Công tác thông tin đối ngoại qua Bản tin thời sự tiếng Anh của VTV4
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Công tác Thông tin đối ngoại (TTĐN) đóng một vai trò không thể phủ
nhận trong thời đại hội nhập ở nước ta hiện nay (mô tả rõ vai trò như thế nào,
khoảng 5 dòng). Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, báo hình là
một trong nhiều loại hình báo chí sở hữu những ưu thế rõ rệt so với nhiều loại
hình báo chí khác.
Để đáp ứng nhu cầu thông tin và giải trí của người xem, ngày càng có
nhiều thể loại, chương trình phong phú xuất hiện trên truyền hình. Tuy nhiên,
bản tin luôn là thể loại “nền tảng” của báo hình, là món ăn không thể thiếu trên
truyền hình dành cho khán giả. Bản tin cũng chính là một phương thức ngôn luận
đối ngoại trực tiếp và hiệu quả của nước ta. Đối với nhiệm vụ công tác TTĐN,
bản tin thời sự tiếng Anh, gọi tắt là Bản tin tiếng Anh (BTTA) của Ban truyền
hình đối ngoại (THĐN) VTV4 là một chương trình cần có những đánh giá
nghiên cứu cụ thể và định hướng phát triển tăng tính hiệu quả nhiệm vụ đối
ngoại của nước nhà.
Đối với những người làm công tác TTĐN, BTTA của VTV4 - với đặc thù
là bản tin nói bằng Tiếng Anh và phát ra nước ngoài - rõ ràng là một chương
trình hết sức quan trọng cần được chú ý nghiên cứu, tìm hiểu để nâng cao hiệu
quả trực tiếp trong việc phát ngôn cũng như xây dựng và nâng cao hình ảnh Việt
Nam trên trường quốc tế.
Đối với kênh THĐN Việt Nam – VTV4, BTTA là một chương trình
không thể thiếu, thậm chí quyết định không nhỏ uy tín và số lượng khán giả theo
dõi. Sự xuất hiện cuả BTTA đã góp phần làm phong phú thêm nội dung của
kênh THĐN VTV4 nhưng đồng thời cũng tạo ra “khoảng trống” lý luận. Cho
1
đến nay, trong các tài liệu lý luận truyền hình Việt Nam, vẫn chưa có một nghiên
cứu nào trực tiếp đề cập đến nội dung này. Thực tiễn có lý luận “dẫn đường” bao
giờ cũng mang lại kết quả tốt hơn. Thực tiễn đang đặt ra các vấn đề cấp bách đòi
hỏi THĐN phải kịp thời đổi mới và nâng cao chất lượng. Để làm được điều này
phát biểu tại Hội nghị Thông tin Đối ngoại toàn quốc 31/3/2004).
9. Các Nghị quyết của các Hội nghị Trung ương Đảng và phát biểu
của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước về công tác báo chí, xuất bản
và công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại (Báo Nhân dân, Website Đảng
Cộng sản Việt nam).
Nghiên cứu chung về thể loại báo chí, có nhiều tác phẩm đáng lưu ý:
- PGS. TS Nguyễn Văn Dững chủ biên, Tác phẩm báo chí, Nxb Lý luận chính trị
- Đinh Văn Hường, Các thể loại thông tấn báo chí, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội
- Hoàng Anh, Một số vấn đề sử dụng ngôn từ trên báo chí, Nxb Lao Động, Hà
Nội (2003).
- Nguyễn Khoa Điềm, Báo chí cần đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp đổi
mới đất nước, Tư tưởng văn hóa (6/2005)
- Cơ sở lý luận báo chí, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin, (1999).
- Đài truyền hình Việt Nam, “35 năm Đài truyền hình Việt Nam”, lưu hành nội bộ
(2005).
