Vài nét về vấn đề đào tạo giáo viên GDĐB
tại trường Đại học sư phạm TPHCM Việc đào tạo giáo viên chuyên ngành Giáo dục Đặc biệt (GDĐB) trình
độ đại học có ý nghĩa rất lớn đối với chất lượng của đội ngũ giáo viên
Giáo dục đặc biệt trong tương lai và chất lượng nhân sự của ngành Giáo
dục Đặc biệt ở các địa phương. Sự ra đời của Khoa Giáo dục Đặc biệt ,
trường ĐHSP Tp.HCM vào năm 2003 đã ghi dấu ấn quan trọng trong
việc xây dựng hệ thống Giáo dục đặc biệt ở các tỉnh thành phía Nam
nhằm đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của xã hội về việc xây dựng đội
ngũ giáo viên, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực
giáo dục trẻ có nhu cầu đặc biệt. Sự ra đời của Khoa GDĐB cũng thể
hiện tính nhân văn của Đảng, Chính phủ và các cấp lãnh đạo trong việc
quan tâm, chăm sóc và nuôi dưỡng đối tượng trẻ có nhu cầu giáo dục
đặc biệt. Nhiệm vụ chính của Khoa là đào tạo giáo viên dạy trẻ có nhu
cầu đặc biệt ở các trung tâm, các trường hòa nhập hoặc chuyên biệt
trong cả nước.
Trong công tác đào tạo, Khoa GDĐB luôn quan tâm đầu tư, nghiên cứu
xây dựng và điều chỉnh chương trình đào tạo cũng như không ngừng đổi
mới phương pháp đào tạo bám sát với thực tiễn của ngành. Khoa GDĐB
đã và đang tiến hành xây dựng chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ
và sẽ thực thi chương trình này vào năm 2010. Chương trình đào tạo
ngày càng được hoàn thiện với sự trợ giúp của nhiều chuyên gia giáo
dục đặc biệt trong và ngoài nước. Theo chương trình đào tạo niên chế từ
năm 2003 đến 2010 sinh viên được học chuyên sâu một chuyên ngành
khiếm thính hoặc khiếm thị hoặc chậm phát triển trí tuệ. Từ năm học
2010-2011 trở đi, chương trình đào tạo song song hai chuyên ngành
chậm phát triển và khiếm thị hoặc chậm phát triển và khiếm thính nhằm
nâng cao năng lực và khả năng chuyên môn đồng thời mở rộng cơ hội
việc làm cho các em sau khi tốt nghiệp Đại học.
trường phổ thông. Trong đó đã có hơn 1000 giáo viên được nhận chứng
chỉ tham gia các khóa học do Khoa GDĐB, ĐHSP Tp.HCM tổ chức do
nhiều chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy nhằm chia sẻ với các
bạn đồng nghiệp Việt Nam những tiến bộ của ngành Giáo dục đặc biệt,
những phương pháp chẩn đoán, khám sàng lọc và đánh giá đánh giá trẻ
khuyết tật tiên tiến nhất của trường ĐH Oregon (Hoa kỳ), những phương
pháp trị liệu cho trẻ tự kỷ, cách tiếp cận phù hợp với trẻ tự kỷ của trường
ĐH Texas (Hoa kỳ), "Hỗ trợ trẻ khó khăn về ngôn ngữ, giao tiếp và
hành vi học hiệu quả", Giáo dục giới tính; "Xây dựng kế hoạch giáo dục
cá nhân" trên tinh thần đem lại những gì tốt đẹp nhất để trẻ có nhu cầu
đặc biệt hòa nhập với cộng đồng. Thông điệp từ những khóa học có ý
nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp giáo dục đặc biệt ở Việt Nam.
Tuy nghiên, thực trạng cho thấy đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy
trẻ khuyết tật chưa được đào tạo, bồi dưỡng đủ về số lượng và chất
lượng để đáp ứng nhu cầu đi học ngày càng tăng của trẻ có nhu cầu đặc
biệt nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng. Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục các cấp chưa được bồi dưỡng kiến thức về giáo dục trẻ khuyết
tật và quản lý chuyên môn trong trường chuyên biệt hoặc hòa nhập. Số
giáo viên được đào tạo chính quy và tại chức về giáo dục trẻ khuyết tật,
trình độ đại học mới cả nước tính đến 12/2009 có khoảng 500 người và
trình độ cao đẳng là khoảng 700 người. Số lượng này không đáp ứng đủ
nhu cầu của gần 35.000 trường học từ mầm non đến trung học cơ sở
trong cả nước mà mới chỉ đáp ứng được ở những nơi có chương trình dự
án. Vì vậy nên hơn 800. 000 trẻ khuyết tật chưa được đến trường. Đặc
biệt ở những vùng nông thôn, vùng xa, vùng sâu hầu hết trẻ khuyết tật
không được đi học.
Đội ngũ giảng viên của các trường sư phạm có khoa giáo dục đặc biệt
còn thiếu về số lượng và chưa có nhiều kinh nghiệm chuyên ngành, đặc
biệt là chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ. Cả nước mới có ba cơ sở đào tạo có
khoa, tổ giáo dục đặc biệt như ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Đà Nẵng và