169
làm nhiều chế độ ấp trong cùng một máy, nên ở máy ấp đa kỳ phải
sử dụng chế độ nhiệt mà tất cả các lô trứng điều có thể chấp nhận
được và do trứng trong máy không cùng một lứa tuổi nên máy ấp đa
kỳ đòi hỏi máy nở riêng.
Trong mùa nóng, nhiệt độ 37,5
0
C (99,5
0
F). Trong mùa lạnh,
chế độ ấp vẫn như trên, nhưng mỗi khi đưa một lô trứng mới vào
phải tăng nhiệt độ buồng máy lên 37,8
0
C (100
0
F) trong 24 giờ đầu,
sau đó trở lại mức như trên 37,5
0
C. Sau khi ấp được 18 - 18,5 ngày,
trứng được chuyển từ máy ấp sang máy nở.
- Đảo trứng và thông thoáng
Trong quá trình ấp, trứng cần được đảo và thông thoáng. Mục
đích của việc đảo trứng là giúp phôi hấp thu đều nhiệt, tránh cho
phôi bị dính vào vỏ, làm cho quá trình trao đổi chất của phôi tốt hơn.
Đồng thời có tác dụng làm cho phôi phát triển tốt nhất, đặc biệt quan
tâm giai đoạn đầu và giữa. Trứng được đảo 90
0
với thời gian 2 giờ/1
lần.
Ngoài đảo trứng để thuận lợi cho phôi phát triển, không khí
Tất cả các gà loại I được tiêm hoặc nhỏ vacxin hoặc các
thuốc phòng các bệnh truyền nhiễm: Vacxin phòng bệnh Marek,
thuốc Tyroxin phòng bệnh CRD, vacxin phòng bệnh
Gumboro Chọn tách trống mái nếu có yêu cầu.
Gà con được đựng trong hộp cát- tông cứng, hộp đủ đựng 50
hoặc 100 gà con, ngăn thành từng ô, mỗi ô chứa được 20-25 gà 1
ngày tuổi. Mặt trên và xung quanh hộp phải đục lỗ tròn đường kính
1-1,2cm, cách nhau 7-8cm, chiều cao hộp 12-13cm. Hộp gà con
trước khi xuất phải để trong phòng ấm, kín gió và thoáng khí. Quá
trình vận chuyển phải đảm bảo tránh gió, tránh làm gà con xô đè lên
nhau. Tốt nhất là dùng xe chuyên dụng để vận chuyển từ nơi ấp đến
nơi nuôi, nếu phải đi xa để không ảnh hưởng đến gà con. Úm gà con
tại nơi đã bật đèn sưởi và có sẵn nước uống pha vitamin B + đường
glucoza.
6.4. Kiểm tra sinh vật học trứng ấp
Trong quá trình ấp trứng gia cầm, trứng cần được kiểm tra sinh
vật học. Bao gồm: soi trứng; theo dõi sự giảm khối lượng trứng
trong quá trính ấp; giải phẫu, đánh giá các phôi chết nhằm để kiểm
tra sự phát triển của phôi, phát hiện trứng không phôi, trứng chết
phôi. Từ đó xác định được nguyên nhân các đợt ấp kém để có biện
pháp khắc phục như cải thiện việc nuôi dưỡng đàn gà sinh sản, điều
171
chỉnh chế độ ấp cho phù hợp
Trong quá trình ấp trứng thường kiểm tra sinh vật học trứng ấp
3 lần. Lần 1 ngày ấp thứ 6-7 ở gà, 7-8 ở vịt, ngỗng. Lần 2 vào ngày
ấp 11-12 ở gà, 13-14 ở vịt, ngỗng. Lần 3 trước khi nở 2-3 ngày. Mỗi
lần kiểm tra có mục đích cụ thể, nhưng đều nhằm làm tăng tỷ lệ nở,
sử dụng máy ấp hiệu quả nhất.
1). Soi trứng.
- Soi trứng kiểm tra sự phát triển phôi sau 11 ngày ấp
Đối với trứng ấp được 11 ngày, phải soi đầu nhọn của trứng,
cần chú ý xem màng niệu nang đã khép kín chưa. Quá trình soi trứng
phải nhanh, để đưa vào máy ngay kéo trứng bị mất nhiệt. Phòng soi
trứng bảo đảm vệ sinh, ấm và tuyệt đối không bật quạt máy.
