giấu.
12
Khi những gia đình có người bị nhiễm căn bệnh này không phải
gia đình nào cũng có những hành động đúng mà có rất nhiều những
xung đột xayra. Hơn nữa một số người vẫn không từ bỏ được cờ bạc,
rượu chè, hút hít... càng làm cho mâu thuẫn gia đình lên tới đỉnh
điểm. Các gia đình có thành viên mắc vào các tệ nạn xã hội. Khi đời
sống của gia đình đó luôn là một bài toán khó giải, nó cần sự nỗ lực
cố gắng của mọi thành viên và sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng.
2. Bạo lực trong gia đình
Mặc dù có nhiều tiến bộ trong việc bình đẳng giới và đấu tranh
chống lại bạo lực nhưng dường như bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em
vẫn không dừng lại mà thậm chí có chiều hướng gia tăng - nhất là
bạo hành tình cục trẻ em. Lạm dụng tình dục trẻ em là vấn đề nhạy
cảm và tế nhị nên ít có số liệu được công bố hay có đi chăng nữa thì
số liệu đó cũng chỉ phản ánh một phần rất nhỏ của thực trạng này.
UINICEF ước tính hàng năm có một triệu trẻ em bị lạm dụng tình
dục. Riêng ở Việt Nam trong hai năm 2000 và 2001 có 37 trường hợp
trẻ em và trẻ vị thành niên bị xâm hại tình dục đã đến khám chứng
thương tại bệnh viên bảo vệ Bà mẹ trẻ sơ sinh. Tại Toà án nhân dân
tối cao, theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1997 có 86 vụ giao cấu
với trẻ em từ 1 đến 15 tuổi đã được đưa ra xét xử với 101 bị cáo. Đây
là chỉ số đáng buồn và đáng báo động bởi tình trạng xâm hại tình dục
trẻ em đang gia tăng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, song căn bản
nhất vẫn do luật pháp chưa nghiêm, văn hoá phẩm đồi truỵ được nhập

Hà Nội, nguyên nhân ly hôn do bị đánh đập, ngược đãi là 7.372 vụ
14
chiếm tỷ lệ 31,3% Theo Toà án nhân dân Hải Phòng cũng trong thời
gian trên có 2.359 trên tổng số 7.743 vụ việc về hôn nhân, ia đình có
hành vi bạo lực, trong đó có 22 vụ cấu thành tội phạm hình sự.
Nguyên nhân lý hon do người chồng rượu chè, cờ bạc thường xuyên
đánh đập vợ con chiếm tỷ lệ 10% trong tổng số về hôn nhân gia đình
do Toà án nhân dân quận Bình Thạnh - Thành phố Hồ Chí Minh xét
xử. Như vậy có thể thấy rằng bạo hành trong gia đình là một trong
những nguyên nhân chính dẫn tới đổ vỡ gia đình. Thực tế hành vi
ngược đãi vợ con của người chồng ở một số địa phương là hết sức
quan trọng. Bạo lực trong gia đình đã trở thành hiểm hoạ của xã hội
lại xuất phát từ chính gia đình, một tế bào của xã hội, nó sẽ như đợt
sóng ngầm gặm nhám thiết chế gia đình, làm băng hoại các giá trị
đạo đức truyền thống. Có thể nói; gia đình có bền vững thì xã hội
mới cường thịnh. Khi còn những con người điều chỉnh các quan hệ
gia đình bằng nắm đấm thì sẽ còn những đứa trẻ mất môi trường sống
và giáo dục lành mạnh.
3. Nếp nghĩ mới.
Quá trình đổi mới đất nước đang làm thay đổi hệ thống thang
giá trị con người. Việc lưu giữ những giá trị tốt đẹp của gia đình
truyền thống và việc bổ sung những giá trị mới hợp thời đại không
phải là một việc làm đơn giản nó cần cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Hai
mặt ấy phải song hành nếu không dễ rơi vào một chiều, phiến diện.
Ngày nay một mặt đấu tranh chống những hủ tục, định kiến lạc
hậu tiếp thu những cách nghĩ mới thoáng hơn trong mặt khác tình
trạng trà đạp nên những nét đẹp trong văn hoá ứng xử của người Việt
Nam luôn là vấn đề được cập nhật nóng bỏng. Hiện nay cảnh vợ goa
goắt, đánh chửi chồng, cảnh con cái hắt hủi ông bà cha mẹ dưới
15

nuông chiều, dễ dãi quá mức gây cho bọn trẻ có tâm lý hưởng thụ vật
chất, ít quan tâm đến cha mẹ và những người xung quanh (nhất là
người già). Nhiều người cho rằng để gìn giữ hạnh phúc của một gia
đình cần có một cách sống, cách cư xử truyền thống kết hợp hiện đại,
uy quyền của bề trên với tình thương, bao dung, vị tha.
Gia đình là một thành tố không thể thiếu trong văn hoá Việt
Nam nên cùng với làng, nước gia đình tạo thành một trục bền vững
của tính cộng đồng. Nếu tiêu biểu của nhân cách Việt Nam là tinh
thần trách nhiệm sống vì người khác thì điều đó được biểu hiện trong
gia đình bằng nghĩa vụ, bổn phận làm con làm cha, làm mẹ, mọi
người trong gia đình có trách nhiệm với nhau trên cơ sở lấy tình
nghĩa làm nền tảng dù họ đang sống hay đã chết, điều đó đã trở thành
đạo lý và truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Ngày nay
trong cuộc sống hiện đại cơ cấu gia đình truyền thống có nhiều thay
đổi song đó là sự thay đổi tất yếu mang tính khách quan với cả hai
mặt tích và tiêu cực. Mặt tích cực là biết gìn giữ những nét đẹp của
gia đình truyền thống, gạt bỏ những hủ tục, tiếp thu những cách sống
cách nghĩa mới hiện đại phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam.
Mặt tiêu cực chính là những văn hoá đồi truỵ, sự suy đồi đạo đức,
những hành vi ngông cuồng, mù quáng trà đạp nên các giá trị, chuẩn
mực chung của xã hội : mại dâm, ma tuý, hắt hủi, đối xử tệ bạc với
người hân... Tuy nhiên nhìn chung một cách tổng quát các thành tố
gia đình Việt Nam đang biến đổi từng ngày từng giờ dưới những hình
thức khác nhau, nhưng cái bản chất tốt đẹp của nó thì không hề phai
nhạt, có chăng chỉ là “con sâu làm dầu nồi canh”.
17

Trích đoạn MỘT SỐ CÁCH TỔ CHỨC TÁC PHẨM BÁOCHÍ HIỆU QUẢ. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TÁC PHẨM BÁOCHÍ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status