TS. PHẠM HỒNG SƠN (chủ biên)
GIÁO TRÌNH
BỆNH TRUYỀN NHIỄM THÚ Y
(PHẦN ĐẠI CƯƠNG) NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ
NĂM 200
TS. PHẠM HỒNG SƠN (chủ biên)
1
LỜI NÓI ĐẦU
Ngành đào tạo thú y trong những năm vừa qua đã có những nỗ lực
trong việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lƣợng đào tạo. Tuy nhiên, đổi
mới và cập nhật kiến thức của nhiều giáo trình đại học trong lĩnh vực này
còn chậm. Trong số giáo trình cần biên soạn mới đó có "Giáo trình Bệnh
truyền nhiễm thú y". Giáo trình môn học này hiện đang đƣợc sử dụng
trong các khoa (bộ môn) đại học thú y và chăn nuôi - thú y đã đƣợc biên
soạn trƣớc đây gần 30 năm. Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển
nhanh chóng hiện nay, đồng thời các thuật ngữ khoa học cũng trên đà đó
không tránh khỏi biến đổi theo quá trình vận động khách quan của xã hội,
nhiều kiến thức trong tài liệu cũ đó đã trở nên bất cập. Giáo trình này đƣợc
chấp nhận biên soạn cùng với gần 40 giáo trình khác trong khuôn khổ
chƣơng trình của Dự án mức B "Nâng cao năng lực đào tạo các môn liên
quan sinh học" của Đại học Huế. Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế về thời
Đỗ Ngọc Liên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng nhƣ sự động viên, khích lệ
của nhiều đồng nghiệp khác trong và ngoài khoa Chăn nuôi - Thú y, và đặc
biệt cám ơn GS Đào Trọng Đạt là ngƣời đã tận tình trong việc hiệu đính
bản thảo. Chúng tôi đánh giá cao sự ủng hộ và tạo điều kiện biên soạn của
các thành viên trong gia đình chúng tôi.
Chúng tôi mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến xây dựng từ các
thầy giáo, cô giáo, các em sinh viên và các đồng nghiệp để giáo trình này
đƣợc hoàn thiện hơn trong lần tái bản.
TÁC GIẢ
3
MỞ ĐẦU
Truyền nhiễm học thú y là môn học nghiên cứu các quy luật hình
thành, tiến triển và ngừng tắt của các bệnh truyền nhiễm ở động vật ở cấp
độ cá thể (bệnh cảm nhiễm) cũng nhƣ cấp độ đàn hay tập đoàn (dịch).
Những quy luật của bệnh cụ thể đƣợc nghiên cứu trong học phần "Bệnh
truyền nhiễm thú y chuyên khoa", là phần tiếp tục của học phần này. Học
phần "Bệnh truyền nhiễm thú y đại cƣơng" này nghiên cứu 1) những thuộc
tính chung nhất của các yếu tố hình thành bệnh cảm nhiễm ở động vật,
diễn biến, hình thức và hệ quả của bệnh cảm nhiễm cũng nhƣ nghiên cứu
sự phổ biến của bệnh trong tập đoàn (thƣờng gọi là dịch tễ học bệnh truyền
nhiễm, hay dịch học bệnh truyền nhiễm) và 2) những nguyên tắc và kỹ
thuật phổ quát áp dụng chẩn đoán và phòng chống bệnh truyền nhiễm.
Những nhiệm vụ của môn học bệnh truyền nhiễm là nghiên cứu những quy
luật thuộc về đặc tính bệnh, đặc tính mầm bệnh, quan hệ giữa mầm bệnh
và cơ thể động vật trong điều kiện thống nhất với ngoại cảnh, các hiện
tƣợng bệnh lý, điều kiện phát sinh và lây lan bệnh, sự phát sinh, tiến triển
bệnh tật lan truyền từ ngƣời này sang ngƣời khác. Sau Aristoteles, đại y
nhân của thời cổ đại Galen (Galenos, 131 - 201) cũng đã nhận thấy dịch
hạch, bệnh ghẻ, viêm mắt, bệnh dại, bệnh phổi, có tính truyền nhiễm.