Thông qua việc tiến hành khảo cứu nguồn tài liệu luận văn, khoá luận, tiểu
3
luận khoa học cuả sinh viên từ năm 2005-2007, tác giả nhận thấy có những
nghiên cứu đáng lưu ý như sau:
- Nguyễn Tiến Long (2006), Bản tin đối ngoại phát thanh, truyền hình – thực
trạng và hiệu quả (Luận văn tốt nghiệp Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2006)
Khóa luận này nghiên cứu về mô hình bản tin trên truyền hình và phát
thanh với mục đích thông tin đối ngoại, trong đó có một góc độ thuộc về bản tin
truyền hình có liên quan đến luận văn.
- Trần Quốc Thắng (2007), Đặc trưng của truyền hình và ảnh hưởng của nó tới
hoạt động nghiệp vụ của phóng viên truyền hình (Luận văn tốt nghiệp Học viện
Báo chí và Tuyên truyền 2007)
- Nguyễn Hồng Hải, Chương trình truyền hình dành cho người Việt Nam ở nước
ngoài (Luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng 2007)
lúc 7h25, bản tin 15’ vào lúc 15h25 và bản tin 60’ vào lúc 21h30.
Thời gian khảo sát: từ tháng 6/2007 đến tháng 12/2008.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên nền tảng khoa học của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách
của Nhà nước ta về công tác thông tin đối ngoại.
- Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Khoá luận này bao gồm:
phương pháp thống kê, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp đối
chiếu, so sánh, xin ý kiến chuyên gia...
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khoá luận
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc nâng
cao chất lượng BTTA, hiệu quả TTĐN của bản tin trong thời gian tới.
- Đề tài cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng
dạy chuyên ngành TTĐN tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
7. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
khóa luận được kết cấu thành 3 chương, ... tiết.
6
NỘI DUNG
Chương 1
THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN TRUYỀN HÌNH -
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác TTĐN trên
truyền hình đối với NVNONN :
1.1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác TTĐN đối với
NVNONN
TTĐN là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại của Đảng, Nhà
nước nhằm làm cho các nước, người nước ngoài, NVNONN hiểu về đất nước,
trong nguồn cội, họ vẫn là người Việt. NVNONN lại có rất đông đảo dâu rể, bà
con, bạn bè là người nước ngoài. Đây là một kênh quan trọng và hữu hiệu để
quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Vì vậy, khi làm cho họ hiểu đúng tình
hình đất nước, họ sẽ tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong quan hệ với nước sở tại và
trở thành lực lượng TTĐN ngay nơi cư trú, nơi mà chúng ta vì những hạn chế
nguồn lực rất khó khăn để vươn tới được.
Trên quan điểm nhận thức ấy, Nghị quyết 36 đã chỉ đạo, công tác thông
tin cho cộng đồng phải thể hiện và phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc đã
được nêu rõ trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt trong nghị quyết Hội nghị
Trung ương 7, khóa IX. Theo đó, cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và
thống nhất Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và
văn minh. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành
phần giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau,
8
hướng tới tương lai.
Có thể khẳng định: Đảng, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác
TTĐN và cho cộng đồng NVNONN. Quan điểm của Đảng ta là:
- Thông tin, tuyên truyền phải thể hiện đầy đủ các quan điểm lớn của Đảng
và Nhà nước coi NVNONN là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của
cộng đồng dân tộc Việt Nam; phổ biến rộng rãi các chính sách chung cũng như
các chính sách liên quan đến NVNONN.
- Tôn vinh lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tình cảm quê hương cội nguồn của
người Việt Nam ở xa Tổ quốc, phát huy tinh thần đoàn kết đùm bọc lẫn nhau,
phản ánh đầy đủ tâm tư tình cảm của NVNONN.
- Giới thiệu mọi mặt đời sống của đất nước, truyền thống lịch sử văn hóa,
văn minh của Việt Nam, quảng bá du lịch, quảng bá tiếng Việt, giáo dục luật
pháp, tăng cường tinh thần hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và Thế
giới.