173
Phôi phát triển tốt có màu đen phủ kín 2/3 vỏ trứng, hệ thống
mạch máu phát triển hình mạng nhện, đỏ tươi, buồng khí rộng, rìa
gọn. Quan sát thấy phôi di động mạnh.
Đặc điểm để nhận biết phôi đã chết trong giai đoạn 11 ngày ấp,
đó là phôi không chuyển động, trứng có màu nâu sẫm, sờ vỏ trứng
lạnh, buồng khí hẹp, ranh giới buồng khí không rõ. Phôi nhỏ trôi tự
do.
Sau khi soi hết một khay, kiểm đếm số trứng chết phôi tính
số trứng phôi sống, xếp lại và đặt vào máy ấp.
- Soi trứng kiểm tra sự phát triển của phôi sau 19 ngày ấp
Đây là lần kiểm tra sinh học lần thứ 3 trước lúc gà bắt đầu mổ
mỏ. Đặc điểm của phôi phát triển trong giai đoạn này có thể chia làm
4 loại.
Loại thứ nhất: Gồm những trứng khi soi thấy màng niệu nang
phát triển, buồng khí lớn, đầu nhọn trứng tối sẫm, thấy rõ cổ gà con
ngọ nguậy. Đây là loại tốt nhất, phôi phát triển hoàn chỉnh, trứng có
khả năng nở tốt và sớm.
Loại thứ hai: Gồm những trứng khi soi thấy màng niệu nang
đã tiếp giáp với buồng khí, đầu nhọn của trứng tối sẫm, nhưng đầu
gà con chưa nhô lên buồng khí. Những trứng có phôi phát triển như
vậy là bình thường nhưng nở chậm hơn loại thứ nhất.
Loại thứ ba: Đầu nhọn của trứng còn có vùng sáng do màng
niệu chưa phủ kín vỏ trứng và lòng trắng chưa tiêu hết. Loại trứng
6.5.1. Nguyên nhân di truyền.
Tỷ lệ nở cũng do một vài gen chi phối. Ngoài ra các điều kiện
môi trường có ảnh hưởng quyết định. Khối lượng của quả trứng ảnh
hưởng gián tiếp đến tỷ lệ nở, tỷ lệ giữa lòng đỏ và lòng trắng, khuyết
tật về cấu tạo của quả trứng cũng có một ảnh hưởng như vậy. Mối
tương quan giữa độ dày và độ xốp của vỏ trứng với tỷ lệ nở đã được
xác định.
Các yếu tố gây chết và nửa gây chết có tầm quan trọng lớn,
ảnh hưởng của chúng biểu hiện ở chỗ gà con có thể không nở ra
được hoặc chết trong giai đoạn phát triển đầu của phôi. Điều này làm
khó khăn cho việc tìm ra nguyên nhân của sự chết. Phần lớn các yếu
175
tố gây chết di truyền dưới dạng lặn, được thể hiện trong giao phối
cận huyết.
6.5.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ
Trong các máy ấp lớn, nhiệt độ thường nằm trong khoảng 37
- 38
0
C. Giai đoạn đầu 6 -7 ngày sau khi ấp cần nhiệt độ khoảng 37,8
- 38
0
C. Nhiệt độ này làm phôi phát triển nhanh, do làm tăng tiêu hoá
thức ăn trong trứng của phôi, niệu nang khép kín sớm. Nước trong
trứng bốc hơi nhanh, tạo khoảng trống niệu nang để chứa nước nội
sinh (nước tạo ra trong quá trình trao đổi chất). Do đó kích thích
phôi tiêu hoá nhiều lòng trắng, lòng đỏ hơn và thải nhiều nước cặn
bã. Vào cuối chu kỳ ấp, khoang niệu nang khép kín, màng niệu nang
tiêu đi, lúc này phôi hô hấp bằng phổi.
Nếu thiếu nhiệt trong những ngày đầu ấp trứng sẽ làm giảm
Nếu độ ẩm trong máy thấp hơn so với quy định sẽ làm gà chết trong
trứng. Độ ẩm trong máy nở ở giai đoạn gà con chuẩn bị nở phải đảm
bảo 75 - 80%. Nếu cao hơn mức yêu cầu, gà con nở chậm lông ướt
(bảng 5.5).
