www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội, từ Đại hội VI lịch sử - đại hội mở
ra thời kỳ đổi mới, đến nay đã luôn kiên trì và không ngừng phát triển đường lối đối
ngoại đổi mới, trong đó có đối ngoại về kinh tế. Quan điểm chủ đạo của chính sách
kinh tế đối ngoại nước ta được Đảng ta khẳng định là: “Tiếp tục thực hiện đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với
tinh thần Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì
hòa bình, độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các
nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng,
cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng thương lượng”.
Riêng về kinh tế, Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định nhiệm
vụ: “mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại chủ động, tham gia các tổ chức quốc tế và khu
vực, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế”. Đại hội IX tiếp tục
khẳng định: “Phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”. Nghị
quyết 7 của Bộ Chính trị khóa IX một lần nữa khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng XHCN bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh
quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”.
Từ những quan điểm chỉ đạo của Đảng, ta nhận thấy việc hội nhập kinh tế quốc
tế là điều tất yếu khách quan. Hơn nữa, việc hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thúc đẩy sự
phát triển của kinh tế, xã hội của một quốc gia đi lên, và quan trọng là sẽ có nhiều cơ
hội thu hút đầu tư từ nước ngoài đổ vào, đặc biệt là những nước còn chậm phát triển.
Việt Nam ngoài những thuận lợi đáng kể về mặt vị trí địa lý, tự nhiên, chính trị, kinh
thu hút đầu tư nước ngoài đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong
chiến lược phát triển KT - XH của thành phố Đà Nẵng. Hơn nữa, hoạt động của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm cho tình hình kinh tế có sự
chuyển biến mạnh mẽ với sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần
kinh tế; giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên,
trong hoạt động thu hút và quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vẫn còn những hạn chế, yếu kém; trong đó công tác QLNN cũng là một nguyên
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 3
nhân quan trọng. Là một đứa con được sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng, SVTT cũng
mong muốn đóng góp chút sức mình vào công cuộc đổi mới của thành phố. Chính vì
thế SVTT chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là “Quản lý nhà nước đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”
nhằm tìm ra các nguyên nhân gây ra tình trạng hạn chế, yếu kém của công tác QLNN
và một số giải pháp để khắc phục tình trạng trên, từ đó sẽ tạo nên động lực lớn cho
việc thu hút FDI và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại thành phố trong tương lai.
2. Mục đích nhiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm:
- Trình bày cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn về doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài, khẳng định vai trò của loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh
tế; nêu lên sự cần thiết khách quan QLHCNN đối với loại hình doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay.
- Nêu hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng và đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với các doanh
nghiệp đó, các thành tựu đạt được, một số hạn chế, yếu kém cần khắc phục và chỉ ra
các nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém đó.
- Đưa ra phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
địa bàn thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó đề tài đề xuất các giải pháp cụ thể như sau:
- Quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch, chuẩn bị sẵn quỹ đất để thu hút
đầu tư hiệu quả, không làm nản lòng các nhà đầu tư.
- Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, chính sách theo hướng kích cầu đầu tư
cởi mở, thông thoáng.
- Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian phê duyệt, thẩm định các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao.
- Chuẩn bị các điều kiện cơ sở vật chất tốt nhất để tiếp đón nhà đầu tư.
- Tập trung nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư.
- Tổ chức bộ máy QLNN về đầu tư theo hướng đơn giản, hiệu quả.
- Kết hợp kiểm tra định kỳ và đột xuất để chấn chỉnh hoạt động của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp, kịp thời phát hiện các sai phạm để có những phương
hướng khắc phục.
6. Bố cục
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 5
Đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Chương II: Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Chương III: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà
nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng.
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Lý luận QLNN và sự cần thiết của QLNN đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Lý luận QLNN nói chung
Có nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “quản lý”. Theo bản thân SV thì
“quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng những
phương tiện khác nhau nhằm đạt được mục tiêu nhất định”.
Nhà nước là thiết chế quyền lực công, đại diện cho toàn thể nhân dân quản lý
mọi mặt của đời sống xã hội. Nhà nước có những quyền lực đặc biệt, nắm trong tay
những công cụ quản lý đặc biệt, đảm bảo thực hiện quyền lợi của giai cấp thống trị và
quyền lợi của toàn xã hội. Vì vậy, có thể định nghĩa quản lý nhà nước như sau:
“Quản lý Nhà nước là tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước
bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng của
nhà nước trên cơ sở pháp luật”.