1.1.2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với Truyền hình
Việt Nam
vị trí của THVN trong công tác này, thường xuyên quan tâm, ban hành những chỉ
thị, nghị quyết nhằm tăng cường và phát huy sức mạnh, ưu thế của truyền hình
trong thời đại toàn cầu hóa, cạnh tranh thông tin gay gắt. Vấn đề là ở chỗ làm thế
nào để phát huy có hiệu quả thế mạnh của truyền hình, thực hiện tốt nhiệm vụ
thông tin về đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, những thành tựu phát triển của
công cuộc đổi mới đất nước đến với cộng đồng NVNONN; tham gia tích cực vào
cuộc đấu tranh chống những quan điểm sai trái của những thế lực thù địch. Đó
vừa là nhiệm vụ vừa là mục tiêu của THVN mà cụ thể là VTV4 để xứng đáng với
vai trò của một chương trình Truyền hình quốc gia trong lĩnh vực TTĐN, xứng
10
đáng với niềm tin tưởng của Đảng, Nhà nước và sự mong đợi của công chúng.
Không cần tách thành 2 phần 1.1. và 1.1.2, chỉ nên để chung 1.1. Quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác TTĐN trên truyền hình đối với
NVNONN.
Trong phần này nên lấy trích dẫn đặt trong ngoặc kép về các quan điểm cụ
thể được thể hiện qua các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết... của Đảng (không thấy có
văn bản nào của Nhà nước, tại sao đưa cả Nhà nước vào?). Không nên gạch đầu
dòng các kết luận của em trong phần này mà nên lồng vào các phân tích khi đề
cập đến quan điểm cụ thể của Đảng. Khái quát phần này khoảng 3 - 4 trang.
1.2. Vị trí, vai trò của kênh truyền hình VTV4 trong công tác TTĐN
1.2.1. VTV4 - Chương trình truyền hình dành cho cộng đồng NVNONN
- Một số khái niệm cơ bản về Báo chí và Truyền hình.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu về báo chí nhưng đều có sự thống nhất ở một số
tiêu chí: “Báo chí được dùng để chỉ các kênh truyền thông đại chúng chuyên
phản ánh các sự kiện và vấn đề thời sự, xuất bản định kỳ đều đặn. Do đó, báo chí
nói chung được hiểu bao gồm báo chí in ấn, báo phát thanh, báo chí truyền hình
và các loại báo chí điện tử khác” [29,tr.51]. “Báo chí là một hình thái ý thức – xã
hội, lấy hiện thực khách quan làm đối tượng để phản ánh” [11, tr7]. “Báo chí là
một hiện tượng đa nghĩa, phức tạp” [36,tr.13].
Khái niệm về loại hình báo chí truyền hình về thực chất là sự mở rộng và
điều kiện về kỹ thuật để Đài THVN tham gia vào việc trao đổi chương trình giữa
các thành viên tổ chức phát thanh, truyền hình Á – Âu (OIRT) mỗi tuần một lần
trong khuôn khổ chương trình Intervision – D (IVN – D). Khi đất nước thống
nhất, vào cuối thập kỷ 80, Đài THVN đã tăng cường trao đổi tin tức, chương
trình với các hãng truyền hình nước ngoài, trong đó có một số hãng truyền hình
có uy tín và phạm vi ảnh hưởng toàn cầu như CNN (Mỹ), Roitơ (Anh), CFI
(Pháp)…Cũng trong giai đoạn này, Đài THVN đã thành lập Phòng trao đổi tin
12
tức chương trình thuộc Ban biên tập thời sự.
Chính sách mở cửa, đổi mới, "sẵn sàng là của bạn, là đối tác tin cậy của
tất cả các nước trong cộng đồng thế giới" là sức hút để ngày càng có nhiều người
nước ngoài đến học tập, làm ăn, sinh sống ở Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu
thông tin cho đối tượng này, vào nửa đầu thập niên 90, Đài THVN đã thành lập
thêm hai phòng biên tâp Tiếng Anh và Tiếng Pháp thuộc Ban biên tập các vấn đề
quốc tế. Tóm tắt phần này khoảng 1/2 trang về sự phát triển của THVN.
