Xã hội chủ nghĩa có phải là kế hoạch hóa toàn bộ nền kinh tế - Pdf 19

MỞ ĐẦU

Cơng cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hố tập trung sang nền
kinh tế thị trường ở nhiều nước trong thời gian qua đã thu hút được sự chú ý của
đơng đảo các giới nghiên cứu cũng như nhiều tầng lớp xã hội, nhất là các giới
doanh nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới, bởi tính triệt để và quy mơ rộng
lớn của nó đối với các quốc gia đang chuyển đổi, sự lựa chọn mơ hình phát triển
nền kinh tế thị trường là rất quan trọng trong và gặp khơng ít khó khăn, ngay cả
đối với những nước có nền cơng nghiệp khá phát triển.
Trước khi chuyển sang kinh tế thị trường, ở các nước xã hội chủ nghĩa đã
từng xây dựng mơ hình kinh tế kế hoạch hố, và khi kinh tế kế hoạch hố buộc
phải nhường bước cho kinh tế thị trường thì bản thân nó ắt phải có những
khuyết tật lớn. Phải chăng trong lý luận của C.Mác về xây dựng chủ nghĩa xã
hội đã có những sai lầm hay trong thực tiễn q trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở các nước đã có những điều bất ổn ?
Đối với Việt Nam , Đại hội đại biểu tồn quốc lần VI (1986) của Đảng đã
đề ra đường lối đổi mới tồn diện đất nước, đánh dấu bước chuyển biến căn bản
của nền kinh tế nước ta, từ vận hành theo cơ chế kế hoạch hố tập trung sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đây là một u cầu cần thiết và cấp bách, cũng là một q trình phức tạp, đầy
khó khăn, đòi hỏi phải tn thủ nghiêm túc quy luật của q trình hình thành và
phát triển của kinh tế thị trường.
Trên thực tế, sau hơn 10 năm đổi mới, diện mạo kinh tế - xã hội nước ta
đã thay đổi một cách căn bản, nhưng bên cạnh đó, cũng có khơng ít hạn chế và
thách thức, đòi hỏi phải có sự quan tâm hơn nữa của Đảng và Nhà nước, sự
đồn kết, tin tưởng của tồn thể nhân dân, nhằm xây dựng đất nước ngày càng
phát triển, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
NỘI DUNG
I. XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CĨ PHẢI LÀ KẾ HOẠCH HỐ TỒN BỘ
NỀN KINH TẾ.

của lực lượng sản xuất, nên trong tác phẩm “Tun ngơn Đảng cộng sản”, Mác
và Ănghen đã nêu lên luận điểm : “Đặc trưng của CNCS khơng phải là xố bỏ
chế độ sở hữu chung, mà là xố bỏ chế độ sở hữu tư sản”, vì “Chế độ sở hữu tư
sản hiện tại lại là biểu hiện cuối cùng và hồn nhất của sự sản xuất và chiếm
hưũ sản phẩm dựa trên cơ sở những đối kháng giai cấp, trên cơ sở người này
bóc lột những người kia”. Mác và Ănghen cũng đã viết “Phải tuỳ theo hồn
cảnh lịch sử đương thời”, và cũng đã phân biệt sở hữu cá nhân với sở hữu tư
nhân, đồng thời tun bố CNCS khơng hồn tồn xố bỏ sở hữu cá nhân. Đối
với sự chuyển dịch từ sở hữu tư nhân sang sở hữu xã hội, sở hữu hỗn hợp, Mác
quan niệm là sở hữu theo nghĩa các TLSX được sử dụng có tính xã hội, hoặc ở
mức cao hơn là TLSX thuộc về xã hội. Những biễn đổi đó phải được coi là q
trình phát triển lịch sử tự nhiên, do tính chất và trình độ phát triển lịch sử tự
nhiên.
1.2- Từ lý luận đến thực tiến.
Nhìn lại q trình xây dựng CNXH ở các nước XHCN trong những thập
kỷ qua, rõ ràng có sự khác nhau q lớn giữa CNXH trong dự tốn khoa học
của Mác và CNXH trên thực tế.
Tình thế cách mạng ở nhiều nước cho phép những người cộng sản giành
được chính quyền ngay khi trong nước chưa có những lực lượng sản xuất chín
muồi cho việc thiết lập CNXH . Đáng lẽ ra, phải kiên trì chủ động tạo ra các lực
lượng sản xuất ấy thuận theo các quy luật kinh tế tự nhiên - điều mà Mác và
Lênin nhiều lần nhân mạnh - thì những nước này lại nóng vội, áp đặt CNXH bất
chấp các điều kiện kinh tế thực tại. Bằng biện pháp hành chính, người ta tự đặt
ra những điều kiện kinh tế tưởng chừng như phù hợp với đòi hỏi của CNXH.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Để cho nền kinh tế kế hoạch hố có được cái nền tảng cơng hữu như
trong dự đốn khoa học của Mác, người ta đã mở rộng tràn lan khu vực kinh tế
quốc doanh cả ở những ngành sản xuất thủ cơng manh mún, cả ở những cửa
hàng, cửa hiệu tủn mủn. Nơng dân và thợ thủ cơng bị cưỡng ép tập hợp thành
các đơn vị kinh tế tập thể mà cơ sở vật chất kỹ thuật vẫn là kỹ thuật thủ cơng