Các sách thú y của thời thƣợng cổ Ai Cập, của cổ Hy Lạp (khoảng
1200 năm tr. CN) đã nói đến bệnh gia súc. Aristoteles cũng đã mô tả bệnh
dại, uốn ván, tỵ thƣ, qua nhiều vụ giết hại nhiều ngƣời và gia súc. Tuy thời
ấy con ngƣời đã dùng những quan điểm thần thoại giải thích nguyên nhân
bệnh, nhƣng trƣớc tai họa khủng khiếp của dịch gây ra, con ngƣời đã biết
dùng những biện pháp phòng bệnh. Ngay từ thời thƣợng cổ ngƣời Trung
Quốc đã biết lấy vảy đậu mùa đem sấy khô trên bếp, rồi nghiền nhỏ bỏ vào
mũi ngƣời để phòng bệnh đậu mùa. Thổ dân châu Phi lấy thanh kiếm nhọn
chọc vào phổi bò mắc bệnh viêm phổi để cho dịch phổi ngấm ƣớt đầu mũi
kiếm rồi đem rạch vào da chân bò khỏe để phòng bệnh trên cho bò.
Cũng qua thực tiễn, con ngƣời đã nhận biết hiện tƣợng bệnh lây từ
con vật bệnh sang con vật khỏe. Điều đó khiến con ngƣời nghĩ đến yếu tố
nguyên nhân nào đó có khả năng nảy nở và lây lan trực tiếp từ con bệnh
sang con khỏe, hoặc thông qua đối tƣợng trung gian, và đã giải thích
nguyên nhân bệnh theo nhiều cách. Tuy vậy, quan niệm thần bí, thần
quyền giải thích nguyên nhân bệnh, dƣới ách thống trị của vua chúa phong
kiến trung cổ, đã tồn tại và kìm hãm những quan điểm tiến bộ.
Từ thế kỷ XV, cùng với nền khoa học kỹ thuật bắt đầu đƣợc phát
triển và phục vụ cho nền sản xuất tiền tƣ bản chủ nghĩa, một thế giới quan
duy vật tiến bộ hơn trƣớc đã đƣợc hình thành. Nhận thức của con ngƣời về
nguyên nhân bệnh đã đúng hơn trƣớc. Trong thế kỷ XIV - XV, ở khắp đại
lục châu Âu phát sinh bệnh đậu mùa, dịch phát ban và dịch hạch đại lƣu
hành, sang thế kỷ thứ XVI, sau việc Côlômbô (Columbus, 1451 - 1506)
phát hiện ra châu Mỹ (1492) và sự xâm nhập của ngƣời châu Âu, bệnh
giang mai cũng xuất hiện ở châu lục mới này. Do đó, thuyết truyền nhiễm
của bệnh tật đã từ từ hình thành. Trong trào lƣu quan niệm chung đó,
Frascatoro (1483 - 1553, ngƣời Verona, thuộc Italia ngày nay) đã phát biểu
thiện (Chevalier, 1770 - 1840; Abbe, 1840 -1905) việc quan sát vi sinh vật
cũng tƣơng tự nhƣng đã trở nên dễ dàng hơn. Những đóng góp của
Erenberg (1838, gọi vi sinh vật quan sát đƣợc là Infusiontierchen), Nageli
(1857, gọi vi sinh vật quan sát đƣợc là Schizomyceten), Cohn (1872, phân
biệt vi khuẩn khỏi thực vật) đã làm cho loài ngƣời càng hiểu rõ hơn về các
vi sinh vật.
