Báo cáo tốt nghiệp: Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam - Pdf 19


TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

[\[\

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:

Thực trạng, định hướng và
giải pháp phát triển ngành
dệt may xuất khẩu Việt Nam

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 1 -

LỜI MỞ ĐẦU

Bước sang thế kỉ 21 xu thế quốc tế hoá ngày càng mạnh mẽ,
phân công lao động ngày càng sâu sắc, hầu hết các quốc gia đều mở cửa
nền kinh tế để tận dụng triệt để hiệu quả lợi thế so sánh của nước mình.
Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của quá trình thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì ngành dệt may là một ngành

Nam trong môi trường kinh tế thế giới nhiều biến động thì đây chính là
một sự kiện đáng mừng của ngành trong thời gian qua. Trước những
thành quả to lớn đáng tự hào đó, tác giả đã chọn đề tài: "Thực trạng,
định hướng và giải pháp phát triển ngành dệt may xuất khẩu Việt
Nam" với mục đích phân tích thực trạng của ngành dệt may Việt Nam,
xu hướng của thị trường dệt may thế giới đánh giá những thuận lơị khó
khăn của ngành dệt may trong tình hình hiện nay từ đó đưa ra các biện
pháp thích hợp để nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng này.

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 3 -

Khoá luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu thực trạng năng
lực sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam trong những
năm qua, tình hình tiêu thụ hàng dệt may trên thị trường thế giới. Đồng
thời phân tích những tác động của các chính sách quốc gia và môi
trường quốc tế, đặt ngành dệt may của Việt Nam trong xu thế toàn cầu
hoá kết hợp với đánh giá năng lực sản xuất và xuất khẩu của một số sản
phẩm dệt may phổ biến của Việt Nam như hàng dệt kim, dệt thoi, hàng
may sẵn, bông…Những sản phẩm khác của ngành dệt may như hàng
dệt kỹ thuật sẽ không là đối tượng nghiên cứu của luận văn này.
Với phương pháp duy vật biện chứng, so sánh, tổng hợp phân
tích, kết hợp những kết quả thống kê với sự vận dụng lý luận làm sáng
tỏ những vẫn đề nghiên cứu. Hơn nữa, khoá luận tốt nghiệp còn vận
dụng các quan điểm, đường lối phát triển chính sách kinh tế của Đảng
và Nhà nước để khái quát, hệ thống và khẳng định các kết quả nghiên
cứu.


Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 5 -

xuất khẩu hàng dệt may, khuyến khích và mở rộng thị trường xuất khẩu,
nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành dệt may để ngành trở thành
một ngành công nghiệp mũi nhọn trong giai đoạn đầu của quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường
đại học Ngoại Thương, những người đã truyền đạt rất nhiều kiến thức
bổ ích và tạo điều kiện thuận lợi cho em suốt quá trình học tập tại
Trường. Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo Nguyễn
Quang Hiệp, người đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên em hoàn thành
khoá luận tốt nghiệp này.

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
Ở Việt Nam, mặc dù là một nước lạc hậu, kém phát triển
nhưng so với ngành dệt may trên thế giới thì cũng có rất nhiều điểm nổi
bật. Trước đây, vào thời phong kiến khi máy móc, khoa học kĩ thuật
chưa phát triển ở nước ta thì ngành dệt may Việt Nam đã hình thành từ
ươm tơ, dệt vải với hình thức đơn giản thô sơ nhưng mang đầy kĩ thuật
tinh sảo và có giá trị rất cao. Sau đó ươm tơ dệt vải đã trở thành một
nghề truyền thống của Việt Nam được truyền từ đời này qua đời khác
nhờ vào những đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Việt Nam. Dù
những công việc đó rất giản đơn nhưng chính những nghề truyền thống
này đã tạo ra một phong cách rất riêng cho ngành dệt may Việt Nam ta
mà không một nước nào có được.
Ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam bắt đầu phát triển từ
những năm 1958 ở miền Bắc và đến năm 1970 ở miền Nam, nhưng mãi
tới năm 1975 khi đất nước thống nhất, ngành dệt may mới được ổn định.
Nhà máy được hình thành ở 3 miền: miền Bắc, miền Trung và miền
Nam. Các nhà máy này đã thu hút và giải quyết công ăn việc làm cho
hàng vạn lao động. Khi đất nước vừa thoát khỏi ách thống trị, đang còn
trong tình trạng kinh tế trì trệ kém phát triển thì các nhà máy của ngành

