Chẩn đoán hình ảnh sỏi đường mật và sỏi túi mật
I./ Đại cương:
- Sỏi mật là một bệnh phổ biến ở Việt nam.
- Sỏi đường mật gặp nhiều hơn sỏi túi mật do yếu tố nhiễm khuẩn và nhiễm KST.
- Sỏi đường mật có thể nằm ở đường mật trong gan, đường mật ngoài gan hoặc phối hợp cả 2.
Sỏi đường mật được hình thành từ muối mật.
- Sỏi túi mật ít gặp hơn nhưng cũng càng ngày càng tăng lên ở Việt Nam. Tác nhân gây sỏi liên
quan nhiều đến sự tăng Cholestérol mật và giảm muối mật.
- Về mặt giải phẫu đại thể sỏi mật có 3 dạng: Bùn mật, sỏi bùn và sỏi.
II./ Chẩn đoán hình ảnh:
1./ Xquang: Chụp bụng không chuẩn bị.
a./ Chụp gan xa (chụp Télé – gan).
- Xác định kích thước thật của gan.
- Đường kính hoành đỉnh: 14 – 16,5 cm.
- Đường kính hoành – cột sống: 9 – 12cm.
b./ Chụp các phim thẳng nghiêng:
- Đánh giá sỏi mật cản quang (30%). Sỏi mật cản quang có nhiều vòng đồng tâm.
- Phim nghiêng: Hình cản quang nằm trước cột sống (phân biệt với sỏi thận phải)
*./ Chẩn đoán phân biệt: Hình cản quang bất thường nằm vùng gan, sỏi thận phải, vôi hóa nhu
mô gan (nang sán, u gan, vôi hóa mạch máu), túi mật sứ
- Chiếu Xquang: Di động theo tư thế, nhịp thở của bệnh nhân.
2./ Siêu âm:
a./ Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mât ngoài gan).
- Có thể được hình thành tại chỗ hoặc do sỏi đường mật trong gan hay sỏi túi mật di chuyển
đến.
- Sỏi OMC có thể không có không có triệu chứng lâm sàng hoặc biểu hiện đau, sốt, vàng da
từng đợt.
- Sỏi có thể đơn độc hoặc nhiều, đôi khi chất đầy đường mật.
*/ Hình ảnh siêu âm:
- Dấu hiệu trực tiếp là Hình tăng âm kèm bóng cản phía sau nằm trong OMC.
- Sỏi túi mật có thể không có triệu chứng lâm sàng mà phát hiện tình cờ trên phim chụp bụng
không chuẩn bị hoặc siêu âm.
- Khi có biến chứng sỏi có thể gây đau vùng vùng hạ sườn phải và cũng có thể gây vàng da tắc
mật.
*/ Hình ảnh siêu âm:
- Dấu hiệu trực tiếp:
+ Sỏi mật:
Cấu trúc tăng âm kèm bóng cản hình tròn hoặc hình bầu dục trong túi mật.
Thay đổi vị trí theo tư thế bệnh nhân.
Khi nhiều sỏi tập trung thành đám nằm sát nhau hay sỏi quá lớn thì không thấy toàn bộ hình
viên sỏi mà chỉ thấy một vòng cung tăng âm kèm bóng cản.
Khi túi mật teo nhỏ hay sỏi kẹt cổ túi mật thì sỏi không di động theo thư thế bệnh nhân.
+ Sỏi bùn: Độ tăng âm thay đổi, giảm âm hơn sỏi mật không kèm bóng cản. Di động theo tư thế
bệnh nhân.
+ Bùn mật: Tăng âm so với dịch mật, không kèm bóng cản. Thay đổi theo tư thế bệnh nhân,
luôn lắng đọng ở phần thấp. Chiếm một phần hay toàn bộ túi mật.
+ Các sỏi có thể riêng rẽ hoặc phối hợp với nhau trên cùng bệnh nhân.
- Dấu hiệu gián tiếp:
+ Gián túi mật: Kích thước ngang túi mật > 4 cm.
+ Viêm túi mật mạn: Túi mật teo nhỏ thành dày, tăng âm, thâm nhiễm mỡ xung quanh.
+ Dịch mật có thể không trong do viêm nhiễm , mủ, chảy máu.
+ Đường mật phía trên không giãn.
- Hạn chế của siêu âm trong chẩn đoán sỏi túi mật
+ Sỏi nhỏ không kèm bóng cản.
+ Sỏi nằm ở cổ hoặc ống túi mật
+ Bệnh nhân béo.
+ Sẹo mổ ổ bụng hoặc hơi ống tiêu hóa nhiều.
- Một số hình ảnh có thể nhầm sỏi túi mật:
+ Hơi ống tiêu hóa (tá tràng hoặc đại tràng) Hình ảnh thay đổi trong quá trình thăm khám.
+ U túi mật: Hình tăng âm không bóng cản. Thành túi mật dày khu trú thành mảng, khối bờ
- Túi mật teo nhỏ.
- Thành dày không đều, tăng âm vôi hóa.
- Lòng chứa sỏi, có khi không có dịch mật
*/ Túi mật sứ: Thành túi mật bị vôi hóa và hầu như luôn đi kèm sỏi mật. Đây là một thể đặc biệt
của viêm túi mật mãn.
- Chụp gan mât không chuẩn bị thấy hình túi mật cản quang.
- Siêu âm: Túi mật biểu hiện bằng một vòng cung kèm bóng cản. Cần phân biệt với 2 vòng cung
trong viêm xơ teo túi mật có sỏi.
- Có khoảng 20% túi mật sứ có ung thư túi mật đi kèm.
5/ Ung thư túi mật:
- Thành túi mật dày khu trú thành mảng, khối bờ nham nhở.
- Xâm lấn gan và rốn gan
6/ Hội chứng Mirizzi: Hiếm
- Sỏi cổ túi mật.
- Viêm túi mật mãn.
- Tắc mật do hẹp ống gan chung.
7/ Dò mật – ống tiêu hóa:
- Hơi trong đường mật.
- Có thể thấy sỏi trên phim x quang nếu sỏi cản quang.
- Tắc ruột do sỏi.
8/ Chảy máu đường mật:
- Dịch mật đục.
- Đôi khi thấy cục máu đông tăng âm không kèm bóng cản, di động trong túi mật.