KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 1900 - 1930
Trải qua những thí nghiệm, tìm tòi, người Việt Nam đã làm cho kho từ
vựng tiếng Việt ngày thêm phong phú bằng cách sáng tạo thêm từ mới,
tiếp nhận thêm từ mới của Trung Quốc, Nhật Bản đọc theo âm Hán
Việt, Việt hóa một số từ Pháp, làm cho ngữ pháp tiếng Việt ngày càng
mạch lạc, sáng sủa hơn nhờ nắm vững qui luật của ngôn ngữ dân tộc,
đẩy lùi câu văn biền ngẫu, đồng hoá vào hệ thống ngữ pháp tiếng Việt
một số yếu tố của ngữ pháp tiếng Pháp. Sau bao nhiêu cố gắng của các
nhà báo, nhà văn, câu văn nghệ thuật nhằm mô tả chân thật cuộc sống
bình thường được hình thành như chúng ta đã thấy trong tác phẩm của
Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh.
+ Báo chí:
Báo chí đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển dòng văn
học hợp pháp ở giai đoạn này. Báo chí chính là nơi để các nhà văn công
bố tác phẩm của mình, cũng là nơi để các nhà văn thử nghiệm, rèn
luyện văn xuôi quốc ngữ. Báo chí là nơi sưu tầm và giới thiệu văn học
trung đại Việt Nam, giới thiệu văn học Pháp và văn học Trung Quốc. Báo
chí có tác dụng khích lệ, mơ ước về sự nghiệp văn học, kích thích những
người cầm bút phỏng tác, sáng tác. Báo chí còn là nơi trao đổi ý kiến,
tìm tòi cách làm giàu ngôn ngữ, và cũng là nơi để các nhà văn rèn luyện
cách mô tả cuộc sống bằng các thể loại và hình thức mới để hình thành
nhà văn và tập hợp thành đội ngũ nhà văn.
Báo chí ở giai đoạn này đã đi từ chỗ là một công cụ tuyên truyền của
Pháp dần dần ngày càng gắn chặt hơn với văn học, thúc đẩy văn học
phát triển.
cụ thể trong cuộc sống bình thường. Ngưòi ta muốn nếm trải cái có thật
chứ không phải được khích lệ bằng những gương trung hiếu minh họa
đạo nghĩa. Ngưòi ta cũng muốn rút ra từ đó những bài học quí giá về
cuộc sống chứ không phải là bài học đạo lý. Người ta muốn xúc cảm,
muốn mở mang như những người cá nhân, chứ không phải xúc động
như khi chiêm ngưỡng những tấm gương cao của vị thánh xuất chúng.
Thế là vào khoảng trước và sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, một lối
sống thành thị tư sản hóa và một công chúng thành thị đã hình thành.
Ðó không chỉ là đối tượng mô tả, phục vụ mà còn là nhân tố làm nảy
sinh nền văn học mới.
- Vấn đề đổi mới về quan niệm sáng tác:
Sự thay đổi về quan niệm sáng tác đã dẫn đến nhiều đổi mới trong nền
văn học giai đoạn này. Nó không chỉ là một đặc điểm của giai đoạn văn
học mang tính chất giao thời như đã trình bày ở phần trên, mà nó còn
là một trong những nhân tố thúc đẩy sự ra đời của văn học mới, đẩy
mạnh sự phát triển của cả bộ phận văn học hợp pháp.
Bấy giờ vì muốn đáp ứng nhu cầu thị hiếu và thẩm mỹ của công chúng
thành thị nhà văn sáng tạo tác phẩm như một kế sinh nhai. Ðộc giả
trước đây đi tìm văn phẩm, bây giờ tác phẩm phải chạy theo người tiêu
thụ. Nhà văn thành một nghề, văn học trở thành hàng hoá. Người sáng
tác đã xa dần quan niệm "trước thư lập ngôn" sáng tác để thể hiện
"tâm, chí, đạo" dùng tác phẩm văn chương để di dưỡng tinh thần và
giáo dục con cháu.
Trước kia nhà nho không chú ý đến vấn đề phản ánh chân thực, cụ thể
cuộc sống đời thường. Các tác giả của bộ phận văn học mới để hết tâm
2. 3. Một số nội dung tiêu biểu của văn học hợp pháp:
* Văn học hợp pháp phản ánh hiện thực xã hội trên con đường tư sản
hóa
Vào đầu thế kỷ XX có nhiều vấn đề mới đặt ra cho người cầm bút. Hiện
thực cuộc sống ngày càng đa dạng, phức tạp với biết bao vấn đề mới lạ
đập vào mắt nhà văn. Họ có thể nào làm ngơ trước nó. Cần phải mô tả
chân thật, sinh động cuộc sống xã hội, đó là điều làm cho nhà văn luôn
trăn trở và hướng đến.