Đến giữa thế kỷ XIX, nguyên nhân bệnh truyền nhiễm đã đƣợc
nhiều nhà vi sinh vật học khác xác định. Paxtơ (Pasteur, 1822 - 1895) đã
mở đầu một giai đoạn lớn trong lịch sử phát triển vi sinh vật học. Ông đã
xác định bản chất vi khuẩn trong quá trình thối rữa và sự lên men, xác định
bản chất sống của vi khuẩn gây nên một số bệnh truyền nhiễm, đánh đổ
thuyết "ngẫu sinh" ảnh hƣởng rất mạnh đƣơng thời. Ông đã dày công
nghiên cứu các vi sinh vật gây bệnh, đề ra thuyết mầm bệnh từ đó đề ra
6 biện pháp cách ly trong phòng bệnh tằm gai, biện pháp thanh trùng dịch
chiết quả nho trƣớc khi lên men rƣợu vang bằng giống nấm men thuần
chủng, và dựa trên những ứng dụng phòng bệnh đậu mùa bằng đậu bò
mà Jenner (1749 - 1823) áp dụng vào cuối thế kỷ XVIII (1798), ông đã chế
đƣợc vacxin phòng một số bệnh. Thí nghiệm của Pasteur về đáp ứng miễn
dịch nhân tạo phòng bệnh nhiệt thán ở cừu (1881) bằng chủng vi khuẩn do
ông gây nhƣợc độc một mặt chỉ rằng con ngƣời có thể chủ động chế đƣợc
chủng mầm bệnh nhƣợc độc để tạo miễn dịch và mặt khác chứng minh
thuyết mầm bệnh của mình. Với những con vật không đƣợc tiêm vacxin
chết do công cƣờng độc trong thí nghiệm đó, quan niệm vi sinh vật là
nguyên nhân dịch bệnh truyền nhiễm đƣợc củng cố. Đồng thời, trên cơ sở
thực nghiệm tiêm phòng bệnh, quan niệm về miễn dịch dịch thể (humoral
immunity) đã đƣợc hình thành, Ehrlich (1854 - 1915) là ngƣời đầu tiên
bào và đề xƣớng vấn đề biến dị có định hƣớng vi sinh vật.
Ivanôpxki (Ivanovsky, 1864 - 1920) là ngƣời phát hiện virut đầu
tiên, virut bệnh đốm thuốc lá, vào năm 1882. Ít năm sau (1898) thí nghiệm
chứng minh virut này đƣợc Bejerink lặp lại. Sau đó bản chất virut của các
bệnh khác nhƣ bệnh lở mồm long móng (Loefler và Frosch, 1898), dịch tả
trâu bò, đƣợc lần lƣợt phát hiện.
Nhƣ vậy, từ cuối thế kỷ XIX cùng với sự phát triển cao của chủ
nghĩa tƣ bản, do sự giao lƣu vận chuyển rộng rãi khắp thế giới, bệnh dịch
động vật có điều kiện lây lan mạnh mẽ. Khoa học về vi sinh vật và bệnh
truyền nhiễm đã có cơ hội phát triển đáp ứng nhu cầu giải quyết những vấn
đề mới của thực tiễn và đã đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn. Vấn đề cơ bản
của vi sinh vật học trong thời kỳ này là nghiên cứu quá trình truyền nhiễm
và tìm các biện pháp ngăn ngừa bệnh xảy ra. Từ giai đoạn sơ khai của vi
khuẩn học với trung tâm là những nghiên cứu của Pasteur và Koch, bƣớc
sang thế kỷ XX nhân loại đã đạt đƣợc những bƣớc tiến mạnh mẽ trong
nghiên cứu miễn dịch học và hóa trị liệu học. Từ phát kiến về salvarsan
của Ehrlich (1910) đến phát kiến của Domagk (1935) về sulfamid
(sulfonamide), việc phát hiện penicillin bởi Fleming (1929) và tái phát
hiện chất kháng sinh này vào 1941 cũng nhƣ phát hiện streptomycin
(1941) và hàng loạt chất kháng sinh khác đã tạo bƣớc tiến mới của sự phát
triển vi sinh vật học ứng dụng và điều trị bệnh truyền nhiễm.
