BÁO CÁO KHOA HỌC: "TÍNH ĐA DẠNG CỦA HỆ THỰC VẬT VIỆT NAM VỀ MỘT SỐ LOÀI LAN HÀI ĐÁNG CHÚ Ý THU ĐƯỢC Ở LƯU VỰC RÀO ÀN (XÃ SƠN KIM, HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH)" - Pdf 19

TÍNH ĐA DẠNG CỦA HỆ THỰC VẬT VIỆT NAM
VỀ MỘT SỐ LOÀI LAN HÀI ĐÁNG CHÚ Ý THU
ĐƯỢC Ở LƯU VỰC RÀO ÀN (XÃ SƠN KIM, HUYỆN
HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH)

L. V. Averyanov
Viện Thực vật học Cômarốp
Phan Kế Lộc
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật
Nguyễn Tiến Hiệp
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở khắp nơi trên thế giới các loài thuộc họ LAN
(ORCHIDACEAE) luôn luôn là yếu tố nhậy cảm nhất và
có nguy cơ bị tiêu diệt lớn nhất của các hệ thực vật địa
phương. Nhiều loài của họ này đã lâm vào tình trạng đó rất
nhanh chóng do hậu quả của nạn khai thác gỗ bừa bãi, khai
hoang mở rộng đất trồng trọt và phá rừng tràn lan, không
tuân thủ các quy hoạch và quy trình đề ra. Việc tổ chức các
Khu bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo tồn nơi sống khởi thủy
của nhiều loài LAN sống trong đó có tầm quan trọng sống
còn đối với việc cứu vớt tính đa dạng LAN ở quy mô toàn
cầu. Liên hệ với vấn đề này thì việc điều tra kiểm kê các
loài LAN ở từng địa phương có ý nghĩa quan trọng để xác
định các vùng có mức độ đặc hữu LAN cao để ưu tiên bảo
tồn.

ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG

của lưu vực Rào Àn

Trong số các loài đó trước hết phải kể đến Biermannia
calcarata, Dendrobium ochraceum, Eria calcarea,
Habenaria tonkinensis, Micropera poilanei và Pholidota
guibertiae. Chúng đều là các loài đặc hữu của Việt Nam, có
sự phân bố rất hẹp, đồng thời là các loài đặc trưng quan
trọng nhất cho hệ thực vật nguyên thủy của đai rừng này.
Việc bảo tồn các loài đó cần được quan tâm đặc biệt. Sau
đây là một số dẫn liệu chi tiết hơn về chúng.

1. Biermannia calcarata Aver., Bot. Zurn. (Leningrad)
73(3): 429 (1998).
Loài LAN sống bám trên cây rất nhỏ bé này được phát hiện
lần đầu tiên trong rừng nguyên sinh rậm thưỡng xanh nhiệt
đới mưa mùa cây lá rộng trên núi đá vôi ở đảo Cát Bà vào
năm 1986, và được một trong chúng tôi mô tả là mới cho
khoa học (Averyanov, 1988). Từ đó đến nay mặc dầu đã
tiến hành nhiều đợt khảo sát tại các vùng khác nhau của đất
nước nhưng chưa gặp lại. Chỉ cách đây 3 năm mới tìm
thêm được ở vùng mà chúng tôi nghiên cứu. Là yếu tố đặc
trưng cho kiểu rừng nguyên thủy, rậm, ẩm ướt, cây lá rộng,
ở dải đất thấp của bắc Việt Nam.

Mẫu nghiên cứu - Tọa độ: 18
o
24’ B và 105
o
13’ Đ; độ cao:
260 m; trong rừng nguyên sinh rậm thường xanh cây lá

Loài LAN mọc trên đá điển hình, rất ít khi sống bám trên
cành cây gỗ. Cho đến nay chỉ gặp ở vùng núi đá vôi phía
bắc, từ Sơn La qua Hà Giang đến Cao Bằng, về phía nam
chỉ mới đến Hòa Bình. Đây là lần đầu tiên gặp ở khá xa về
phía nam, ở vùng núi không phải là đá vôi.
Mẫu nghiên cứu- Tọa độ: 18
o
22’00” B và 105
o
13’13” Đ;
độ cao: 240-260 m, trong rừng nguyên sinh rậm thường
xanh cây lá rộng ở ven suối; sống bám trên cây gỗ cao; loài
mọc khá phổ biến; P.K. Lộc, L. Averyanov, N.X. Tám và
N.T. Vinh HAL 1326 (29 IV 2002) (HN, LE).

4. Habenaria tonkinensis Seidenf., Dansk Bot. Arkiv
31(3): 114 (1977).

Trước khi chúng tôi phát hiện được ở vùng Rào Àn thì loài
LAN này mới gặp ở một điểm thuộc tỉnh Quảng Ninh cách
đây vài chục năm(“Taai Wong Mo Shan, Tong Fa market,
Ha-Coi, Tonkin”). Ở Rào Àn loài LAN nhỏ, có củ và hoa
màu trắng này mọc thành đám khá phổ biến trong các hốc
đất nhiều rêu tích tụ ở khe đá granit dọc suối, đôi khi mọc
cả trong các đám cỏ, ở độ cao từ 200 đến 1150 m.