1.1.2 Lý luận QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
a. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư nước ngoài (đầu tư quốc tế) là một hình thức của đầu tư, từ đó xuất khẩu
tư bản, đưa tư bản ra nước ngoài kinh doanh, một hình thức quan hệ kinh tế quốc tế,
qua đó tư bản của nước này di chuyển qua nước khác nhằm mục đích trực tiếp kinh
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 7
doanh thu lợi nhuận. Ngoài ra còn có các hình thức viện trợ cho vay, viện trợ không
hoàn lại không nhằm mục đích kinh doanh.
Đầu tư quốc tế chủ yếu gồm các hình thức: đầu tư một chiều như viện trợ không
hoàn lại; đầu tư tín dụng không có lãi hoặc lãi nhẹ; đầu tư có tính chất công như: đầu
- Về phân chia lợi nhuận: Dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ đều được
phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ các khoản đóng góp.
Do đó, có thể định nghĩa khái quát đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “đầu tư
trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông
qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư đồng thời trực
tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ
công nghệ, kinh nghiệm quản lý… nhằm mục đích thu lợi nhuận”.
b. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Chính phủ Việt Nam
đã cấp giấy phép cho nhiều loại hình đầu tư. Tuy nhiên có các loại hình đầu tư trực
tiếp nước ngoài thường gặp đó là: Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business
Cooperation Contact - BCC); Doanh nghiệp liên doanh (Join Venture Enterprise - JVE);
Doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài (Enterprise with one hundred percent
foreign owned capital); Hợp đồng liên doanh; Hợp đồng phân chia sản phẩm
(Production Sharing Contract - PSC); Hình thức đầu tư thuê thiết bị
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contact - BCC):
Là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh
được ký kết giữa hai bên hay nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt
động kinh doanh tại nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia
kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không thành lập một xí nghiệp liên
doanh hoặc pháp nhân mới.
- Doanh nghiệp liên doanh (Join Venture Enterprise - JVE):
Đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó pháp nhân mới được thành
lập gọi là doanh nghiệp liên doanh - là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên
kết của các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo luật pháp của nước chủ nhà; các
bên tham gia liên doanh sẽ chịu trách nhiệm lẫn nhau trong phạm vi phần vốn góp của
mình vào liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (Enterprise with one hundred
percent foreign owned capital):
www.HanhChinhVN.com
Hợp đồng này quy định nhà đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn để tìm kiếm, thăm
dò và khai thác tài nguyên trên nước sở tại. Nếu tìm và khai thác được sản phẩm thì
thỏa thuận phân chia sản phẩm theo nguyên tắc:
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 10
Nước chủ nhà được hưởng tỷ lệ lớn hơn chủ đầu tư trong tổng số tiền bán sản
phẩm đối với mỏ có trữ lượng lớn, thời gian khai thác dài; và hưởng tỷ lệ nhỏ hơn chủ
đầu tư trong tổng số tiền bán sản phẩm đối với mỏ có sản lượng nhỏ, thời gian khai
thác ngắn.
Nếu không tìm thấy sản phẩm hoặc không đủ sản lượng công nghiệp để khai
thác thì nhà đầu tư phải chịu 100% rủi ro.
- Hình thức đầu tư thuê thiết bị: bao gồm thuê vận hành và thuê tài chính.
+ Thuê vận hành: là hình thức đầu tư nước ngoài trong đó nhà đầu tư cho nước
sở tại thuê thiết bị hiên đại. Tiền thuê thiết bị được tính theo sản lượng sản phẩm làm
ra trên thiết bị đó. Phía nước ngoài hướng dẫn kỹ thuật và sáng tạo mẫu mã, cùng lo
tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong nước. Hình thức này hiện đang được áp dụng
phổ biến tại các nước chậm và đang phát triển.
+ Thuê tài chính: là một hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua mua máy
móc - thiết bị và các động sản khác. Bên cho thuê cam kết mua máy móc - thiết bị và
động sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên
thuê sử dụng tài sản thuê và không được hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn. Khi kết thúc
thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục mua lại tài
sản đó theo các điều kiện đã được thỏa thuận trong hợp đồng thuê.