Những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới và trong
nước có nhiều biến động mạnh mẽ. Nhiệm vụ của THVN lúc này là đưa hình
ảnh Việt Nam đổi mới, phát triển, muốn làm bạn với các dân tộc trong cộng
đồng quốc tế đến với thế giới và NVNONN, đồng thời, lên tiếng đấu tranh bác
bỏ và giải tỏa những dư luận sai trái, thiếu thiện chí của các thế lực thù địch.
Trước những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn như vậy, kênh VTV4 ra đời: “Để
khắc phục (điều gì??? - kiểm tra lại tài liệu trích dẫn) cộng đồng NVNONN và
khán giả nước ngoài, từ 1/1/1995, Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng chương
trình đối ngoại (VTV4) phủ sóng qua vệ tinh Staionnar – 13 của hệ thống
Intersputnik. Các khu vực có thể thu được là Châu Âu, Châu Á, Trung Cận
Đông. Thời gian phát sóng hàng ngày từ 21 giờ 45 đến 22 giờ 45 (giờ Hà Nội)”
[18,tr.115].
Sau một thời gian phát thử nghiệm, đến thàng 2/1998, VTV4 đã phủ sóng
tại Châu Á và Châu Âu 2 giờ/ngày với băng tần C. Năm 1999, với băng tần C và
KU, VTV4 nâng thời lượng lên 4 giờ/ngày. Năm 2000 sử dụng băng tần KU phủ
VTV4 còn cung cấp nhiều chương trình truyền hình giới thiệu về Việt Nam cho
các hãng truyền hình Scholar và CNN của Mỹ, Jump TV của Canada, KBS của
Hàn Quốc, NHK của Nhật Bản, Truyền hình Nga…
Việc cho ra đời chương trình VTV4 phát sóng ra nước ngoài đã khẳng
14
định sự quan tâm và chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đối với công
tác thông tin đối ngoại, đặc biệt cung cấp thông tin một cách đầy đủ, trung thực
và nhanh nhạy về tình hình của đất nước đến cộng đồng NVNONN. Đồng thời,
VTV4 cũng thường xuyên ghi nhận, phản ánh tâm tư nguyện vọng của kiều bào
trên khắp thế giới làm cơ sở cho Đảng, Nhà nước ta có những quyết sách phù
hợp trong công tác vận động tập hợp kiều bào. VTV4 còn đóng góp tích cực vào
cuộc đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động
đang nhằm vào chống phá Việt Nam.
1.2.2 Khán giả VTV4 – đối tượng công chúng đặc biệt
Là kênh THĐN nên đối tượng của chương trình VTV4 được xác
định: Thứ nhất là người nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài làm ăn, sinh
sống, học tập và đến du lịch tại Việt Nam) với các chương trình bản tin tiếng
Anh, tiếng Pháp. Đối tượng thứ hai là cộng đồng NVNONN với các chương
trình tiếng Việt, các chương trình có phụ đề. Đây là đối tượng công chúng có số
lượng đông đảo nhất mà VTV4 cần hướng tới. Ông Vũ Văn Hiến, Tổng giám
đốc Đài truyền hình Việt Nam cũng đã khẳng định: “Trong tình hình hiện nay,
kênh truyền hình VTV4 chủ yếu hướng tới cộng đồng kiều bào ta ở nước ngoài”
[7,tr. 75].
“Cây có cội, nước có nguồn”. Thực tế là, trong số hơn 3 triệu NVNONN,
trừ một số ít cố tình quay lưng lại với Tổ quốc, còn lại đa phần đồng bào dù ở
chân trời góc bể nào vẫn luôn hướng về quê hương với nỗi niềm đau đáu: “Chiều
chiếu ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” (Ca dao). Bởi,
trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người con xa xứ vẫn là nỗi nhớ thương da diết từng
con đường, góc phố, cây đa, bến nước, mái đình, những câu hò, điệu lý. Và,
VTV4 là nhịp cầu giúp những người Việt Nam xa xứ gần gũi, gắn bó hơn với
thế mạnh của NVNONN trước hết là về chất xám chứ chưa phải là kinh tế [14, tr
50].