Hiện nay, những thành tựu to lớn trong lĩnh vực khoa học tự nhiên
về toán, lý, hóa, sinh vật học, di truyền học, sinh hóa học và sinh học phân
tử đã giúp cho môn vi sinh vật phát triển, ngày càng giải quyết đƣợc nhiều
vấn đề về lý luận và thực tiễn sản xuất. Những hiểu biết về miễn dịch học,
hóa sinh học và di truyền học, ngày càng đƣợc sâu sắc. Nhiều biện pháp
chẩn đoán bệnh truyền nhiễm mạnh hơn và chính xác hơn trên cơ sở phân
tích kiểu hình cũng nhƣ kiểu gen, nhiều loại vacxin phòng bệnh, nhiều loại
thuốc chữa bệnh đã đƣợc dùng rộng rãi để phòng và chữa bệnh động vật.
II. Quan hệ môn học Bệnh truyền nhiễm với các môn học khác
đang có vào một nhóm trong số các nhóm đã được phân loại, ngƣời ta có
thể xác định (chẩn đoán) hoặc đƣa ra đƣợc giả thuyết về nguyên nhân bệnh
dịch đang lƣu hành và từ đó đề ra những biện pháp phòng chống thích hợp.
Còn phương pháp dịch tễ học phân tích có thể giúp ta xác định mối liên
quan giữa bệnh và nguyên nhân giả thuyết để xác nhận nguyên nhân của
dịch bệnh.
Phương pháp thí nghiệm là biện pháp mô phỏng lại bệnh trong tự
nhiên bằng cách truyền mầm bệnh nghi ngờ cho động vật thích hợp và
quan sát sự phát triển của bệnh dịch một cách có ý thức và có kế hoạch,
bên cạnh đó, hoặc thí nghiệm các biện pháp phòng chống trong điều kiện
tự nhiên hoặc điều kiện gây bệnh thí nghiệm để rút ra những biện pháp
phòng chống hữu hiệu. Phƣơng pháp này nhằm giải quyết những vấn đề
mà trong thực tiễn khó xác định (nhƣ thời gian nung bệnh, phƣơng thức
lây lan, của bệnh) hoặc cần xác minh tác dụng của một biện pháp hay
9 chế phẩm thú y trƣớc khi đƣa ra dùng trong sản xuất (nhƣ hiệu lực của một
vacxin, kháng sinh, ).
Quan hệ giữa hai phƣơng pháp trên rất mật thiết. Nhƣng trong thực
tiễn và trong điều kiện công tác ở địa phƣơng, phƣơng pháp điều tra đóng
vai trò quan trọng hơn, vì phƣơng pháp này thực hiện thu thập tƣ liệu làm
cơ sở cho việc chẩn đoán, tạo điều kiện cho các nghiên cứu thí nghiệm đi
đúng hƣớng. Ngƣợc lại, phƣơng pháp thí nghiệm cung cấp những thông tin
có độ nhạy cao hơn giúp việc nghiên cứu dịch tễ học có tính khách quan và
chính xác hơn.
Ngoài các phƣơng pháp trên, thuộc nhóm nghiên cứu dịch tễ học
còn có phƣơng pháp thống kê dịch tễ học và phƣơng pháp xây dựng bản đồ
dịch tễ, là những phƣơng pháp nhằm tìm ra quy luật phát sinh, phát triển
nghiệp chế biến thú sản, giảm sức sản xuất, giảm cung cấp thực phẩm cho
thị trƣờng, ảnh hƣởng tới kế hoạch sản xuất, xuất khẩu, thƣơng mại và đời
sống của nhân dân. Bên cạnh đó, còn có những tốn kém khổng lồ khi dịch
xảy ra liên quan đến việc thực hiện các biện pháp phòng chống dịch. Bệnh
truyền nhiễm còn gây nhiều rối loạn về hoạt động xã hội do phải tiến hành
các biện pháp để ngăn ngừa dịch lây lan nên việc xuất nhập khẩu động vật
và thú sản, việc buôn bán, họp chợ búa, việc đi lại và cả những hoạt động
văn hóa của con ngƣời đều bị hạn chế.
