NƯỚC ANH VÀ PHÁP TRONG NHỮNG
NĂM 50 - 70 CỦA THẾ KỶ XIX Cách mạng công nghiệp hoàn thành có tác dụng rõ rệt đối với sản xuất.
Máy móc được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp.
1850, Pháp có 5.212 máy hơi nước.
1870, Pháp có 27.088 máy hơi nước
Về giao thông vận tải: ngành đường sắt Pháp đã có tiến bộ đáng kể. Năm
1869, Pháp có 16.465 km đường sắt, khối lượng vận chuyển hàng hóa
bằng đường sắt tăng lên 10 lần. Ðường phố cũng được mở rộng để phù
hợp với sự phát triển của công nghiệp.
Trong thời gian này, ở Pháp bắt đầu diễn ra quá trình tập trung sản xuất
với qui mô lớn. Cuối những năm 60, những xí nghiệp như Le Creusot đã
tập trung đến hàng nghìn công nhân. Ngoài ra có những xí nghiệp tập
trung hàng vạn công nhân. Số dân ở các thành phố lớn tăng lên một cách
đáng kể, đó cũng là một biểu hiện của sự tập trung sản xuất. Tuy nhiên,
chiếm địa vị phổ biến trong nền sản xuất ở Pháp bấy giờ vẫn là những cơ
sở kinh doanh với qui mô vừa và nhỏ. 60% công nhân làm việc tại
những cơ sở này.
Một đặc điểm quan trọng của sản xuất kinh tế tại Pháp lúc bấy giờ là
hoạt động mạnh mẽ của ngành tài chính và cho vay lãi. Các công ty tín
dụng và những ngân hàng Pháp phát triển không ngừng. Tầng lớp tư bản
ngân hàng trở thành tầng lớp có thế lực nhất và là chỗ dựa chủ yếu của
Napoléon III.
nghiệp Pháp vẫn còn là nền công nghiệp với những xí nghiệp vừa và
nhỏ. Nguyên nhân của tình trạng trên là:
- Thành tựu của công nghiệp Pháp chậm hơn Anh.
-Anh có một nguồn dự trữ công nghiệp lớn hơn Pháp.
- Sự phân chia nhỏ ruộng đất gây hạn chế trong việc áp những thành tựu
của kỹ thuật mới vào đồng ruộng.
2. Chế độ chính trị.
Một năm sau cuộc chính biến tháng 12-1851, Louis Napoléon Bonaparte
xưng đế, hiệu là Napoléon III, thiết lập ở Pháp một triều đại mới mà lịch
sử gọi là Ðế chế II (1852-1870). Ðây là một nền Quân chủ tư sản.
Napoléon III xây dựng ở Pháp một vương triều về hình thức tổ chức
giống như vương triều phong kiến nhưng dựa trên chế độ tư bản chủ
nghĩa nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản. Napoléon III xây dựng
một chế độ độc tài như đế chế I. Bên cạnh nhà vua là các cơ quan:
Viện nguyên lão: gồm những người do hoàng đế cử, làm việc suốt đời.
Viện nguyên lão có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp nhưng trên thực tế, nó là
công cụ để chính quyền sửa đổi Hiến pháp khi cần.
Ðoàn lập pháp: do tuyển cử bầu ra, với những cử tri gồm nam công dân
trên 21 tuổi. Ðoàn lập pháp có nhiệm vụ thông qua những đạo luật do
các bộ trưởng nhân danh hoàng đế thảo ra.
Hội đồng quốc gia: có nhiệm vụ thảo ra luật nhưng đây không phải là
III tuyên bố: Ðế chế, đó là hòa bình. Nhưng trên thực tế, chính sách
ngoại giao của Napoléon III hoàn toàn trái ngược với lời tuyên bố ấy.
Napoléon tìm cách gây ra những cuộc chiến tranh xâm lược để thỏa mãn
yêu cầu của giai cấp tư sản và đồng thời củng cố ngai vàng của ông ta
trước sự tấn công của các lực lượng cách mạng và dân chủ trong nước.
Napoléon III đã liên minh với Anh trong việc gây chiến tranh Crimée
với Nga. Chiến tranh làm cho Pháp tổn thất nặng nề nhưng lại củng cố
ngai vàng của Napoléon III.
Napoléon III liên kết với triều đình Piémont chống Áo, giúp đỡ nhân dân
Ý trong cuộc đấu tranh giải phóng phóng dân tộc nhưng sau lại phản bội
Ý, liên kết với Áo. Pháp gây chiến tranh với các bang miền nam Đức
ngăn cản sự thống nhất Ðức dẫn đến cuộc chiến tranh Pháp-Phổ.
Ngoài những cuộc chiến tranh ở Châu Âu, Napoléon III còn tiến hành
những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa ở các nước Châu Phi, Châu
Á nhằm mở rộng hệ thống thuộc địa của Pháp.
Năm 1857, thực dân Pháp chinh phục miền Kalybie, mở rộng thuộc địa
Algérie về phía nam, lấn sâu vào lãnh thổ các nước Châu Phi
Trong những năm 1857,1858,1860, Pháp đã cùng Anh gây chiến tranh
xâm lược ở Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia Pháp đã buộc triều
đình những nước này phải ký các hòa ước bất bình đẳng, có lợi cho sự
phát triển kinh tế của Pháp.
Từ những năm 60 trở đi, do những tính toán sai lầm, Napoléon III đã
đưa Ðế chế đến chỗ thất bại nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến uy tín của
Pháp trên trường ngoại giao.
Napoléon vừa tiến hành cải cách, vừa đàn áp công nhân, ra lệnh bắt các
chiến sĩ của quốc tế I Thắng lợi của Ðế chế II trong cuộc trưng cầu dân
ý chỉ là một thắng lợi có tính chất hình thức. Napoléon muốn ngăn chặn
phong trào cách mạng và củng cố ngai vàng bằng cách đưa Pháp vào
cuộc chiến tranh với Phổ nhưng thất bại về quân sự đã nhanh chóng đưa
Ðế chế đến chỗ sụp đổ.