16
Cũng theo khảo sát của các cơ quan chức năng, đội ngũ trí thức NVNONN
được đào tạo khá chính quy và được tiếp cận, cập nhật với những thành tựu mới
nhất của khoa học công nghệ cũng như khoa học xã hội, quản lý và kinh doanh.
Chỉ số học vấn đại học và trên đại học của người Việt Nam tại các nước phát
triển ở mức trung bình của người dân sở tại.
Ở nhiều nước, người Việt Nam sống tập trung thành những cộng đồng lớn như ở
Mỹ, Pháp, Ôxtrâylia, Canada, Lào, Thái Lan, Campuchia. Đây là những môi
trường thuận lợi để NVNONN tổ chức sinh hoạt cộng đồng như các lễ hội truyền
thống, duy trì ngôn ngữ tiếng Việt nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam,
Do những nguyên nhân, hoàn cảnh ra đi khác nhau đã tạo nên một cộng
đồng NVNONN phong phú, đa dạng về rất nhiều phương diện. Đây là một điểm
khác biệt khá điển hình so với nhiều cộng đồng kiểu dân khác. Trong số những
người Việt Nam định cư ở nước ngoài có: “Không ít người vẫn còn mặc cảm với
quá khứ “vượt biên”, thành kiến nặng nề hoặc thiếu hiểu biết về chế độ mới, một
ít còn mang trong mình tư tưởng hận thù cách mạng” [3, tr 21].
Đây chính là đặc điểm lớn nhất cần phải được nghiên cứu về cộng đồng
với tính cách là một đối tượng công chúng đặc biệt của VTV4. Bởi chính đặc
điểm này đã tạo nên thái độ và tâm lý tiếp nhận chương trình của từng nhóm
công chúng. Điều này được thể hiện: Những kiều bào có mong muốn được trở về
đóng góp xây dựng quê hương, họ luôn quan tâm theo dõi tìm hiểu thông tin về
Tổ quốc qua chương trình VTV4. Bên cạnh đó, cũng còn không ít người do mặc
cảm quá khứ nên chưa lần nào về nước hoặc vẫn giữ trong mình một hình ảnh
đất nước Việt Nam nghèo khó hoặc trì trệ, ảm đạm. Thêm vào đó là sự tác động
của báo chí và các đài phát thanh, truyền hình có quan điểm chống đối đã bóp
méo, xuyên tạc thông tin về đất nước nên bộ phận kiều bào này luôn có thái độ
ngờ vực với thông tin mà chương trình đưa ra.
trình truyền hình dành cho cộng đồng NVNONN.
1.2.3. Vai trò tổ chức thực hiện công tác TTĐN trên truyền hình của
VTV4
Theo Quyết định số 1139/QĐ – THVN ngày 11/11/2003 của Tổng giám đốc Đài
THVN: Ban THĐN là đơn vị sự nghiệp thuộc đài THVN, có chức năng sản xuất,
khai thác các chương trình truyền hình để phát trên kênh THĐN và các kênh
truyền hình khác của Đài THVN, cung cấp cho các Đài truyền hình nước ngoài
theo chỉ đạo của Tổng giám đốc trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng và
chính sách pháp luật của Nhà nước. Ban THĐN có nhiệm vụ, quyền hạn: xây
dựng kế hoạch công tác hàng năm và dài hạn, trong đó có kế hoạch về định
hướng tuyên truyền, sản xuất và khai thác các thể loại chương trình truyền hình
tuyên truyền đối ngoại và tổ chức thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt; đạo
diễn, sắp xếp, bố trí tuyên truyền phát song trên kênh THĐN (VTV4).