Bảng 5.5: Một số biểu hiện do ảnh hƣởng của nhiệt độ và ẩm độ
trong ấp trứng qua các giai đoạn
(Bạch Thị Thanh Dân, Nguyễn Quý Khiêm - 2002)
Giai đoạn
ấp
Do nhiệt độ
Do ẩm độ
6 ngày (gà)
NHIỆT ĐỘ CAO
- Tỷ lệ trứng chết có
vành máu cao.
- Phôi chết dính vào
màng vỏ.
- Trọng lượng trứng
giảm nhiều.
- Phôi phát triển nhanh
ẨM ĐỘ THẤP
- Tỷ lệ trứng chết phôi có
vành máu cao.
- Phôi chết dính vào
màng vỏ.
- Trọng lượng trứng giảm
rõ rệt.
- Buồng khí quá lớn.
11 ngày
NHIỆT ĐỘ THẤP
- Hao hụt trọng lượng ít,
buồng khí nhỏ.
- Tỷ lệ chết phôi cao.
- Phôi phát triển chậm,
mạch máu mờ nhạt, khó
nhìn thấy.
- Hình thành các vành
mạch máu chậm.
ẨM ĐỘ CAO
- Hao hụt trọng lượng ít.
- Buồng khí nhỏ
- Phôi phát triển yếu,
chậm
11 ngày
- Tỷ lệ trứng có màng
niệu chưa khép kín cao.
- Phôi chậm phát triển
- Niệu nang chậm phát
triển.
- Dinh dưỡng hấp thụ
kém, rối loạn trao đổi
chất, phôi chậm phát
triển.
21 ngày
- Gia cầm nở chậm,
muộn, thời gian nở kéo
dài.
- Tỷ lệ chết phôi cao.
- Mổ vỏ nhiều nhưng
liên tục chạy đủ tốc độ.
6.2.5. Ảnh hưởng của đảo trứng
Trứng xếp vào khay ấp ở ngày đầu phải để đầu to chứa buồng
khí lên trên, đầu nhọn xuống dưới. Nếu xếp ngược lại, tuy phôi phát
triển bình thường, nhưng vào ngày cuối chu kỳ ấp đầu phôi gà ở phía
đầu nhọn không có buồng khí sẽ không có không khí thở. Có thể đặt
trứng nghiêng 45
0
sẽ không ảnh hưởng đến sự ấp nở. Nếu đảm bảo
đầu to lên trước khi sang máy nở thì trứng không phải xếp như trên
mà đặt trứng nằm ngang. Vì lúc này gà con đã ngóc đầu lên buồng
khí.
Trứng trong khay ấp phải được đảo nghiêng 2 chiều theo chu
kỳ 1 - 2 giờ/1 lần. Trong những ngày ấp đầu tiên nếu không đảo
trứng phôi sẽ bị lòng đỏ ép vào vỏ, sự phát triển sẽ bị ngừng lại và
phôi bị chết. Khi soi trứng sẽ thấy một vết đen dính vào vỏ. 179
6.2.6. Ảnh hưởng của khối lượng trứng
Khối lượng trứng ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ gà
con loại I. (Theo Bùi đức Lũng, Nguyễn Thị San 1993).
Bảng 5.6: Kết quả ấp nở theo mức khối lƣợng khác nhau
Khoảng khối
lƣợng trứng
(g)
Tỷ lệ ấp nở
%
Trứng nở cao và tỷ lệ gà con loại I cao nhất ở khoảng khối lượng
trứng từ 53 - 65g.
6.2.7. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản và phương thức bảo
quản.
Kết quả ấp nở không những chịu ảnh hưởng của thời gian bảo
quản mà còn phụ thuộc vào phương thức bảo quản trứng ấp (Nguyễn
Quí Khiêm và CTV -2001) Bảng 5.7).
