Số phận của "chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa" ở Trung Quốc_2 pot - Pdf 19

Số phận của "Chủ nghĩa hiện thực
xã hội chủ nghĩa" ở Trung Quốc

Những nhà lý luận Trung Quốc nghi ngờ CNHTXHCN đều hoàn toàn đồng ý với
ý kiến phản bác của Ximonov phát biểu ở trong Đại hội đại biểu các nhà văn Liên Xô
lần thứ hai, đồng thời bổ sung mấy điểm bất hợp lý của định nghĩa về CNHTXHCN. Họ
viết: từ khi định nghĩa này được xác định đến nay, chưa có ai giải thích được chính xác,
thường hôm qua coi là giải thích xác đáng thì hôm nay đã bị người khác lật đổ. Qua
khảo sát đặc trưng văn học hiện thực chủ nghĩa, họ cho rằng, “từ đặc điểm bên trong của
văn học hiện thực chủ nghĩa để phân chia văn học của hai thời đại cũ và mới thành một
đường ranh giới tuyệt đối khác nhau là rất khó khăn”. Do đấy, Tần Triệu Dương đề nghị
“gọi chủ nghĩa hiện thực trước mắt là chủ nghĩa hiện thực của thời đại xã hội chủ
nghĩa”. Ông còn nói: “Sở dĩ tôi nghiên cứu khuyết điểm của định nghĩa CNHTXHCN là
vì định nghĩa này đã đẻ ra một số tư tưởng dung tục, ở Trung Quốc chúng ta còn kết hợp
với một số tư tưởng dung tục khác tạo thành sự gò bó giáo điều trong sự nghiệp văn học.
Tư tưởng dung tục này là sự giải thích lý giải dung tục hoá đối với “Bài nói chuyện” của
Mao Trạch Đông và biểu hiện chủ yếu là ở việc lý giải quan hệ giữa văn nghệ và chính
trị” (Tần Triệu Dương: Tập tìm đường văn học Nxb. Văn học nhân dân, 1984, P143-
144). Như thế có thể thấy, các ông Tần Triệu Dương đã phủ định CNHTXHCN là một
phương pháp sáng tác độc lập, và chỉ ra định nghĩa này sẽ dẫn đến chủ nghĩa giáo điều
và lý giải dung tục về quan hệ giữa chính trị và văn nghệ.
Ý kiến phủ định CNHTXHCN của các ông Tần Triệu Dương bị một số nhà lý
luận phê bình khác phản bác. Trương Quang Niên, Hoàng Dược Miên, Tưởng Khổng
Minh, Diệp Dĩ Quần, v.v đều xuất phát từ quan điểm thế giới quan và phương pháp
sáng tác là gắn bó chặt chẽ với nhau; coi hạt nhân của khái niệm CNHTXHCN là chủ