Mỗi tờ báo, chương trình phát thanh, truyền hình đều có tôn chỉ, mục đích
và phục vụ đối tượng công chúng đặc biệt. Nghiên cứu những yếu tố này không
chỉ xác định vai trò, nhiệm vụ của các cơ quan báo chí mà con góp phần nâng
cao chất lượng, hiệu quả thông tin tuyên truyền. Trên cơ sở chức năng, nhiệm
vụ, qua khảo sát thực tiễn, chúng tôi xác định vị trí, vai trò và nhiệm vụ của
VTV4 trong hệ thống các chương trình của Đài THVN như sau:
- VTV4 có vai trò quan trọng trong công tác thông tin tuyên truyền chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đến với cộng đồng NVNONN.
Với khả năng chuyển tải thông tin trực tiếp, không hạn chế bởi rào cản
biên giới, VTV4 có vai trò rất lớn trong việc tuyên truyền đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước đến với cộng đồng kiều bào một cách nhanh chóng và
tích cực. Qua thông tin trên VTV4, cộng đồng kiều bào hiểu rõ ràng, đầy đủ,
chân thực chủ trương đường lối của Đảng về tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội cũng như những chính sách pháp luật liên quan trực tiếp đến
cộng đồng và than nhân của kiều bào ở trong nước. Thời gian qua, bằng hoạt
19
động thông tin, tuyên truyền, VTV4 đã đóng góp hữu hiệu vào công tác vận
khán giả kiều bào quan tâm. Chuyên mục Việt Nam – Đất nước – Con người có
70.7 % số người được hỏi yêu thích. Với chuyên mục Việt Nam qua con mắt
người nước ngoài tỷ lệ này là 61.9% . Như vậy, có thể nói rằng với ưu thế của
mình bước đầu VTV4 đã làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu hình ảnh Việt
Nam giàu truyền thống lịch sử, văn hóa nhưng cũng năng động, đổi mới, thân
thiện và đầy tiềm năng đến với những bộ phận bạn bè quốc tế và cộng đồng
NVNONN. Trong rất nhiều yếu tố để tạo nên sự thu hút khách nước ngoài đến
du lịch Việt Nam những năm qua, chắc chắn có phần đóng góp tích cực của
VTV4 trong việc quảng bá, tạo ấn tượng về một Việt Nam: điểm đến an toàn và
thân thiện. Để phát huy thành quả được, cần phải có giải pháp nâng cao chất
lượng để VTV4 ngày càng thu hút đông hơn lượng khán giả đến với chương
trình.
- VTV4 là kênh thông tin đấu tranh dư luận hữu hiệu
Với thế mạnh đặc trưng của mình, VTV4 đã đẩy mạnh tuyên truyền
nhanh, kịp thời về các sự kiện, hiện tượng xảy ra có tính liên quan đến các nhu
cầu về nhận thức, thị hiếu và tình cảm của các kiều bào, qua đó định hướng tư
tưởng và hình thành dư luận xã hội sâu rộng theo hướng tích cực nhằm giải
quyết các nhiệm vụ chính trị đặt ra. Chương trình cũng đã phân tích, vạch trần
những thủ đoạn chính trị, những luận điệu, hành vi chống phá của các thế lực thù
địch, kiên quyết đấu tranh với âm mưu “diễn biến hòa bình”, giúp cộng đồng
NVNONN có những nhận thức, ứng xử đúng đắn. Cũng qua hoạt động này
chương tình còn nhận được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với
sự nghiệp cách mạng của Việt Nam.