180
Bảng 5.7: Kết quả ấp nở ở hai phƣơng thức qua các thời gian
khác nhau
Chỉ tiêu
theo dõi
Bảo quản kho lạnh
3
ngày
6
ngày
9
ngày
12
73,67
Chỉ tiêu
theo dõi
Bảo quản môi trƣờng
tự nhiên
3
ngày
6
ngày
9
ngày
12
ngày
Tổng số trứng ấp
Tỷ lệ phôi
Tỷ lệ chết phôi
Tỷ lệ chết tắc
Tỷ lệ nở/tổng
Tỷ lệ nở/phôi
875
96,00
6,17
4,91
84,91
88,45
957
96,45
9,09
7,21
sống thấp.
2). Bệnh chân, cánh ngắn
Phôi bị biến dạng, do sự phát triển sụn, xương của tứ chi kém.
Biểu hiện chân và cánh của phôi ngắn. Xương bàn chân cong và to.
Xương ống ngắn và cong, đầu to, xương hàm và mỏ dưới ngắn, mỏ
trên quặp xuống, lông không bông.
Phôi bị chết sớm, đôi khi cơ thể sưng mọng. Nguyên nhân do
thiếu dinh dưỡng trong trứng chính là do đàn gà sinh sản ăn thức ăn
không cân đối, không đầy đủ chất đạm, chất khoáng vitamin.
3). Bệnh khèo chân
Các khớp xương nối đùi với xương ống chân và bàn chân bị
sưng, gân bị trượt khỏi khớp. Làm cho chân gà khoeo về một phía,
gà không đi lại được hoặc đi bằng khuỷu chân. Nguyên nhân do
thiếu chất khoáng trong thức ăn cho gà.
4). Bệnh động kinh
Gà con vừa nở ra cử động hỗn loạn, gà ngả đầu về phía lưng,
mặt ngửa lên trời, xoay quanh hình tròn, hoặc đầu gục vào bụng.
Thần kinh không điều khiển được quá trình vận động. Gà không ăn
uống được, kiệt sức và chết ngay trong 1 - 2 ngày đầu. Nguyên nhân
của bệnh là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin và chất khoáng.
5). Bệnh dính bết khi nở
Bệnh xảy ra khi gà bắt đầu mổ vỏ. Lỗ vỏ trứng gà vừa mổ
tràn ra một chất lỏng dính màu vàng và khô rất nhanh, làm bịt kín
mũi và mỏ của gà con làm gà chết ngạt, cũng có thể làm lông dính
182
bết. Có khi dính cả vỏ trứng gà không cử động được. Nguyên nhân
là thức ăn cho bà bố mẹ thiếu vitamin, thừa chất đạm.
Ngoài ra gà con mới nở cũng có thể bị bệnh hở rốn, lông xoăn
tỷ lệ chết cao
THỨC ĂN VÀ DINH DƢỠNG GIA CẦM
Thức ăn có ý nghĩa quyết định đến giá thành sản phẩm chăn
nuôi. Gia cầm với cường độ trao đổi chất mạnh, nhu cầu về dinh
dưỡng cao, nhưng dung tích đường tiêu hoá nhỏ nên cần khẩu phần
ăn có hàm lượng năng lượng cao, hàm lượng protein cao. Vì vậy
nguồn thức ăn dùng trong chăn nuôi gia cầm chủ yếu là hạt ngũ cốc,
hạt của cây bộ đậu và thức ăn giầu protein. Các loại thức ăn này giá
cao và có sự tranh chấp với người. Đây chính là yêu cầu đặt ra khi
chọn nguồn thức ăn cho khẩu phần chăn nuôi gia cầm, để đảm bảo
hiệu quả kinh tế cao. Tiêu hoá ở gia cầm có sai khác chút ít so với
các đối tượng vật nuôi khác cũng cần nắm vững để vận dụng trong
nuôi dưỡng cho hợp lý.
6.1. Nguồn thức ăn trong chăn nuôi gia cầm
Nguồn thức ăn trong chăn nuôi gia cầm chủ yếu là hạt ngũ cốc
(ngô, lúa, gạo, lúa mỳ) bột sắn, hạt bộ đậu (đậu tương, đậu đỏ ),
thức ăn giàu protein (bột cá, bột tôm ) và các phụ phẩm từ các loại
thức ăn trên. Dưới đây là một số đặc điểm chính về khả năng sản
xuất và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn này.
