LỊCH SỬ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
HÀN QUỐC
Từ đầu thế kỷ 17, một phong trào chủ trương Silhak, có nghĩa học thuật
thực hành, đã phát triển mạnh trong các quan chức học giả có tư tưởng
tự do như một phương tiện để xây dựng một quốc gia hiện đại.
Các học giả này kiên quyết kiến nghị việc cải thiện nông nghiệp và công
nghiệp, đồng thời thực hiện cải cách triệt để việc phân chia đất đai.
Đương nhiên những nhà quý tộc của một chính phủ bảo thủ không sẵn
sàng ủng hộ một sự thay đổi mạnh mẽ như vậy.
Trong nửa sau của thời kỳ Joseon, người ta thấy chính quyền chính phủ
và tầng lớp thượng lưu bắt đầu có những biểu hiện của tư tưởng bè
phái. Để chỉnh đốn tình hình chính trị không mong muốn này, vua
Yeongjo (trị vì 1724-1776) cuối cùng đã đề ra một chính sách không
thiên vị. Nhờ thế nhà vua đã củng cố được quyền lực của vương triều
và sự ổn định chính trị.
Vua Jeongjo (trị vì 1776-1800) đã duy trì chính sách không thiên vị và
lập nên một thư viện của triều đình để gìn giữ những tài liệu và những
biên bản của vương triều. Ông cũng khởi xướng những cuộc cải cách về
chính trị và văn hóa khác. Giai đoạn này đã chứng kiến sự phát triển rực
rỡ của Silhak. Một số học giả có tên tuổi đã viết ra những công trình
tiến bộ đề nghị cải cách nông nghiệp và công nghiệp, nhưng chỉ một số
ít những ý tưởng đó được triều đình chấp thuận. Sự chiếm đóng của thực dân Nhật và phong trào độc lập
của Hàn Quốc
lột Hàn Quốc về kinh tế. Cuộc sống của người Hàn Quốc trở
nên khốn khổ dưới ách thống trị của thực dân Nhật cho tới
khi Nhật Bản bị đánh bại trong cuộc chiến tranh thế giới lần
thứ II vào năm 1945. Thành lập nước Đại Hàn Dân Quốc
Người Hàn Quốc vui mừng khi Nhật bị đánh bại trong Chiến
tranh Thế giới lần thứ II. Tuy nhiên, niềm vui của họ chỉ hết
sức ngắn ngủi. Tự do không đem lại ngay cho người Hàn
Quốc một nền độc lập mà họ đã chiến đấu hết sức ác liệt để
giành lấy.
Thay vào đó, nó đã để lại một đất nước bị chia cắt bởi sự
khác biệt về tư tưởng do cuộc chiến tranh lạnh. Những nỗ
lực của người Hàn Quốc nhằm xây dựng nên một chính phủ
độc lập đã thất bại do lực lượng quân đội Mỹ chiếm đóng
nửa phía nam bán đảo và quân đội Xô Viết kiểm soát phần
phía Bắc.
Tháng 11-1947, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc (LHQ) thông
qua một nghị quyết kêu gọi tổng tuyển cử tại Hàn Quốc dưới
sự giám sát của một Ủy ban LHQ.
Myon thuộc đảng dân chủ lập nên một chính phủ vào tháng
8-1960 và một nền cộng hòa thứ hai được thành lập.
Tuy nhiên, một cuộc đảo chính do Đại tướngPark Chung-hee
(Pắc Chung Hy) cầm đầu ngày 16-05-1961 đã lật đổ chính
phủ mới. Hội đồng Tái thiết Quốc gia Tối cao do TướngPark
đứng đầu đã tiếp quản các chức năng lập pháp, hành pháp
và tư pháp của Chính phủ.
Park trở thành Tổng thống trong cuộc bầu cử năm 1963.
Chính quyền của Tổng thống Park theo đuổi công cuộc công
nghiệp hóa nhanh chóng và đạt được sự tăng trưởng kinh tế
cao trong những thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước, thường
được gọi là "Kỳ tích trên sông Hàn", nhưng sự cai trị của ông
cũng kéo theo hạn chế nghiêm ngặt những quyền chính trị
và tự do của nhân dân.
Vụ ám sát TổngthốngPark vào tháng 10-1979 đã dẫn đến
thời kỳ quá độ dưới ách quân luật. Choi Kyu-hah, được
phong làm Tổng thống lâm thời, đã từ chức tháng 8-1980, và
Chun Doo-hwan, người cầm đầu một nhóm sĩ quan đầy thế
lực, đã được Hội nghị Quốc gia về Thống nhất-một tập thể
cử tri - bầu làm Tổng thống.
Các phong trào thân dân chủ lên cao trong suốt thập niên
1980 và chế độ bầu cử Tổng thống bằng đầu phiếu phổ
thông trực tiếp đã được khôi phục trong Hiến pháp được
sửa đổi năm 1987.
Roh Tae-woo, nguyên là một tướng quân đội, đã được bầu
làm Tổng thống theo Hiến pháp mới, song những tiến bộ về
của dân chúng tham gia. Vì vậy, sự tham gia của quần chúng
sẽ có một vai trò then chốt trong hoạt động tương lai của
chính phủ, như nó đã từng có vai trò quyết định khi mới ra
đời.