Để bảo vệ CNHTXHCN, Trung Quốc còn cho dịch một số tài liệu của các học giả
Liên Xô ủng hộ CNHTXHCN. Ví dụ bài CNHTXHCN – phương pháp sáng tác của
nghệ thuật Liên Xô của Trôfimov, v.v Nxb. Văn học nhân dân cho in cuốnCác nhà văn
Liên Xô bàn về CNHTXHCN (1960). Tạp chí Dịch thuật cho in cuốn Bảo vệ
CNHTXHCN (1958) chia làm hai tập, tập một gồm những bài viết của giới văn học Liên
Xô bảo vệ “CNHTXHCN”, tập hai gồm những bài viết của giới nghiên cứu Đông Âu về
CNHTXHCN.
Ngoài một số ấn phẩm dịch và một số bài phê phán ra, còn có một số bài của Mao
Thuẫn, Quách Mạt Nhược, Qua Bảo Quyền… cũng chính thức ủng hộ và bảo vệ
CNHTXHCN. Quách Mạt Nhược không những coi CNHTXHCN là “ngọn cờ hồng tươi
rói” mà còn coi những ý kiến bất đồng là cuộc đấu tranh chính trị (Văn nghệ báo số 30-
1957).
Năm 1958, ở Trung Quốc xuất hiện phong trào “nhảy vọt”. Quan hệ giữa hai
đảng, hai nhà nước Xô-Trung có hiện tượng rạn nứt, nên Mao Trạch Đông không đề
xướng CNHTXHCN của Liên Xô nữa, mà đưa ra phương pháp sáng tác mới của riêng
mình, đó là sự “kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực cách mạng và chủ nghĩa lãng mạn”
(gọi tắt là “hai kết hợp”). Trong một bài nói chuyện ở Hội nghị Thành Đô của Trung
ương Đảng tháng 8-1958, khi bàn đến con đường phát triển của thơ mới Trung Quốc,
Mao Trạch Đông nói nội dung của thơ mới nên là “sự thống nhất đối lập giữa chủ nghĩa
hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn”. Cùng năm đó, tháng 4, Quách Mạt Nhược khi trả lời
ban biên tập Văn nghệ báo về bài từ Trả lời Lý Thục Nhất – theo điệu Điệp Luyến
hoa của Mao Trạch Đông, ông cho rằng bài từ đó là “sự kết hợp điển hình của chủ nghĩa
lãng mạn cách mạng và chủ nghĩa hiện thực cách mạng” (Văn nghệ báo số 7-1958. Sau
đó ít lâu, Văn nghệ báo số 9-1958 cho đăng một số bài của mấy nhà thơ dưới tiêu đề Sự
kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực cách mạng và chủ nghĩa lãng mạn cách mạng. Nhưng
những bài viết này chỉ mới bàn đến “Hai kết hợp” ở trong thơ. Cho mãi đến khi tạp
chí Hồng kỳ (1.6.1958) đăng bài Dân ca mới mở ra con đường mới cho thơ ca của Chu
Dương thì mới chính thức truyền đạt tinh thần của buổi nói chuyện của Mao Trạch Đông
nói ở trên và nói rõ ý nghĩa của “Hai kết hợp”. Chu Dương viết: “Đồng chí Mao Trạch
Đông nêu ra văn học chúng ta nên là sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực cách mạng và

theo
(3)
Chu Dương bắt đầu có vẻ cởi mở hơn. Tháng 12-1978 trong buổi toạ đàm sáng
tác văn học ở Quảng Đông, sau khi nhắc đến “Hai kết hợp”, ông nói: “Bất cứ khẩu
hiệu sáng tác nào đều không nên trở thành công thức và giáo điều trói buộc… Chúng ta
cần đề xướng phương pháp sáng tác mà chúng ta cho là tốt nhất, đồng thời càng cần
phải cổ vũ đa dạng hoá phương pháp sáng tác và phong cách sáng tác, không đòi hỏi
nhất luật như nhau” (Chu Dương văn tập. T.5, P178). Ở đây, có điều khác với Mao
Thuẫn là ông không nói “Hai kết hợp” và CNHTXHCN là như nhau.
Từ 1980 trở về sau, Chu Dương không nhắc đến khái niệm CNHTXHCN và cũng
không nhắc gì đến “Hai kết hợp” nữa, mà chỉ nhấn mạnh “chủ nghĩa hiện thực cách
mạng”. Ví dụ, tháng 2-1980, trong một buổi tọa đàm về sáng tác kịch bản, khi thấy có
người đòi khôi phục lại truyền thống hiện thực chủ nghĩa của nền văn học mới thời Ngũ
tứ, trở về như thời Ngũ tứ, Chu Dương nói: “Một thời gian trước đây chúng ta kiên trì
cầm chừng con đường sáng tác hiện thực chủ nghĩa. Thời kỳ Lâm Bưu và “bọn bốn tên”
ngang ngược hoành hành, chủ nghĩa hiện thực bị dày xéo hoàn toàn, bây giờ nhấn mạnh
lại chủ nghĩa hiện thực là rất cần thiết. Nhưng không phải quay lại trước kia một cách
đơn giản, mà nay trong điều kiện mới, hãy lấy tinh thần mới để khôi phục và phát triển
chủ nghĩa hiện thực cách mạng” (Chu Dương văn tập. T.5, P211-212). Qua đây có thể
thấy áp lực đòi quay về truyền thống hiện thực chủ nghĩa đã ảnh hưởng tới Chu Dương.
Từ cuối thập niên 70 trở đi, giới nghiên cứu văn học Liên Xô của Trung Quốc bắt
đầu viết bài bình luận về “hệ thống mở của CNHTXHCN” của Liên Xô. Gần như đồng
thời, một số nhà lý luận cũng bắt đầu viết bài chất vấn, nghi ngờ “Hai kết hợp”. Ví dụ,
bài “Hai kết hợp” có thể trở thành phương pháp sáng tác được không? của Chu Ân Bân
(1979); Phương pháp sáng tác “Hai kết hợp” và tư tưởng tả khuynh của Lưu Quang
(1980); Nghi ngờ về phương pháp sáng tác “Hai kết hợp” của Đinh Phúc Nguyên
(1989), v.v… Những bài văn trên đều gắn “Hai kết hợp” với tư tưởng tả khuynh và phủ
định “Hai kết hợp” là một phương pháp sáng tác tồn tại độc lập.
Cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình chính trị xã hội Liên Xô có biến động,
khiến cho giới văn học của nước này dần dần công khai hoài nghi, phê phán, phủ định