6.2.1. Cây ngô.
Ngô là cây lương thực quan trọng trên thế giới bên cạnh cây
lúa mì và lúa nước. Ngô là nguồn nguyên liệu chính cho sản xuất
thức ăn chăn nuôi: 50-70% thức ăn hỗn hợp cho vật nuôi là từ ngô
hạt. Năm 2004, theo FAO diện tích ngô thế giới là 147,2 triệu hecta,
sản lượng 721,34 triệu tấn. Mỹ là nước có sản lượng ngô cao nhất
thế giới: 229,92 triệu tấn (chiếm 41,6% của thế giới), năng suất cũng
cao: 100,7 tạ/Ha. Châu Á có 184,7 triệu tấn (chiếm 25% sản lượng
của thế giới), trong đó Trung Quốc cao nhất: 13,6 triệu tấn (sau Mỹ),
Việt Nam, năm 2004 có 383,6 nghìn Ha sắn, sản lượng 5,69
triệu tấn, năng suất cao nhất là 200-224 tạ/Ha ở miền Đông Nam bộ.
6.2.4. Cây đậu tương.
185
Trên thế giới, đậu tương đướng sau lúa mỳ, lúa nước và ngô, là cây
thích ứng rộng và có ở khắp các vùng. Năm 2004, diên tích đậu
tương thế giới là 91,44 triệu Ha, sản lượng 204,7 triệu tấn. Châu Á
đứng thứ hai (sau Châu Mỹ) về sản xuất đậu tương: 18,81 triệu Ha
(20,6% của thế giới), sản lượng 25,52 triệu tấn ( 12,5% toàn cầu).
Việt Nam, năm 2004 có 182,5 nghìn Ha, sản lượng 16,8 nghìn
tấn đậu tương. Tỉnh sản xuất nhiều là Hà Tây, Hà Giang, Đắc Nông,
Sơn La.
Phân tích thành phần hóa học của hạt 17 giống ngô, 13 giống lúa
(13 loại cám gạo của các giống lúa này), củ sắn khô cả vỏ của 12
giống sắn, hạt của 12 giống đậu tương đang được trồng chủ yếu ở
các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, Phạm Thị Hiền Lương (2005)
đã công bố kết quả trên bảng 6.1, và các axít amin chủ yếu trên bảng
6.2.
Các kết quả nhận được cho thấy có sự sai khác đáng kể về thành
phần hóa học và giá trị dinh dưỡng giữa các giống cây trồng cùng
loại. Đáng quan tâm là các axít amin thiết yếu quan trọng là lysine,
methionine… trong hầu hết các loại thức ăn hiện có (trừ hạt đậu
tương) đều thấp. Vì vậy khi sử dụng làm thức ăn chăn nuôi cần chú
ý phối hợp nhiều nguồn nguyên liệu hoặc phải bổ sung chế phẩm các
axit amin tổng hợp để đảm bảo sự cân bằng dinh dưỡng cho gia cầm.
Bảng 6.1: Thành phần hóa học của một số nguyên liệu chính
làm thức ăn cho gia súc, gia cầm (%)
Cám gạo
6,89-13,7
6,07-
22,6
39,98-
64,65
6,08-
12,42
2245-
2802
Sắn củ
khô cả
vỏ
1,93-4,13
0,15-
1,46
89,87-
92,59
1,03-
3,07
3112-
4030
Đậu
tương hạt
38,64-
48,44
14,47-
22,48
20-
38,70
10,20
3,26-
8,54
0,88-
2,86
8,60-
13,50
38,34-
49,70
Threonine
% trong
Pr.
g/Kg
2,26-
3,62
1,95-
3,42
2,75-
3,76
3,03-
4,10
1,63-
3,52
0,44-
0,68
2,80-
4,22
10,50-
18,81
Serine
14,24
12,14-
23,85
2,50-
6,33
10,16-
17,75
39,45-
79,13
Proline
% trong
Pr.