Bệnh truyền nhiễm động vật còn có thể lây sang ngƣời. Rất nhiều
bệnh ở ngƣời bắt nguồn từ động vật. Những bệnh đó có thể giết chết hoặc
làm ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe và khả năng lao động của con ngƣời.
V. Nhiệm vụ của ngành thú y
Do nhận thức đƣợc tác hại to lớn của bệnh truyền nhiễm động vật,
nên ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, mặc dù đang phải tiến
hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy khó khăn gian khổ, Đảng
và Chính phủ ta đã quan tâm đến việc phòng trừ dịch bệnh gia súc. Sắc
lệnh 125/SL ngày 11/7/1950 do Chính phủ ban hành và Nghị định liên bộ
Nội vụ - Canh nông - Tƣ pháp ngày 2/4/1951 về bài trừ dịch tễ đã có tác
dụng nhất định trong việc hạn chế sự lây lan khi có dịch đối với một số
bệnh truyền nhiễm nhƣ dịch tả trâu bò, dịch tả lợn, đóng dấu lợn.
Nhiệm vụ của ngành thú y sau Cách mạng Tháng 8 là một mặt phải
áp dụng những biện pháp cấp bách để hạn chế tác hại của dịch bệnh, mặt
khác phải nghiên cứu tìm ra những quy luật phát sinh và diễn biến của dịch
và những biện pháp phòng trừ dịch có hiệu quả trong hoàn cảnh và điều
kiện nƣớc ta. Từ ngày hòa bình đƣợc lập lại trên miền Bắc, Đảng và Chính
phủ đã đề ra những văn bản quy định nhiệm vụ, phƣơng hƣớng, phƣơng
châm công tác phòng chống dịch nhƣ Nghị quyết V (Đại hội Đảng lần III)
của Trung ƣơng Đảng và Chỉ thị 56 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng (Đại hội
lần III) đƣợc cụ thể hóa trong Điều lệ phòng chống dịch bệnh cho gia súc,
gia cầm do Chính phủ ban hành ngày 23/7/1963. Thực hiện đƣờng lối,
Tuy nhiên, nhiệm vụ của ngành thú y còn rất nặng nề, bệnh dịch
mới và bệnh tái phát sinh là những vấn đề chung của thời đại mà ngành thú
y phải luôn nâng cao cảnh giác để tích cực phòng chống bệnh cho gia súc,
gia cầm, cũng nhƣ bảo vệ môi trƣờng sống và sức khỏe con ngƣời, nhƣ lời
Viện sĩ Pavlov "Bác sĩ chữa bệnh cho ngƣời, bác sĩ thú y chữa bệnh cho
nhân loại". 12 CHƢƠNG 1
CƠ CHẾ PHÁT BỆNH TRUYỀN NHIỄM
(BỆNH CẢM NHIỄM)
I. Cảm nhiễm và phát bệnh
1. Mầm bệnh (căn bệnh, bệnh nguyên)
Khác với bệnh không truyền nhiễm, các bệnh truyền nhiễm có một
đặc tính chung là có tính lây lan và do một loại, hoặc đôi khi một số loại,
vi sinh vật gọi là mầm bệnh gây nên. Một mầm bệnh là một vi sinh vật
đóng vai trò nguyên nhân trực tiếp và không thể thiếu của một bệnh truyền
nhiễm. Mầm bệnh có nhiều loại và mỗi loại thƣờng gây nên bệnh với
những đặc điểm riêng, nhƣng chúng có điểm chung là tính gây bệnh (hay
độc tính) đối với ký chủ.
Vi khuẩn là nhóm lớn vi sinh vật có đặc điểm chung là có nhân
nguyên thủy, tức nhân chƣa có màng nhân và cấu tạo từ một ADN xoắn
kép, vòng khép kín, cơ thể thƣờng là đơn bào và sinh sản bằng trực phân.
Phần lớn vi khuẩn đòi hỏi những điều kiện nhất định, chẳng hạn tính kết
bám (bám dính) lên tế bào, mới gây đƣợc bệnh. Vi khuẩn tác động bằng
nội độc tố, ngoại độc tố hoặc bằng các cơ chế lý, hóa khác.