nghĩa cổ điển mới”, tức là “nhấn mạnh việc khống chế của hình thái ý thức đối với văn
học (Văn nghệ tòng thuộc chính trị), lấy lý tính để trang sức giả tạo cho hiện thực (nhấn
mạnh tính lý tưởng và chủ nghĩa lãng mạn). Nó vừa làm mất tinh thần phê phán của chủ
nghĩa hiện thực lại vừa không có tinh thần phản kháng của chủ nghĩa lãng mạn. Tác giả
cho rằng: “chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX và chủ nghĩa hiện thực thời Ngũ tứ là chủ
nghĩa hiện thực chân chính. Chỉ có thể trên cơ sở này phát triển chủ nghĩa hiện thực chứ
không thể dưới tiền đề phủ định cơ sở này mà tạo ra một CNHTXHCN khác, làm như
vậy chỉ có thể chủ nghĩa hiện thực giả tạo”.
Ý kiến của Dương Thời Xuân bị một vài nhà lý luận bảo thủ phản bác lại, nhưng
họ lại nêu ra một ý kiến mới. Ví dụ nhà nghiên cứu Trần Liêu dưới tiền đề khẳng định
CNHTXHCN, ông phủ định “Hai kết hợp”. Ông cho rằng “Hai kết hợp” xuất hiện trong
bối cảnh “chống phái hữu” đang mở rộng, “đại nhảy vọt” đang dâng cao và những người
theo chủ nghĩa giáo điều cho CNHTXHCN đã lỗi thời và dùng “Hai kết hợp” để thay thế
CNHTXHCN, kết quả là tạo ra hàng loạt tác phẩm hiện thực giả tạo và lãng mạn rẻ tiền.
Do đấy Trần Liêu cho rằng cần triệt để phủ định “Hai kết hợp” và kiên trì CNHTXHCN
(Văn hối báo3-3-1989).
Tiếng nói của Trần Liêu rơi vào lạc lõng, chẳng ai đồng tình. Từ cuối thập niên 90
của thế kỷ XX, dường như không ai coi CNHTXHCN là phương pháp cơ bản của sáng
tác văn học Trung Quốc nữa. Sự cáo biệt CNHTXHCN cũng thể hiện ở các giáo trình lý
luận văn học ở các trường Đại học. Giờ đây người ta chỉ nói đến chủ nghĩa hiện thực
còn những khái niệm “kết hợp chủ nghĩa hiện thực cách mạng và chủ nghĩa lãng mạn
cách mạng” hoặc CNHTXHCN đã biến mất khỏi các giáo trình lý luận văn học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status