Ngoài ra còn có một số hình thức khác chưa thông dụng tại Việt Nam như:
- Hình thức đầu tư LDO (Lease - Develop - Operate): Cho thuê - Nâng cấp -
Kinh doanh công trình:
Nhà nước sở tại cho thuê công trình; nhà thầu nâng cấp và khai thác, kinh
doanh công trình trong thời hạn nhất định, sau đó chuyển giao cho nước chủ nhà.
doanh và doanh nghiệp của tư bản nước ngoài. Trong các doanh nghiệp này, quan hệ
chủ - thợ, quan hệ chủ nước ngoài - thợ bản xứ là vấn đề chính trị. Vấn đề bóc lột lao
động làm thuê, vấn đề bình đẳng dân tộc là những vấn đề thường trực trong các doanh
nghiệp thuộc loại nói trên. Với tính chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của mình,
Nhà nước không thể đứng ngoài cuộc, mà phải quan tâm điều chỉnh các quan hệ trên
trong các doanh nghiệp có vấn đề đã nêu.
Thứ hai, sự mâu thuẫn lợi ích quyết liệt giữa các doanh nhân trên thị trường.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nhân tham gia nhiều mối quan hệ lợi
ích, các quan hệ này có khả năng dẫn tới xung đột mà chỉ Nhà nước mới có khả năng
xử lý thăng bằng các xung đột đó.
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 12
Bản chất của sản xuất kinh doanh là kiếm lời. Do đó, mâu thuẫn giữa các doanh
nhân với nhau và với các đối tác khác có quan hệ với các doanh nhân là lẽ đương
nhiên, nó bao gồm các quan hệ sau:
- Quan hệ giữa các doanh nhân với nhau. Thuộc các đối tác này có nhiều nội
dung quan hệ cụ thể: quan hệ hàng - tiền với rất nhiều chi tiết liên quan đến hàng;
quan hệ cổ phần, cổ phiếu trong việc chia lời lãi; quan hệ tranh chấp tài nguyên môi
trường khi hoạt động liền kề bên nhau.
- Quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp.
Thuộc quan hệ này cũng có nhiều nội dung cụ thể, nhưng tựu trung là quan hệ lao
động - tiền công - điều kiện làm việc - thái độ đối xử với thợ - sự tuân thủ hợp đồng và
thỏa ước lao động giữa đôi bên.
- Quan hệ giữa doanh nhân với xã hội nói chung thông qua hành vi của họ trong
việc sử dụng tài nguyên, môi trường, bảo đảm chất lượng sản phẩm, bảo vệ bí mật
quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội…
Thứ ba, sự hữu hạn giữa các doanh nhân trong việc xử lý các vấn đề sản xuất
kinh doanh của họ.
biệt của doanh nhân trong kinh tế đối ngoại.
Doanh nhân trong hoạt động kinh tế đối ngoại cần đến nhà nước vì:
- Quan hệ xã hội trong kinh tế đối ngoại vượt khỏi tầm quốc gia, là thứ quan hệ
mà nhà nước mới có đủ tư cách pháp lý và đủ khả năng giúp các doanh nhân vận động
tốt trên thị trường quốc tế.
- Kinh tế đối ngoại là hoạt động kinh tế lớn về quy mô, phức tạp về khoa học và
công nghệ, nên doanh nhân trên mặt trận này hơn mọi doanh nhân khác trong việc cần
có sự hỗ trợ về tri thức, về vốn từ phía Nhà nước.
- Kinh tế đối ngoại là một địa bàn vừa rộng vừa đầy bắt trắc, bí hiểm và phức
tạp, chỉ có thể dựa vào nhà nước doanh nhân mới có thể yên tâm hoạt động.
1.2. Hiệu lực, hiệu quả, cơ sở pháp lý, hệ thống tổ chức QLNN đối với
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài
a. Hiệu lực, hiệu quả nói chung
- Hiệu lực là khả năng và tác dụng thực tế của một cơ quan, một tổ chức, một
nhà nước thực hiện có kết quả chức năng quản lý của mình. Một cơ quan nhà nước
quản lý có hiệu lực là biết sử dụng đúng đắn các quyền hạn, thẩm quyền, các phương
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 14
pháp và công cụ pháp lý về các mặt (luật pháp, hành chính, tổ chức), các phương pháp
tư tưởng, tâm lý cũng như các phương tiện vật chất, đề ra những quyết định hợp pháp,
hợp lý, đúng lúc và những biện pháp đúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả.