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 8 -

đóng một vai trò rất to lớn đối với đất nước.
Lúc đầu, các nhà máy chỉ sản xuất hàng hoá để phục vụ nhu
cầu trong nước. Sản lượng sản xuất ra không nhiều vì lúc đó máy móc,
thiết bị còn lạc hậu, toàn là những máy cũ nhập từ các nước xã hội chủ
nghĩa, hơn nữa trình độ quản lý cũng còn rất hạn chế. Ngay cả hàng sản

đặc biệt thiếu đối tác đầu mối tiêu thụ hàng hoá. Trong nhiều năm qua
ngành đã phải đưa ra nhiều chiến lược, biện pháp để duy trì sản xuất,
đảm bảo cung cấp sản phẩm cho thị trường nội địa đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng đồng thời tự lo vốn đổi mới thiết bị, tăng cường thiết bị chuyên
dùng, áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến, hoàn thiện dần hệ thống quản
lí tổ chức…
Giai đoạn 1990 - 1995 nhờ có chính sách phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
của ngành dệt may Việt Nam. Mặc dù phát triển chậm hơn so với các
nước láng giềng Châu Á, nhưng ngành đã tự đứng dậy vươn lên, phát

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 10 -

triển một cách đầy ấn tượng. Bước đầu năm 1993 kim ngạch xuất khẩu
đạt 350 triệu USD và đến cuối năm 1997 xuất khẩu đạt 1,35 tỷ USD.
Không dừng lại ở con số này, hàng dệt may xuất khẩu đã trở thành một
trong 10 mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam nằm trong chiến
lược phát triển CNH, HĐH của đất nước trong thời gian tới.
Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,75 tỷ USD, trong 8
tháng đầu năm 2003 này kim ngạch xuất khẩu đạt được xấp xỉ 2,597 tỷ
USD và dự kiến đến cuối năm 2003 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
sẽ đạt được 3,5 tỷ USD. Với tốc độ tăng mạnh của công nghiệp dệt may
nước ta hiện nay, các chuyên gia có thể khẳng định ngành dệt may có
thể đạt mục tiêu 4,5 - 5 tỷ USD xuất khẩu vào năm 2005 và đến năm
2010 là 8 tỷ USD. (Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số 143 - ngày 2
tháng 8 năm 2003).

phù hợp hơn, giá cả rẻ hơn. Những thành tựu mà ngành dệt may xuất
khẩu đã đạt được trong thời gian gần đây chủ yếu là nhờ vào nhiều yếu

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 12 -

tố thuận lợi sẵn có của Việt Nam.
Với số dân trên 80 triệu người, tỷ lệ nữ giới lại rất lớn, đó là
đội ngũ lao động rất phù hợp cho ngành dệt may, một ngành đòi hỏi sự
tỉ mỉ khéo léo, cần mẫn. Người dân Việt Nam đặc biệt là phụ nữ Việt
Nam nổi tiếng là những người siêng năng chuyên cần, thông minh,
nhanh nhẹn tháo vát, là điều kiện thuận lợi cho ngành dệt may Việt Nam.
Ở Việt Nam giá nhân công thấp ở mức dưới 2,5 USD/giờ (thuộc loại
thấp nhất trong khu vực). Chi phí đầu tư thấp nhờ có sẵn nhà xưởng cho
thuê với giá rẻ của các tổ chức Nhà nước và tiếp cận được nhiều chủng
loại thiết bị cơ bản không đắt tiền mới cũng như đã qua sử dụng của một
số nước thì chi phí sản xuất dệt may của Việt Nam là thấp 0,08 USD
(CFSX/phút) (CFSX: chi phí sản xuất) thấp hơn mức bình quân là 0,13
USD bằng chi phí sản xuất ở Banglades, thấp hơn so với Trung Quốc
(0,09 USD ).
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F