để cho xây dựng CNCS.
2. Đối với Việt Nam, cần xây dựng nền kinh tế theo hướng nào?
Từ sau năm 1954, nền kinh tế miền Bắc nước ta được vận hành theo mơ
hình kế hoạch hố tập trung, trong đó tồn bộ hoạt động kinh tế từ sản xuất đến
phân phối, tiêu dùng đều được quyết định bởi cơ quan Nhà nước. Khơng thể
phủ nhận những ưu điểm của mơ hình này trong thời kỳ đất nước có chiến
tranh, tuy nhiên, duy trì q lâu một mơ hình rập khn, mà bản than nó vốn có
khơng tí những nhược điểm, trong điều kiện một nền kinh tế lạc hậu, trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất xã hội thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém... thì khơng
thể tránh khỏi tụt so với thế giới. Chính vì thế, đại hội VI (1986) của Đảng đã
khẳng định quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN.
2.1- Thực trạng kinh tế - xã hội khi chuyển sang KTTT.
Khi chuyển sang KTTT, nền KT-XH nước ta đứng trước hồn cảnh rất
khó khăn : Đất nước đã và đang bước q độ lên CNXH từ một xã hội vốn là
thuộc địa nửa phong kiến, lại vừa trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ
chống Pháp và chống Mỹ với những tàn phá nặng nề của chiến tranh; tàn dư
thực dân, phong kiến còn nhiều ; nền kinh tế lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp
kém, mang nặng tính tự cấp, tự túc và chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập
trung quan liêu bao cáp, đời sống xã hội khó khăn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Khó khăn lớn nhất trước hết là nền kinh tế hàng hố còn kém phát triển,
vẫn còn mang nặng tính chất tự cấp tựtúc : cơ sở vật chất- kỹ thuật và cơng
nghệ lạc hậu, cơ cấu kinh tế mất cân đối, kém hiệu quả, mang nặng đặc trưng
của nền kinh tế nơng nghiệp độc canh, năng suất lao động và thu nhập quốc dân
thấp, thị trường trong nước chưa phát triển và bị chia cắt, quản lý kém năng
động, tác phong còn chậm, máy móc dẫn tới hiện tượng cửa quyền làm cắt đứt
mối liên hệ giữa các ngành trong nền kinh tế.
Khó khăn lớn tiếp theo là ảnh hưởng nặng nề của nền kinh tế chỉ huy với
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đó là mơ hình gần như đối lập với nền kinh

sự mất dần khả năng cạnh tranh trong cuộc chạy đua kinh tế với các nước
TBCN. Thiếu cơ chế thị trường và nền dân chủ cũng là một cản trở khách quan
cho sự hồ nhập vào trào lưu văn minh chung của lồi người, sự tách biệt ngày
càng tăng lên dưới sự tác động mạnh mẽ của cách mạng KHKT và quốc tế hố
đời sống KT-XH trong những năm cuối thập kỷ 80.
Sự thất vọng của nhân dân vào chế độ quan liêu - cửa quyền đã đẩy các
nước đến cuộc khủng hoảng kinh tế - chính trị - xã hội rộng lớn, ảnh hưởng tới
sự tín nhiệm đối với Đảng cầm quyền (như ở Liên Xơ cũ và các nước Đơng
Âu). Vì thế, giải pháp duy nhất là lần lượt chuyển nền kinh tế KHHTT sang
KTTT trong thời gian ngắn nhất. Là một nước thuộc hệ thống XHCN, Việt Nam
cũng khơng nằm ngồi hồn cảnh trên. Hơn nữa, từ thực tế các nước đi trước
cho thấy, KTTT có những ưu thế hơn hẳn : Cơ chế thị trường có khả năng tự
điều tiết nền sản xuất xã hội, tức là có thể tự động phân bổ các nguồn tài ngun
sản xuất vào các lĩnh vực, các ngành kinh tế mà khơng cần bất cứ sự điều khiển
từ trung tâm nào. Cơ chế thị trường làm tăng tính cạnh tranh, kích thích phát
triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế theo cả chiều rộng và chiều sâu, tăng cường
chun mơn hố sản xuất.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status