Lịch sử trung cổ:
Những đặc điểm cơ bản của chế độ phong
kiến Trung Quốc
Về hoàn cảnh ra đời :
Do chiến tranh giữa các thị tộc bùng nổ. Và khi đó có 1 thị tộc thôn tính
được 1 số thị tộc gần đó và dần dần thành 1 quốc gia. Và có 1 thị tộc
nắm quyền mà sau này trở thành Hoàng gia.
Cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc (thế kỉ VIII - thế kỉ III trước Công
nguyên), người ta bắt đầu biết chế tạo công cụ bằng sắt. Nhờ có lưỡi
cày, lưỡi cuốc bằng sắt, người ta có thể trồng trọt trên diện tích rộng
hơn, có thể khai hoang những miền rừng rú lớn hơn. Đồng thời, kỹ
thuật sản xuất không ngừng được cải tiến. Các công trình thuỷ lợi và
giao thông có quy mô lớn cũng được xây dựng.
Những tiến bộ về công cụ, kỹ thuật sản xuất không chỉ làm cho diện tích
gieo trồng ngày một mở rộng, năng suất và tổng sản lượng nông nghiệp
tăng, mà còn làm cho xã hội biến đổi sâu sắc. Những quan lại và một số
người nông dân giàu đã tập trung trong tay nhiều của cải. Bằng quyền
lực của mình, họ còn tước đoạt thêm nhiều ruộng đất công. Từ đó, một
giai cấp mới hình thành, bao gồm những kẻ có ruộng tưm vốn là những
tên quan lại và những người nông dân giàu có, được gọi là giai cấp địa
chủ.
Cùng với quá trình hình thành giai cấp địa chủ, nông dân giờ đây cũng
bị phân hoá. Một bộ phận giàu có đã trở thành giai cấp bóc lột. Một số
khác vẫn giữ được ruộng đất để cày cấy, họ là nông dân tự canh, có
nghĩa vụ nộp thuế, đi lao dịch cho nhà nước. Số còn lại là những nông
dân, rất nghèo, không có ruộng, hoặc có quá ít, buộc phải xin nhận
Hành xử Vua-tôi thì trung quân - ái quốc : Quân sử thần tử,
thần bất tử bất trung.
Hành xử gia đình đối với người phụ nữ thì tam tòng tứđức :
Xuất giá tòng phu, xuất gia tòng phụ, phu tử tòng tử.Công, dung, ngôn,
hạnh
Hình thái xã hội - kinh tế xuất hiện sau chế độ chiếm hữu nô lệ, trong
đó giai cấp địa chủ, quý tộc chiếm hữu đất đai, bóc lột địa tô, chính
quyền tập trung trong tay vua chúa, địa chủ.
Nhà nước phong kiến xây dựng dựa trên quan hệ tư hữu về ruộng đất,
lực lượng sản xuất chính là nông dân. Xã hội có 2 tầng lớp chính là địa
chủ và nông dân. Mình đã viết rất rõ ràng là: "Suốt trong lịch sử TQ tầng
lớp nô tỳ ( nô: đàn ông, tỳ: đàn bà ) vẫn xuất hiện nhưng chưa bao giờ
đóng vai trò là lực lượng sản xuất chính trong xã hội".
Những biến đổi trong đời sống xã hội:
+ Những quan lại và một số nông dân giàu tập trung trong tay nhiều của
cải, Bằng quyền lực của mình, họ còn tước đoạt thêm nhiều ruộng đất
công. Từ đó, một giai cấp mới được hình thành, bao gồm những kẻ có
ruộng tư, vốn là những quan lại và những nông dân giàu có, gọi giai cấp
địa chủ.
+ Cùng với quá trình hình thành giai cấp địa chủ, nông dân cũng bị phân
hoá:
• Nông dân giàu có trở thành địa chủ
• Nông dân giữ dân giữ được một số ruộng đất gọi là nông dân tự canh
• Số còn lại là nông dân công xã, rất nghèo, không có hoặc có quá ít
chính thể quân chủ.
- Cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp dựa trên sản xuất nhỏ của nông
dân, những giai đoạn cuối, kinh tế hàng hoá phát triển mạnh dẫn đến
sự ra đời của kết cấu kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong
từng nước và từng khu vực, CĐPK mang những đặc điểm riêng của
những loại hình khác nhau. Vì vậy, trong những thập kỉ gần đây, các nhà
sử học và các nhà nghiên cứu có những quan niệm rất khác nhau về
CĐPK và từ đó, gây ra những cuộc tranh luận về những đặc điểm cũng
như sự tồn tại của CĐPK ở nhiều nước, nhất là ở phương Đông.
Kinh tế lãnh địa, giai cấp lãnh chúa và nông nô, hệ thống đẳng cấp dựa
trên quan hệ lãnh chúa - chư hầu, tình trạng cát cứ kéo dài, được coi là
những đặc điểm của CĐPK của nhiều nước Châu Âu. Nhưng ở phương
Đông, CĐPK thuộc một loại hình với những đặc điểm khác với Châu Âu.
Ở đây, kinh tế lãnh địa và quan hệ lãnh chúa - nông nô không phát
triển, chế độ quân chủ tập quyền ra đời sớm và tồn tại lâu dài, bên
cạnh sở hữu tư nhân còn có sở hữu nhà nước về ruộng đất, kinh tế địa
chủ với quan hệ địa chủ - tá điền chiếm ưu thế, vv. Sự khác biệt nhiều
đến mức độ làm cho một số nhà sử học tỏ ý nghi ngờ hoặc phủ nhận sự
tồn tại của CĐPK ở phương Đông.
Thời Hán Vũ Đế, Nho giáo trở thành công cụ sắc bén phục vụ cho nhà
nước phong kiến tập quyền, trở thành cơ sở lí luận và tư tưởng của chế
độ phong kiến Trung Quốc. Các quan niệm về quan hệ phục tùng giữa
vua – tôi, chồng - vợ, cha – con là kỉ cương của xã hội, là đạo đức phong
kiến. Sau này học thuyết của Nho giáo trở nên bảo thủ, ràng buộc tư
tưởng tình cảm con người vào những khuôn khổ lỗi thời và kìm hãm sự
phát triển xã hội.
phong kiến là một nền văn hoá lâu đời, rất phong phú đa dạng và có
nhiều độc đáo. Nền văn hoá ấy đã có tác dụng nhất định trong truyền
thống văn hoá dân tộc Trung Quốc, có ảnh hưởng đáng kể đến nhiều
nước ở thế giới
Ảnh hưởng trong nước :
- Chữ viết ra đời sớm giúp lưu trữ kiến thức, truyền bá tư tưởng, thống
nhất đất nước.
- Đạo Nho : giúp cũng cố ổn định xã hội trật tự phong kiến song càng về
sau nó càng bảo thủ lỗi thời, kìm hãm sự phát triểm
- Thiên văn học : nông lịch giúp phát triển nông nghiệp.
Kĩ thật ; có nhiều phát minh lớn hữu ích nhưng ảnh hưởng của nó khá
mờ nhạt.
* Ảnh hưởng ngoài nước :
- Tư tưởng, triết học, văn học, chữ viết, kiến trúc : có ảnh hưởng nhiều
đến Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản.
- Những thành tựu khoa học kĩ thuật có ảnh hưởng tới cả châu Âu và
trên thế giới
Từ thời cổ đại, người Trung Quốc đã xây dựng nhà nước của mình trên
lưu vực Hoàng Hà.
Nhận xét :