Hiệu lực gồm có hiệu lực chấp hành, hiệu lực hồi tố và hiệu lực pháp luật.
Khóa luận muốn nhấn mạnh đến hiệu lực pháp luật (hay còn gọi là hiệu lực của
các văn bản quy phạm pháp luật): là giá trị theo thứ tự cao thấp của một văn bản quy
phạm pháp luật trong hệ thống các hình thức pháp luật của nhà nước.
tiếp nước ngoài
QLNN là sự quản lý bằng pháp luật của Nhà nước để thực hiện quyền lực nhà
nước. QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước
đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát
triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và
nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN.
Theo từ điển thuật ngữ Hành chính thì: “Hiệu quả là kết quả thực hiện một chủ
trương, chính sách được xác định qua việc so sánh các kết quả đạt được với toàn bộ
các nguồn lực đã sử dụng. Hiệu quả thể hiện ở kết quả đạt được là tối đa, trong khi
chi phí là tối thiểu”.
“Hiệu quả QLHCNN là mối tương quan giữa kết quả thu được tối đa so với chi
phí thực hiện kết quả đó ở mức tối thiểu”. (Theo Giáo trình Tổ chức Hành chính Nhà
nước, Học viện Hành chính Quốc gia)
Trong khuôn khổ của hoạt động QLHCNN, cần đặt thuật ngữ “hiệu quả” trong
mối quan hệ biện chứng với các thuật ngữ khác, đặc biệt là thuật ngữ “hiệu lực”. Theo
nghĩa chung nhất, hiệu lực QLHCNN nhằm chỉ kết quả đạt được, tức tạo ra sản phẩm
nếu đó là một quyết định sản xuất, trong khi hiệu quả thường được xem xét gắn liền
với cả chu trình, quá trình nhằm tạo ra sản phẩm đó. Hiệu quả thường gắn với kết quả
và chi phí.
Trong khá nhiều trường hợp, quyền lực không gắn liền với hiệu lực. Trong
trường hợp các quyết định QLHCNN, kể cả các quyết định mang tính cưỡng chế
không được thi hành, thì các quyết định đó không có hiệu lực. Hiệu lực của quyết định
gắn liền với tính khả thi của cơ quan hành pháp. Không ít các quyết định ban hành ra
vừa thiếu tính pháp lý, vừa thiếu tính thực tiễn, do đó hiệu lực thấp hoặc không có hiệu
lực.
Như vậy, hiệu quả và hiệu lực là hai vấn đề có mối quan hệ tương hỗ mật thiết
với nhau trong hoạt động QLNN. Việc đánh giá hiệu lực và hiệu quả hoạt động
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 17
Để đánh giá được một cách toàn diện hơn khía cạnh phát triển bền vững trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, trên thế giới đã sử dụng nhiều
đến bộ tiêu chí “Phát triển bền vững Dow - Jones” (Dow - Jones Sustainability
Indexes). Bộ tiêu chí Dow - Jones được công bố vào năm 1999. Đây là bộ tiêu chí đầu
tiên trên thế giới được thiết lập nhằm đánh giá thành tích trên ba chiều kích của phát
triển bền vững là kinh tế, môi trường và xã hội của các doanh nghiệp lớn. Bộ tiêu chí
được thể hiện như sau:
Các chiều kích
của phát triển
bền vững
Các chỉ tiêu
Trọng số của các
chỉ tiêu (%)
Kinh tế
- Qui tắc ứng xử/ tuân theo luật lệ/ hối lộ - đút lót
- Quản trị doanh nghiệp
- Quản trị rủi ro và khủng hoảng
- Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề
5.5
6.0
6.0
Tùy theo ngành
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 18
Các trọng số nói trên được xác định bởi phương pháp chuyên gia hay phương
pháp xã hội học, các chỉ tiêu được thể hiện bằng các câu hỏi cụ thể để đo lường và
người đứng đầu doanh nghiệp sẽ phải cung cấp câu trả lời.
Chẳng hạn đối với thành tích về môi trường, doanh nghiệp sẽ cho biết trong
năm qua hoạt động sản xuất và kinh doanh của họ đã thải bao nhiêu lượng khí CO
2
,
lượng nước sạch đã sử dụng, tổng lượng các loại năng lượng (điện, xăng dầu…) đã sử
dụng, lượng rác thải… Doanh nghiệp cũng phải giải trình về chiến lược của mình
trong tương lai xem có giảm thiểu các chỉ số trên dần dần hay không.