Các thế lực thù địch thường lợi dụng những vấn đề dân tộc, miền múi, tôn
giáo, dân chủ nhân quyền để chống phá khối đại đoàn kết của ta; gây chia rẽ giữa
21
đồng bào trong nước với cộng đồng NVNONN. Xác định được âm mưu và
những thủ đoạn thâm độc đó là của kẻ thù, thời gian qua VTV4 đã bám sát định
hướng tuyên truyền chủ động đưa đến cộng đồng kiều bào ta đầy đủ thông tin về
lĩnh vực này. Trong hầu khắp các chương trình của VTV4, hình ảnh đất nước đối
đa dạng, truyền hình có khả năng tạo nên những cảm giác chân thật, đầy đủ cho
công chúng” [36, tr.120]. Thời gian qua VTV4 còn làm nhiệm vụ của một
trường học và của một nhà hát nhân dân, giúp công chúng NVNONN “thỏa mãn
nhu cầu nâng cao trình độ về mọi mặt và hưởng thụ văn hóa”
Kênh VTV4 đã lựa chọn và đưa lên sóng nhiều loại hình văn hóa như các
làn điệu dân ca của khắp ba miền; các vở chèo, cải lương tiêu biểu; giới thiệu
những lễ hội, văn hóa truyền thống của những miền quê Việt. Các chương trình
này vừa nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, vừa khơi dậy tinh thần gắn bó, niềm tự
hào về truyền thống văn hóa dân tộc, giúp cộng đồng NVNONN ‘hội nhập
nhưng không hòa tan” về văn hóa trên đất khách quê người.
Ngôn ngữ chính là biểu hiện đậm nét nhất của mỗi nền văn hóa, mỗi quốc
gia, dân tộc. VTV4 thời gian qua đã tham gia một cách có hiệu quả vào việc giúp
cộng đồng kiều bào ta có điều kiện duy trì ngôn ngữ tiếng Việt. Ngoài những
chương trình trực tiếp dạy tiếng Việt, thì chính những chương trình của VTV4 là
một môi trường thuận lợi để cộng đồng NVNONN, nhất là thế hệ kiều bào thứ
hai, thứ ba có điều kiện thực hành, học tập tiếng Việt một cách phong phú nhất.
Tóm lại: với khối lượng chương trình phát sóng đồ sộ và sự đa dạng,
phong phú về nội dung, đề tài phản ánh. VTV4 đã đóng góp vai trò to lớn trong
việc giúp cộng đồng NVNONN duy trì và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam.
*
Với những kết quả thiết thực trong việc thông tin tuyên truyền về đất
nước, con người Việt Nam đến với thế giới và cộng đồng NVNONN, VTV4 đã
23
khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống các chương trình truyền hình của Đài
THVN (gồm VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, VTV5 và VTV6). Cùng với chương
trình “Dành cho đồng bào ở xa Tổ quốc” của Đài Tiếng nói Việt Nam, các tờ
báo, bản tin đối ngoại của TTXVN, tạp chí “Quê hương” của UBVNVNONN và
nhiều tờ báo điện tử khác, chương trình VTV4 – Đài THVN đang từng ngày
từng giờ phát huy sức mạnh của mình trên mặt trận TTĐN, cung cấp lượng
thông tin phong phú, đa dạng, sinh động về mọi mặt đời sống xã hội của đất
Đài THVN, đó là một bản tin còn khá đơn giản, và chủ yếu khai thác lại toàn bộ
thông tin của bản tin thời sự tiếng Việt của VTV1. Sau một thời gian khi Ban
THĐN được chính thức thành lập vào ngày 1/1/1995, BTTA trở thành một
chương trình chính thuộc Ban THĐN VTV4. Cho đến thời điểm này, BTTA đã
trở thành một chương trình quan trọng có những đóng góp tích cực cho sự phát
triển của Ban THĐN nói riêng và cho sự nghiệp thực hiện công tác TTĐN của
nước ta.
1.3.1. Đối tượng công chúng của BTTA trên VTV4
Là một chương trình của VTV4 do vậy dĩ nhiên những đối tượng công
chúng đặc biệt của kênh THĐN VTV4 cũng chính là đối tượng của bản tin tiếng
Anh. Tuy nhiên, bản tin tiếng Anh cũng có những đối tượng riêng của mình. Thứ
nhất là người nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài làm ăn, sinh sống, học
tập và đến du lịch ở Việt Nam). Đối tượng thứ hai là lực lượng đông đảo nhất mà
VTV4 hướng tới, đó chính là cộng đồng NVNONN, đặc biệt là thế hệ kiều bào
thứ hai, thứ ba, những người không biết hoặc biết rất ít tiếng Việt nhưng rất quan
tâm đến tình hình quê hương, cội nguồn.
25