Xoắn khuẩn (bộ Spirochaetales) tuy cũng là một loại vi khuẩn
phẩm) theo hình phát xạ của ánh sánh mặt trời và sinh bào tử đồng loạt
nhƣ các nấm (vì vậy trƣớc đây chúng đƣợc coi là nấm bậc thấp).
Virut là nhóm lớn vi sinh vật rất nhỏ, chƣa có cấu trúc tế bào, có
những thuộc tính ở ranh giới giữa vật vô sinh và vật hữu sinh. Chúng
thƣờng có tính hƣớng đối với một loại tổ chức nhất định, do đó thƣờng gây
những biểu hiện giống nhau ở những động vật khác loài. Bệnh do virut gây
nên thƣờng lây lan mạnh, có hiện tƣợng mang trùng và làm trỗi dậy những
bệnh ghép khác nhƣng cũng thƣờng gây miễn dịch mạnh và bền.
Nấm (hay chân khuẩn) là sinh vật nhân thực, tức nhân có màng
nhân, phụ thuộc vào hình thái mà thƣờng đƣợc chia thành nấm men và
nấm sợi. Thuật ngữ "nấm mốc" chỉ các loại nấm sợi không đạt kích thƣớc
lớn nhƣ nấm mũ (lớp Nấm đảm). Đa số nấm sợi và men gây bệnh thƣờng
sống hoại sinh trong thiên nhiên, có bào tử có thể sống lâu dài ở ngoại
cảnh. Một số nấm gây bệnh thƣờng có hai dạng hình thái phụ thuộc vào
điều kiện phát triển bên trong hay bên ngoài cơ thể động vật. Khi nhuộm
tiêu bản bệnh phẩm những nấm này ta thƣờng thấy chúng có dạng hình cầu
hay hình trứng (dạng nấm men) nhƣng khi nuôi cấy ở môi trƣờng nhân tạo
chúng lại có dạng sợi (khuẩn ty). Vì vậy, chúng thƣờng đƣợc gọi là nấm
nhị hình. Nhìn chung, các bệnh do các nấm gây ra thƣờng mãn tính và cho
miễn dịch không vững chắc.
Nguyên trùng (protozoa) cũng là các sinh vật nhân thực, thƣờng
đƣợc coi là động vật bậc thấp. Vì thế nguyên trùng gây bệnh đƣợc coi là
các động vật ký sinh (zooparasites) trong khi các yếu tố khác nêu trên (vi
khuẩn, virut, nấm) đều đƣợc coi là các thực vật ký sinh (phytoparasites).
Vì vậy, nhiều tài liệu bệnh cảm nhiễm (bệnh truyền nhiễm gia súc) không
14 mô tả loại tác nhân gây bệnh này một cách không thích đáng. Các nguyên
vật không gây bệnh đã trở nên dễ dàng hơn. Nhờ kỹ thuật tạo dòng gen
(gene cloning) làm khả thi việc phân lập và đánh dấu gen chi phối tính gây
bệnh nhất định nên làm cho việc nghiên cứu cảm nhiễm - phát bệnh ngày
càng tiến triển. Từ đó, những "định đề Koch ở mức phân tử" đã đƣợc đề
xuất và gồm những điểm sau: 1) kiểu hình hay tính trạng phải liên quan
đến vi sinh vật mầm bệnh trong một loài hay một chi, 2) việc bất hoạt hóa
15 vị trí gen xác định liên quan tính gây bệnh nhất định dẫn đến giảm về
lƣợng độc lực hoặc tính gây bệnh của vi sinh vật, và 3) phục hồi hoặc di
nạp lại gen chi phối tính gây bệnh đã biến dị hay đã mất nhất định phục hồi
tính gây bệnh của vi sinh vật.