Về khía cạnh xã hội, doanh nghiệp sẽ phải cho biết có sự phân biệt đối xử về
giới tính trong vấn đề lương bổng hay không (lương trung bình của lao động nam và
lao động nữ); tỷ lệ nữ đảm trách các trách nhiệm lãnh đạo; khả năng tự do lập hội của
người lao động; vấn đề đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao động; tổng kinh
phí mà doanh nghiệp đã dùng cho các hoạt động từ thiện…
Dựa trên các tiêu chí của Bộ tiêu chí Dow - Jones thì ta có thể xác định được
hiệu lực và hiệu quả kinh tế, xã hội mà một doanh nghiệp mang lại, trong đó để đánh
giá các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ yếu.
1.2.2. Cơ sở pháp lý về QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài
Cơ sở pháp lý là những điều kiện thuộc về luật lệ do nhà nước quy định, từ đó
làm cơ sở để xuất phát một việc có qui mô đáng kể để quản lý những đối tượng cần
thiết.
Các cơ sở pháp lý để căn cứ vào đó mà tiến hành công tác QLNN đối với các
hoạt động thu hút đầu tư và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là hệ
thống luật, các văn bản dưới luật có quy định về các vấn đề nêu trên, như:
- Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
lý nhà nước đối với việc thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài.
- Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo
sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan QLNN đối với việc
thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở TW trong việc quản lý nhà nước đối với thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt
động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 20
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện QLNN đối với việc
thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại địa phương, cụ thể hóa chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính
sách phát huy tiềm năng để thu hút đầu tư và quản lý hoạt động của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phù hợp với thực tế địa phương.
Tổ chức bộ máy QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài:
- Ở Trung ương:
Cơ quan QLNN ở cấp TW là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Các cơ quan chức năng
làm nhiệm vụ quản lý nhà nước thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư bao gồm: Văn phòng
Bộ; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân; Vụ Kinh tế địa phương và
lãnh thổ; Vụ Tài chính, tiền tệ; Tổng cục thống kê; Cục phát triển doanh nghiệp; Vụ
Kinh tế đối ngoại; Vụ Kinh tế dịch vụ; Cục Đầu tư nước ngoài; Vụ Quản lý các khu
kinh tế; Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư; Cục Quản lý đấu thầu; Vụ Kinh tế công
nghiệp; Vụ Kinh tế nông nghiệp; Vụ Kết cấu hạ tầng và Đô thị; Vụ Lao động, Văn
hóa, Xã hội; Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường; Vụ Quốc phòng - An
ninh; Vụ Pháp chế; Vụ Hợp tác xã; Thanh tra Bộ; Vụ Quản lý quy hoạch, Vụ Thi đua -
khen thưởng.
hiện các văn bản quy phạm pháp luật về kế hoạch và đầu tư ở địa phương, trong đó có
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH của cả nước đã được phê duyệt và
những vấn đề có liên quan đến việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát
triển KT - XH của thành phố.
+ Trình UBND thành phố quyết định việc phân cấp quản lý các lĩnh vực kế
hoạch và đầu tư cho UBND cấp Quận, Huyện và các Sở, ban, ngành của thành phố;
hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các quy định phân cấp đó.
+ Quản lý các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực như: quy hoạch, kế hoạch; đầu
tư trong nước và ngoài nước; quản lý ODA; quản lý đấu thầu; quản lý các khu công
nghiệp, khu chế xuất; quản lý các doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh và kinh tế hợp
tác xã…
+ Chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành đề xuất các mô hình và cơ chế, chính
sách đối với kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình trên địa bàn; hướng dẫn, theo dõi, tổng
hợp báo cáo UBND thành phố và Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tình hình phát triển kinh
tế hợp tác xã, kinh tế gia đình của thành phố.
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 22
+ Giúp UBND thành phố chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho cơ
quan chuyên môn của UBND các quận, huyện thực hiện nhiệm vụ QLNN về kế hoạch
và đầu tư trên địa bàn; theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
+ Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật và thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư theo quy định
của pháp luật. Tổ chức quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp,
dịch vụ công thuộc Sở.
+ Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, tiêu cực;
xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư thuộc thẩm quyền của
Sở.
+ Tổng hợp, thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ
kinh tế độc lập tự chủ và thực hiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó tạo sự
năng động cho nền kinh tế nhiều thành phần trong nước.
Thứ ba, phải đặt nhiệm vụ thu hút, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài là bộ phận khăng khít của chính sách phát triển kinh tế đối ngoại và
chiến lược phát triển KT - XH, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò là
động lực, nguồn lực quan trọng thúc đẩy quá trình CNH - HĐH đất nước.
Thứ tư, đẩy mạnh việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải gắn
liền với việc nâng cao hiệu quả trong phân bố, sử dụng một cách toàn diện và hợp lý
để phát huy cao nhất vai trò, tác dụng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế nước ta. Bên cạnh đó, các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tạo ra động lực phát triển KT - XH,
giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.
Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài phải góp phần thúc đẩy tiến bộ, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và
bảo vệ môi trường.
1.3.2. Định hướng QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Theo tìm hiểu của SV thì định hướng tức là xác định phương hướng cho một
vấn đề hay một mục tiêu nào đó nhất định.
Từ những quan điểm cơ bản về thu hút, sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài và
hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Đảng và Nhà
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Huy Hoàng
SVTT: Nguyễn Thị Thanh Hải Trang 24
nước ta tiếp tục đưa ra những chủ trương, định hướng cụ thể về các vấn đề nêu trên,
bao gồm những nội dung sau:
- Ưu tiên thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp đặc biệt sử dụng công nghệ
cao, gồm công nghệ thông tin, điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…; chú trọng
công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Hỳ, EU, Nhật Bản; hết
xuất và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1.4. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới và các địa phương khác ở
Việt Nam
1.4.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
a. Trung Quốc
Đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc đã tăng với vận tốc kỷ lục trong năm
2002 về cả số dự án, số vốn cam kết và thực hiện… Nước này lần đầu tiên vươn tới vị
trí dẫn đầu thế giới về tiếp nhận FDI, đẩy Hoa Kỳ xuống hàng thứ hai. Tại thời điểm
đó, đã có gần 400 trong tổng số 500 công ty lớn nhất thế giới đã đầu tư vào Trung
Quốc, cho thấy sức hấp dẫn mạnh mẽ của mảnh đất này đối với thương nhân toàn cầu.
Vậy “bí quyết” nào để thu hút FDI mạnh mẽ như vậy? Đó là nhờ có sự thống nhất cao
trong quan điểm về FDI không chỉ trong giới lãnh đạo cao cấp, mà còn tới từng địa
phương, từng doanh nghiệp thậm chí tới mỗi người dân. Mọi giới ở Trung Quốc đều
nhận thức rất rõ về vai trò và tầm quan trọng của FDI, từ TW đến địa phương, nơi nào
cũng hiểu rằng thu hút FDI là yêu cầu cấp bách để phát triển kinh tế.
Hơn nữa Trung Quốc rất nhất quán thực hiện chính sách coi kinh tế là trọng
tâm. Họ không phân biệt nguồn lực nhà nước, tư nhân hay nước ngoài, miễn là có ích
cho sự phát triển của đất nước thì đều được khuyến khích phát huy.
3 giai đoạn của FDI ở Trung Quốc:
- 1979 - 1991: Giai đoạn thử nghiệm với các khoản đầu tư quy mô nhỏ.
Nguồn vốn chủ yếu đến từ cộng đồng Hoa kiều ở nước ngoài. Lĩnh vực đầu tư là các
ngành cần nhiều lao động.
- 1992 - 2000: FDI phát triển đến quy mô lớn, bài bản. Bước ngoặt được tạo
ra từ chuyến công du miền Nam của ông Đặng Tiểu Bình. Một loạt các chính sách
khuyến khích đầu tư (nới lỏng hoạt động tín dụng, cắt giảm thuế, mở cửa một số lĩnh
vực nhạy cảm...). Lượng vốn FDI vào Trung Quốc nhảy vọt từ 4,4 tỷ USD năm 1991
lên hơn 10 tỷ USD năm 1992. Năm 2000 con số này là hơn 59 tỷ.
- Từ năm 2001: Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, các công ty nước ngoài
''bước hẳn'' vào Trung Quốc. Một số lĩnh vực trước đây được mở cửa một cách hạn