Với ý thức không "tô điểm sai cảnh thực" ý thức mô tả "chân tình, chân
cảnh", "khiến người ta nghe câu văn như trông thấy cảnh, tai nghe thấy
người mà sinh ra cái lòng quan cảm" giúp các nhà văn viết về xã hội tư
sản hoá với những con người, tình huống, cảnh ngộ, sự việc cụ thể.
Xã hội được miêu tả trong văn học hợp pháp là một xã hội náo nhiệt, xô
bồ mà đồng tiền tư sản, lối sống tư sản, đạo đức tư sản đang dần dần
chiếm địa vị ưu thắng ở thành thị. Trong khi đó ở nông thôn bọn cưòng
hào, quan lại, địa chủ cấu kết nhau hà hiếp dân lành. Cuộc sống của
người dân nghèo vốn đã lam lũ, khốn khó lại phải chịu đựng thêm bao
nhiêu tai hoạ do chúng gây ra.
Xã hội tư sản trong sáng tác của nhà văn lúc đó như một xã hội mục
nát, không hề có những con người ưu tú. Ở vào giai đoạn này, ý thức hệ
tư sản đang lấn dần vị trí của ý thức hệ phong kiến, nhưng nó vẫn chưa
giành được phần thắng về mình. Vì vậy khi giải quyết các vấn đề của xã
hội, nhà văn thường rơi vào hiện tượng lưỡng phân. Họ chưa thể khẳng
định xã hội tư sản, cũng không thể khẳng định một lý tưởng xã hội
khác. Nhà văn chỉ mới nhìn thấy sự đau khổ, đổ vỡ, sự không hài hòa
mức độ khác nhau. Riêng đối với các tác giả tân học hoặc chịu ảnh
hưởng của nền học vấn mới như Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh,
Tản Ðà, Ðông Hồ, Tương Phố hay cả Tân Dân Tử, Trần Thiên Trung
thì cùng một lúc họ phải chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Ðông lẫn
phương Tây. Ðiều này đặt ra cho họ một sự lựa chọn hết sức gay go. Ði
theo chủ nghĩa cá nhân của ý thức tư sản hay giữ gìn đạo đức phong
kiến. Chủ nghĩa cá nhân mở ra cho con người một chân trời tự do: tự
do trong quan hệ tình cảm, nhất là tình yêu đôi lứa, chủ nghĩa cá nhân
giải phóng con người khỏi những ràng buộc của lễ giáo phong kiến khắt
khe. Nhưng nó mới quá! Làm sao tránh được những bỡ ngỡ, người ta
không thể không đến với nó trong sự dè dặt, ngại ngùng. Trong khi đó,
đạo đức phong kiến lại vốn là khuôn vàng thước ngọc, quyết định mọi
giá trị đạo đức trong xã hội hàng nghìn năm qua, chưa thể dứt bỏ trong
chốc lát. Người sáng tác bị đặt vào tình thế lưỡng phân. Ðối với họ cả
hai phía đều có sức hấp dẫn và thu hút lạ kỳ, ngay cả trong thị hiếu của
công chúng cũng thế.
Thơ văn hợp pháp giai đoạn đầu thế kỷ XX đã bắt đầu nói đến những
tình cảm riêng tư, sâu kín của con người. Những bài thơ nặng sầu mộng
lần lượt ra đời. Người ta bắt đầu nói đến cái khổ của yêu đương, xa
cách, nhớ nhung. Nhà văn, nhà thơ đã cất lên tiếng than não ruột cho
những mối tình tan vỡ. Chủ nghĩa cá nhân đã xuất hiện nhưng mang
một đặc điểm riêng biệt, nó khác với chủ nghĩa cá nhân trong văn học ở
giai đoạn 30-40 và cũng không giống với chủ nghĩa cá nhân trong văn
học giai đoạn 40-45. Nhìn chung, ở vào thời điểm này, cái tôi và chủ
nghĩa cá nhân tuy đã xuất hiện nhưng nó chưa đủ sức để chống đối
những ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Các tác giả còn chịu ảnh
hưởng của nhân sinh quan phong kiến, cho nên cái tôi còn nhiều màu
sắc phong kiến. Chủ nghĩa cá nhân còn rất yếu ớt bởi các tác giả còn
đứng về phía đạo đức phong kiến can ngăn con người khỏi phải rơi vào