Nhờ định đề Koch, việc phân loại vi khuẩn thành gây bệnh và
không gây bệnh tiến triển nhanh chóng. Tùy loài, có vi khuẩn phát huy tính
gây bệnh không phải là những vi khuẩn thƣờng trú của cơ thể (vi khuẩn
lao, vi khuẩn tỵ thƣ, ) nhƣng cũng có vi khuẩn thƣờng trú lại trở nên gây
bệnh, nhƣ E. coli là vi khuẩn thƣờng trú của đƣờng ruột nhƣng lại là
nguyên nhân gây bệnh đƣờng sinh dục tiết niệu. Do đó, phƣơng pháp
nghiên cứu bệnh trong tập đoàn hay nghiên cứu dịch (tễ) học đƣợc vận
dụng và ngày càng khẳng định ý nghĩa của mình trong việc xác định mối
quan hệ nhân quả giữa bệnh (hiện tƣợng) và mầm bệnh (bản chất) của
bệnh truyền nhiễm.
Một trong những tính chất cơ bản của mầm bệnh là tính gây bệnh
của chúng. Điều kiện đầu tiên và cơ bản nhất của mầm bệnh là phải có tính
gây bệnh hay năng lực ký sinh.
Vi sinh vật trong thiên nhiên có nhiều loại: tự dƣỡng và dị dƣỡng.
Trong số dị dƣỡng cũng có loại hoại sinh sống nhờ các chất xác chết của
động vật và thực vật, loại ký sinh sống nhờ các tế bào động vật và thực vật,
của tính gây bệnh. Đƣơng nhiên đại lƣợng này không chỉ diễn tả hay đánh
giá đặc tính của mầm bệnh nói chung mà là đặc tính đối với loại cơ thể ký
chủ cụ thể. Nhƣ vậy, độc lực còn nói lên khả năng chống đỡ của ký chủ cụ
thể đối với mầm bệnh xác định. Một mầm bệnh có thể có độc lực cao đối
với cá thể này hay loài này nhƣng lại có độc lực thấp hoặc không có độc
lực đối với cá thể khác hay loài khác.
Mầm bệnh có độc tính là nhờ khả năng xâm nhập và phát triển
trong cơ thể, điều này phụ thuộc vào năng lực của nó tiết ra các yếu tố
chống lại các cơ chế của cơ thể ngăn cản vật ngoại lai xâm nhập (các yếu
tố kết bám, hay bám dính), các loại chất độc chất ngăn cản các cơ năng bảo
vệ cơ thể, chất phá hủy các tổ chức của cơ thể trong quá trình xâm nhập và
phát triển đó. Độc lực của mầm bệnh không cố định. Nhìn chung, mầm
bệnh phân lập ở động vật bệnh cấp tính hoặc trong ổ dịch có độc lực cao
hơn chính mầm bệnh đó đã qua nuôi dƣỡng kéo dài trong phòng thí
nghiệm. Các vi sinh vật cùng loài phân lập ở những ổ dịch khác nhau cũng
có độc lực khác nhau. Độc lực của mầm bệnh cũng có thể làm tăng giảm
hoặc làm mất hoàn toàn bằng nhiều phƣơng pháp nhân tạo. Điều kiện tự
nhiên cũng có thể làm biến đổi độc lực của mầm bệnh. Con ngƣời đã sử
dụng khả năng biến đổi của độc lực vào việc phòng chống bệnh truyền
nhiễm nhƣ tiêu độc, chế các loại vacxin,
Số lượng: Tính gây bệnh (hay thƣờng gọi là độc tính) là thuộc tính
nhất thiết phải có của vi sinh vật gây bệnh. Nếu không có các hàng rào bảo
vệ cơ thể cũng nhƣ quá trình phát triển miễn dịch của ký chủ ngăn trở sự
xâm nhập và phát triển của mầm bệnh, thì mỗi tế bào vi khuẩn hay mỗi
virion virut đều có tính gây bệnh, tức cũng có thể xâm nhập và phát triển
trong cơ thể ký chủ. Trong thực tế, tính đề kháng của ký chủ làm một
lƣợng lớn tế bào hay virion bị tiêu diệt, vì vậy, mầm bệnh phải có một
ngƣỡng số lƣợng nhất định mới thiết lập đƣợc khả năng xâm nhập và sau
17
tính của mầm bệnh chịu ảnh hƣởng mạnh từ phía ký chủ nên biểu thị độc
lực của một mầm bệnh thƣờng phải nêu rõ loại động vật thí nghiệm. Ngƣời
ta có thể ghi "mỗi ml dịch bệnh phẩm chứa bao nhiêu LD
50
đối với chuột
nhắt trắng sơ sinh" nhƣng mặt khác ngƣời ta cũng có thể xác định đƣợc số
lƣợng tế bào vi khuẩn mầm bệnh tạo nên một liều gây chết trung bình đó.