Mẫu nghiên cứu- Ở vùng nghiên cứu đã thu được mẫu 3
lần: a. Dọc suối Rào Àn, tọa độ: 18
o
22’ B và 105

phát hiện lúc đầu ở Đông Ché (Quảng Trị), sau đó cả ở
Thượng Hóa (Quảng Bình) và Hữu Liên (Lạng Sơn)
(Averyanov, Averyanova, 2000). Ở vùng chúng tôi nghiên
cứu loài LAN này gặp rất ít, sống bám trên cành cây gỗ
dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh cây lá rộng
phát triển trên đá granit ở gần suối. Cụm hoa dài đến 20-30
cm, treo thõng, mang nhiều hoa nhỏ, cấu tạo rất bất thường,
màu hồng với môi có nhiều chấm màu tía-tím.

Mẫu nghiên cứu- Tọa độ: 18
o
22’00” B và 105
o
13’13” Đ;
độ cao: 250-360 m, mọc trong rừng rậm thường xanh nhiệt
đới mưa mùa cây lá rộng trên sườn núi đá granít; sống trên
bám trên cành cây gỗ; P.K. Lộc, L. Averyanov, N.X. Tám
và N. T. Vinh HAL 1321 (29 IV 2002) (HN).

6. Pholidota guibertiae Finet, Notul. Syst. (Paris) 1: 255
(1910).

Trước phát hiện của chúng tôi ở Rào Àn loài LAN này chỉ
mới biết ở vùng lấy mẫu chuẩn gần Quy Nhơn (Bình Định)
và đôi khi được trồng tại một số Vườn Lan tự nhân ở Đà
Lạt (Averynaov, 1994). Cụm hoa gồm nhiều bông treo
thõng với hoa to nhất trong số các loài của chi Pholidota,
màu từ da cam đến da cam nâu, do đó có giá trị làm cảnh
cao.


Dendrrobium faulhaberianum Schltr., Liparis balansae
Gagnep., Liparis chapaensis Gagnep., Liparis
stricklandiana Rchb.f. và Pholidota chinensis Lindl. Tất cả
các loài đó cùng các loài LAN khác phân bố rộng hơn gặp
ở Rào Àn đều là các yếu tố điển hình của các kiểu rừng rậm
thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng ở đất thấp của
bắc Việt Nam. Do hầu hết diện tích của kiểu rừng kể trên
đã bị mất đi nên khu rừng sót lại ở Rào Àn có giá trị rất lớn
trong việc bảo tồn các yếu tố còn sót lại này. Và từ đó
chúng ta thấy tính cấp thiết của việc bảo tồn có hiệu quả
qua khu rừng hiếm có này.

Lời cảm ơn- Chương trình nghiên cứu cơ bản trong khoa
học tự nhiên (đề tài) đã tài trợ phần kinh phí chủ yếu cho
nghiên cứu này. Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã
tạo điều kiện để tổ chức hợp tác thực hiện. Chúng tôi xin
chân thành cảm ơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Averyanov, L.V. 1988. New taxa and nomenclatural
changes in the Orchidaceae family of Vietnamese flora.
Bot. Zurn. (Leningrad) 73(3): 423-432 (tiếng Nga).
2. Averyanov, L.V. 1994. Identification guide to
Vietnamese orchids (Orchidaceae Juss.). S Petersburg.
World and Family. 432 p. (tiếng Nga).
3. Averyanov L. & Averyanova, A. 2000. Rare species of
orchids (Orchidaceae) in the flora of Vietnam.
Turczaninowia 3(2): 5-86 (tiếng Nga).
4. Vu Ngoc Long & Averyanov, L.V. 2002. New species of

most other regions of Vietnam many years ago. At the
same time these forests have very high level of plant
diversity and local endemism, which represents great
interest for scientific studies and exploration.

Preliminary inventory of the orchid flora in Rao An
watershed during short exploration trip in April 2002 and
studies of herbarium materials at the Herbarium of the
Institute of Ecology and Biological Resources (HN) reveal
distinct diversity of orchids in this area. During laboratory
and fieldwork were observed and documented 35 species of
the family collected in the belt of warm loving primary
closed evergreen tropical broad-leaved forests spreading at
elevations 200-400 m a.s.l. (Table 1). Among them the
folowing species are local Vietnamese endemics:
Biermannia calcarata Aver., Dendrobium ochraceum De
Wild., Eria calcarea Aver. & V.N. Long, Habenaria
tonkinensis Seidenf., Micropera poilanei (Guillaum.)
Garay and Pholidota guibertiae Finet. All these plants have
very restricted distribution and represent most significant
indigenous element of pristine Vietnamese flora. Besides
mentioned strict Vietnamese endemics some orchids
observed in Rao An area belong to the group of endemic
species to Indochinese Peninsula. They are Dendrobium
faulhaberianum Schltr., Liparis balansae Gagnep., Liparis
chapaensis Gagnep., Liparis stricklandiana Rchb.f. and
Pholidota chinensis Lindl.

All listed strict endemic to Vietnam and endemic to
Indochina orchids, as well as other more widespread orchid


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status