Pushkin và sứ mệnh hoà
giải của nước Nga
Như vậy, phương Đông trong cảm quan của nhà tư tưởng Pushkin từ những năm
30 trở đi có sự thay đổi căn bản. Chuyến đi Arzrum là sự hiện thực hoá những xung động
nội tại, khẳng định sự chiếm lĩnh của chủ nghĩa hiện thực trong mắt xích chủ chốt nhất
của văn học – đó là văn xuôi. Tuy nhiên, thể loại không phải là vấn đề mấu chốt duy
nhất, mà chính là sự thay đổi quan niệm đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ mới: đi sâu tối đa
vào thực chất của thế giới phương Đông, không chỉ ở cấu trúc xã hội mà cả trong tâm lí
mang dấu ấn văn hoá và tôn giáo của con người phương Đông. Nhớ lại những sự kiện
xảy ra trong hai chuyến đi trước, Pushkin ghi nhận sự căm ghét của người Cherkes đối
với người Nga, sự bất hợp tác của các nước láng giềng Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư cũng như các
bộ tộc ở Kavcaz với dân tộc Nga. Một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình
trạng đó, theo Pushkin, là vấn đề cưỡng bức tôn giáo. Ông không tán thành việc Chính
thống giáo hoá bằng vũ lực đối với các nước phong kiến gia trưởng mà phần đông dân
số theo đạo Hồi, lí giải rằng mọi sự tiếp nhận hình thức mới của văn hoá – xã hội, nhất
là vấn đề đức tin, cần phải xuất phát từ thực trạng và nhu cầu nội tại của đối tượng.
Trở lên trên cho thấy đề tài phương Đông của Pushkin gắn bó chặt chẽ và có sự
chuyển biến với quá trình nhận thức và suy ngẫm về lịch sử, đưa đến một định hướng
mới về quan điểm nghệ thuật cũng như tư tưởng triết học của ông vào những năm cuối
đời: một mặt, ông bác bỏ cái nhìn lãng mạn hoá hiện thực phương Đông, đề nghị một cái
nhìn chân thực và thiết thực trong vẻ đẹp thẩm mĩ ở chiều cao mới; mặt khác, nhân danh
sự khải hoàn của những tình cảm thánh thiện nhân loại, ông đòi hỏi sự cần thiết những
nguyên tắc nhân đạo mới trong mối quan hệ của nước Nga trung tâm với các dân tộc
phương Đông, đồng thời yêu cầu sự cải tạo xã hội để những vùng đất đó tiến kịp với nền
thảo nguyên phương Đông. Nền khai minh châu Âu đang phôi thai được cứu vớt bởi
nước Nga kiệt quệ, tan tác”
(8)
.
Ách đô hộ Mông – Thát đã dựng lên bức tường thành
ngăn cách Nga với châu Âu trong suốt một thời gian dài, tạo nên sự cách biệt về tốc độ
và phương hướng phát triển.
Chỉ rõ nguyên nhân khiến nước Nga tách biệt khỏi châu Âu, một mặt Pushkin
muốn nước Nga nhanh chóng hội nhập với tiến trình phát triển chung của châu Âu,
nhưng mặt khác, vẫn giữ cho mình một mô hình riêng phù hợp với đặc điểm dân tộc.
Trong bài Phác thảo về văn học Nga (1830), ông đánh giá cao những nỗ lực của các sa
hoàng Ivan đệ Tứ, Boris Godunov, Piot’r đệ Nhất
trong việc đưa nước Nga gia nhập vào
tiến trình văn minh chung của châu Âu; đồng thời ông cũng đưa ra luận điểm rằng nước
Nga cần một công thức riêng, phù hợp với lịch sử và con người Nga. Công thức đó
là một nhà nước quý tộc với 3 đặc điểm chủ yếu: tự do, khai minh và quân chủ, mà trụ
cột là Chính thống giáo. Theo Pushkin, nền khai minh đã đến Nga từ phương Tây,
còn tự do là cái mà Nga cần phải tự mình vươn tới. Pushkin chờ đợi điều ấy ở các lãnh
tụ, ở đạo đức và trách nhiệm của các bậc quân vương, ở sự quy thuận của họ trước Luật
pháp tự nhiên (mà ông viết hoa) – nó vượt lên trên nhân dân và vượt lên cá nhân cầm
quyền, như quy luật vĩnh hằng. Trong bài tụng ca Tự do (1817), nhà thơ 18 tuổi đã nồng
nhiệt ngợi ca những gì mà tự do có thể đảm bảo, và, nhân danh tự do, kêu gọi sự quy
thuận Luật thiêng:
Xin tạc dạ hỡi bậc chúa vua:
Dù hình phạt quyền uy ngục tối
Dù tụng ca ban phát lộc ân
Sẽ không mãi là lá chắn vững bền
Chỉ tự do và cuộc sống bình yên
Pushkin sống vào thời đại của các cuộc cách mạng tư sản châu Âu – những cuộc
cách mạng mà nước Nga còn lâu mới đi đến. Quốc gia Nga lúc bấy giờ là một đất nước
phong kiến gia trưởng, tuy lạc hậu, nhưng trẻ trung, đầy nhiệt huyết sau chiến thắng
Napoleon, đang cần hướng đến, như Pushkin nghĩ, con đường cải cách xã hội, chứ
không phải là dùng bạo lực đánh đổ một thể chế nhà nước này để xây nên một thể chế
khác. Xuất thân từ một dòng họ quý tộc thế truyền, Pushkin luôn tiếc thương cho sự sụp
đổ của các dòng tộc quý tộc Nga cổ xưa. Nếu như ông có những phản ứng với “lề thói
quý tộc”, thì không có nghĩa là ông bác bỏ thể chế nhà nước
(12)
. Càng về cuối đời ông
càng khẳng định hình thức duy nhất của nước Nga là nhà nước quân chủ quý tộc. Theo
ông, bậc quân vương nào bảo đảm được tự do và phát triển văn minh thì sẽ có một quốc
gia lí tưởng, và có lúc ông đã hy vọng điều ấy ở nhà đương quyền Nicolai đệ Nhất.