3,70-
10,48
3,78-
9,18
1,24-
9,19
3,03-
8,65
187
g/Kg
3,61-
9,05
4,16-
10,53
0,34-
3,08
11,77-
8,77
4,38-
9,66
3,37-
7,68
1,00-
2,85
3,48-
4,43
14,19-
16,32
Cystine
% trong
Pr.
g/Kg
1,20-
5,12
0,80-
4,97
1,14-
2,12
1,34-
2,80
0,69-
11,26
0,24-
4,18
1,66-
2,90
6,68-
1,40
0,63-
1,52
0,28-
1,35
0,08-
0,26
0,94-
1,88
3,65-
6,93
Isoleucin
% trong
Pr.
g/Kg
2,38-
4,48
2,06-
4,27
2,30-
4,03
2,64-
4,74
0,48-
3,00
0,16-
0,88
3,75-
5,04
15,29-
g/Kg
2,97
1,76-
2,48
3,86
1,28-
4,20
3,47
0,27-
1,29
3,72
9,32-
15,94
Phenylalanine
% trong
Pr.
g/Kg
3,17-
6,16
2,76-
5,09
2,40-
5,37
2,75-
5,92
0,63-
11,50
0,21-
3,36
3,65-
2,96
1,93-
4,64
2,21-
6,12
2,00-
4,92
0,67-
0,95
3,70-
5,55
16,52-
21,55
Arginine
% trong
Pr.
g/Kg
2,96-
4,96
2,58-
4,81
4,43-
6,73
4,82-
8,87
1,37-
7,08
0,51-
1,07
6,28-
189
Bảng 6. 3 :Thành phần hóa học của một số nguyên liệu giàu đạm
làm thức ăn cho gia súc, gia cầm (%)
Loại nguyên
liệu
Protein
thô
Lipit
thô
Xơ
thô
Khoáng
tổng số
Năng
lƣợng
thô
(MJ/kg )
Bột cá nục
60,56
5,10
1,05
16,03
19,56
Bột đầu tôm
36,44
2,91
18,31
% trong
Pr.
% trong
TA
9,14
5,54
8,54
3,11
10,62
4,08
9,96
4,16
Threonine
% trong
Pr.
% trong
TA
3,96
2,40
3,29
1,20
3,16
1,21
2,42
1,01
Serine
% trong
Pr.
% trong
TA
1,13
0,41
0,19
0,07
1,82
1,91
Glycine
% trong
Pr.
% trong
TA
5,40
3,27
4,30
1,57
3,12
1,20
4,99
2,09
Alanine
% trong
Pr.
% trong
TA
6,28
3,80
11,39
4,15
3,90
1,50
Pr.
% trong
TA
4,84
2,93
3,67
1,34
4,48
1,72
3,73
1,56
Leucine
% trong
Pr.
% trong
TA
7,80
4,72
5,10
1,86
7,15
2,74
6,77
2,83
Tyrosine
% trong
Pr.
% trong
TA
3,61
0,58
2,45
0,94
2,14
0,89
Lysine
% trong
Pr.
% trong
TA
6,42
3,88
3,63
1,32
4,84
1,86
3,29
1,37
Arginine
% trong
Pr.
% trong
TA
6,81
4,12
5,71
2,08
6,53
2,50
10,88
6.4.1.1. Các dạng năng lượng của thức ăn gia cầm. Tỷ lệ giữa các
dạng năng lượng của thức ăn được thể hiện qua hình 6.2.
Hình 6. 2: Sơ đồ các dạng năng lƣợng trong thức ăn gia cầm
(Smith, 1993)
Năng lượng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh
giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn.
Năng lượng toả nhiệt tuỳ thuộc vào môi trường nuôi dưỡng,
thành phần dinh dưỡng của khẩu phần và trạng thái, chức năng sinh
lý của cơ thể (Vũ Duy Giảng, 1996).
Năng lƣợng thô (18,0 KJ/g)
(Gross enery - GE)
Theo Krazemen, trao đổi năng lượng trong 1 ngày đêm của gà
có khối lượng sống 2,0 kg, sản lượng trứng 250 quả/năm, như sơ đồ
ở hình 6.3. Hình 6.3: Sơ đồ các dạng năng lƣợng trong thức ăn gia cầm
(Krazemen, 1990)
6.4.1.2. Phương pháp xác định năng lượng trao đổi trong thức ăn
của gia cầm
Công thức tính năng lượng trao đổi (ME) trong thức ăn của
gia cầm:
ME = GE - (FE + UE)
Trong đó: ME là năng lượng trao đổi (Kcal/kg TĂ), GE là năng
lượng thô; FE là năng lượng trong phân; và UE là
năng lượng trong nước tiểu.
Năng lƣợng tổng số tiếp nhận
từ thức ăn 460Kcal (1,93MJ)