Để xác định LD
50
ngƣời ta có một số phƣơng pháp, trong đó thƣờng sử
dụng phƣơng pháp Reed và Muench. Phƣơng pháp này có ƣu điểm sử
dụng một số lƣợng khá ít động vật thí nghiệm. Ví dụ dƣới đây trình bày
cách xác định LD
50
bằng phƣơng pháp này.
Bảng: Thí nghiệm tiêm 0,2 ml bệnh phẩm pha loãng dần để xác định LD
50
của
bệnh phẩm
Nồng
độ
Số động
vật thí
nghiệm
Số động
vật chết
Số động
vật sống
sót
Số động
10
-3
6
4
2
10
3
76,9
10
-4
6
4
2
6
5
54,5
10
-5
6
2
4
2
9
18,2
10
-6
trải qua quá trình chọn lọc tự nhiên, mỗi loại mầm bệnh thiết lập đƣợc một
con đƣờng thích hợp nhất để vào cơ thể. Những mầm bệnh khác nhau có
những đƣờng xâm nhập khác nhau. Một loài mầm bệnh có thể có một hoặc
nhiều đƣờng xâm nhập, trong đó vẫn có một đƣờng xâm nhập chính.
Đƣờng xâm nhập có ý nghĩa quan trọng trong hiện tƣợng nhiễm
trùng. Nếu đƣờng xâm nhập thích hợp thì mầm bệnh dễ dàng gây bệnh và
bệnh thể hiện điển hình. Nếu đƣờng xâm nhập không thích hợp thì mầm
bệnh có thể không gây bệnh (virut viêm phổi lợn qua da) hoặc gây bệnh
nhẹ và cho miễn dịch (vi khuẩn viêm phổi - màng phổi bò qua da đuôi)
hoặc cần số lƣợng nhiều gấp nhiều lần mới gây đƣợc bệnh. Ngoài ra, cùng
một đƣờng xâm nhập nhƣng ở những vị trí khác nhau trên cơ thể thì có thể
gây nên những hiện tƣợng bệnh lý khác nhau. Những đƣờng xâm nhập chủ
yếu của mầm bệnh vào cơ thể là đƣờng tiêu hóa, đƣờng qua da, niêm mạc,
đƣờng sinh dục - tiết niệu và đƣờng máu.
Khả năng xâm nhập vào cơ thể, sinh sôi nảy nở trong cơ thể, khả
năng gây bệnh với một số lƣợng lớn nhất định, cùng với khả năng chịu
đựng đƣợc ngoại cảnh, hợp lại tạo thành khả năng xâm nhiễm của mầm
bệnh. Khả năng này làm cho mỗi bệnh truyền nhiễm có tính chất dịch (tễ)
học riêng biệt. Những điều đó có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác
phòng chống bệnh truyền nhiễm.
19 2. Cảm nhiễm (nhiễm trùng)
2.1. Khái niệm
Cảm nhiễm (thƣờng gọi là nhiễm trùng) là trạng thái, quá trình hay
hiện tƣợng mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể động vật mẫn cảm, là một hiện
tƣợng sinh học phức tạp xảy ra khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể động
vật, trong những điều kiện nhất định của ngoại cảnh. Sau khi xâm nhập và
tổng hợp protein, trong đó có tổng hợp kháng thể, tăng cƣờng phản ứng