Trong thực tế, dưới chế độ quân chủ, để bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm
quyền, luật pháp cần thiết như lực lượng thanh trừng khốc liệt. Pushkin nhận thấy
điều đó và phản ánh rõ trong những tác phẩm cuối đời của mình (Andzelo –
1833, Người con gái viên đại uý – 1836). Dựa vào nền tảng của Chính thống giáo,
ông đi đến giải pháp là cầu mong lòng nhân từ của đấng quân vương. Masa Mironova
nói với nữ hoàng: “Thần thiếp đến đây không phải đòi hỏi công lí mà là cúi xin lòng
nhân từ”. Và cô gái côi cút ấy đã nhận được sự từ tâm của Ekaterina đệ Nhị, như
một Luật thiêng từ trên ban xuống, cứu xét. Trong bài tụng ca cuối cùng Đài kỉ
niệm (1836), Pushkin một lần nữa nhắc đến phẩm chất này, nhưng là của nhà thơ
nhân dân, vì, như ông từng khẳng định “Lịch sử của dân tộc thuộc về nhà thơ”:
Và nhân thế sẽ còn yêu ta mãi
Vì đàn thơ ta thức tỉnh tình thân ái,
Vì trong thủa bạo tàn ta ca ngợi tự do
Và gợi từ tâm với những kẻ sa cơ.
(Thuý Toàn dịch)
Những suy ngẫm của Pushkin về lịch sử, số phận và con đường của nước Nga
có tầm vóc và ý nghĩa triết học – triết học của sự thông minh bằng trái tim. V.
Chính bởi vậy, khi viết về hai nơi này, bao giờ câu thơ ông cũng như rưng rưng nước
mắt:
Bốn phương xa lạ không nhà
Hoàng Thôn – nơi ấy mới là quê hương
Những gì bắt nguồn sâu từ cội rễ thân thuộc, khi đạt đến độ chín nhất sẽ càng mở
rộng tinh thần nhân loại và làm cho chúng dễ thụ cảm đối với bất kì cư dân nào trên mọi
miền của thế giới. Thiên tài của Pushkin chính là sự nhận biết hết sức minh triết về hiện
thực lịch sử, là khả năng hết sức tuyệt vời dung hòa những khuynh hướng khác nhau.
Phản đối khuynh hướng “sùng phương Tây” cực đoan của Chaadaev, Pushkin ra sức bảo
vệ những giá trị đặc sắc của văn hóa truyền thống Nga; chống lại “chủ nghĩa Slave”, ông
khẳng định ưu thế của văn hoá phương Tây và sự cần thiết của nó đối với nước Nga.
Đây tuyệt nhiên không phải là một phép nhào trộn cơ học thô thiển, cũng không phải là
sự đề xướng một “con đường thứ ba” trung lập nào đó. Đây là một sự tổng hợp mà cơ sở
hợp lí của nó xuất phát từ lịch sử và đời sống hiện thực. Trong sự tổng hợp này thể hiện
rất rõ sự tiếp cận và lựa chọn thông thái và độc lập.
Lãnh sứ mệnh thực thi cuộc tổng hoà giải các dân tộc, nước Nga đồng thời không
phải một lần nhận về mình những thua thiệt trong sự nhịn nhường của đức tính Chính
thống giáo. Đứng từ điểm hiện tại, nhìn lại toàn bộ con đường lịch sử dân tộc Nga đi
qua, người ta ngạc nhiên về tính chính xác trong lời tiên tri của Pushkin về sứ mệnh và
số phận của nước Nga. Trong trước tác của mình, hơn một lần Pushkin từng phát ngôn:
“Nước Nga bị phán xử nặng hơn châu Âu” (“Россия […] есть судилище, приказ
Европы”). Cùng chung với châu Âu nhiều xuất phát điểm trên con đường hình thành và
phát triển, nước Nga bị chiêu gọi phải trải qua những bước đi khốc hại, che chắn cho
châu Âu, tự nhận về mình những cú đập. Ở thế kỉ xa xưa, gần như sắp tắt thở, nó đã
chặn đứng vó ngựa của Mông Cổ đến từ phương Đông, để nền khai minh châu Âu vừa
mới phôi thai được tiếp tục phát triển, còn mình dừng lại gánh lấy sự tàn phá, tụt hậu. Ở
thế kỉ XIX, vai trò “thanh kiếm và lá chắn” của nước Nga lại tiếp tục phát huy: năm
1812, nước Nga lại gánh lấy trọng trách cứu châu Âu thoát khỏi thảm hoạ xâm lăng từ
phương Tây của Napoleon đệ Nhất. Những gì nước Nga trải qua trong thế kỉ XX này
càng khẳng định tính xác thực của mệnh đề Pushkin nêu. Trong đệ Nhị Thế chiến và