Việt Nam 0,08 ổn định
Trung Bình

0,13

Nguồn: Phân tích chi phí sản xuất SECO, 2001

Ngành dệt may là ngành không đòi hỏi phải có nhiều vốn đầu

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 14 -

tư lớn. Để có thể xây dựng chỗ làm việc cho ngành dệt may thì vốn bỏ
ra không nhiều và thu hồi vốn cũng khá nhanh. Đối với Việt Nam một
quốc gia còn nhiều khó khăn về vốn đầu tư thì đây là một ngành rất
thích hợp để phát triển kinh tế. Cũng chính vì thế mà các cơ sở sản xuất
dệt may xuất khẩu ngày càng tăng và phát triển mạnh.
Ngoài ra, các công ty trong khu vực đóng một vai trò quan
trọng trong việc cung cấp các mối liên kết marketing thiết yếu với thị
trường tiêu thụ và cung cấp gần như toàn bộ nguyên liệu cần thiết. Các
đối tác thương mại khu vực Châu Á và liên minh Châu Âu (EU) đã đem
đến cho Việt Nam những cơ hội rất lớn trong việc tiếp cận thị trường
nước ngoài, điều này ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, nói vậy không phải ngành dệt may của Việt Nam
hoàn toàn chỉ có thuận lợi trên con đường phát triển. Trong giai đoạn
hiện nay nền kinh tế các nước đang bị giảm sút, thị trường bị co hẹp lại,


Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 16 -

vị trí thứ nhất trong cả nước về kim ngạch xuất khẩu, vượt cả qua ngành
dầu khí. Mặt hàng dệt may đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế, góp phần
thúc đẩy nhanh tự do hoá thương mại. Mặc dù hiện nay ngành dệt may
Việt Nam còn nhiều điểm yếu kém, bất cập nhưng cũng có ý nghĩa to
lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua. Xuất
khẩu dệt may tăng lên tạo đà cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất
góp phần giải quyết công ăn việc làm cho đội ngũ lao động dư thừa
ngày càng tăng mạnh của Việt Nam. Hơn 10 năm qua ngành đã thu hút
hơn nửa triệu lao động trong cả nước. Mặt khác nhờ có sự tăng trưởng
mạnh của xuất khẩu nên đã đem lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước,
đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.

Vị trí của ngành dệt may xuất khẩu đối với nền kinh tế
quốc dân
Ch


s


Đơn v

Triệu
USD
5.449 11.540 14.308 15.810
7.XK dệt may
Triệu
USD
850 1.747 1.892 1.962
8.Tỷ lệ 7/6 % 15,6 15,1 13,2 12,4

Nguồn: Theo thống kê của Hiệp hội VITAS, năm 2001

Nếu như ngành dệt may vào năm 1995 chỉ chiếm 3,1% trong
toàn ngành công nghiệp nhẹ thì đến năm 2001 đã tăng lên 10,26%,
chiếm 21% trong GDP, góp phần làm tăng GDP của cả nước. Xuất khẩu
mặt hàng dệt may đóng một vai trò đáng kể vào sự tăng trưởng của kim
ngạch xuất khẩu hàng hoá nước ta trong thời gian qua. Năm 1995 xuất
khẩu dệt may chỉ đạt 850 triệu USD đến năm 2001 con số đã tăng lên là

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 18 -

1,962 tỷ USD và năm 2002 đạt kim ngach xuất khẩu là 2,752 tỷ USD,
vượt mức kế hoạch mà ngành đã đặt ra trong năm 2002. Qua đây ta thấy
xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam trong thời gian gần đây rất
có hiệu quả.

1995

1999

2000

2001

May
112074

170325

200648

214123

209645
D

t

131564

148055

142954

149370

- 20 -

tỷ USD tăng 4,5% so với năm 1999; và tăng 13,5% so với kim ngạch
nhập khẩu năm 1990. Qua bảng ta có thể thấy, lượng nhập khẩu về hàng
may mặc tăng lên rất lớn từ năm 1990 đến năm 2000, còn lượng nhập
khẩu về hàng dệt thì tăng không đáng kể. Tuy nhiên đến năm 2001 thì
lượng nhập khẩu hàng dệt may bị chững lại, tổng kim ngạch nhập khẩu
của thế giới chỉ đạt 348,235 tỷ USD giảm đi 4,2% so với năm 2000.
Hàng dệt giảm 10,788 tỷ USD tương đương 52,25%. Nguyên nhân là
do nhu cầu của thị trường thế giới giảm mạnh đối với hàng dệt, đồng
thời do nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn đặc biệt là 2 nền kinh tế
lớn nhất thế giới là Mỹ và Nhật đang rơi vào tình hình khủng hoảng,
nền kinh tế bị đình trệ. Tại Mỹ và Nhật Bản lượng hàng dệt may nhập
khẩu từ các nước trên thế giới giảm đáng kể. Trong đó tại thị trường Mỹ
lượng nhập khẩu hàng may mặc giảm 724 triệu USD, còn lượng hàng
dệt nhập khẩu vào thị trường này cũng giảm 484 triệu USD. Thị trường
Nhật nhập khẩu hàng dệt giảm đi 190 triệu USD, hàng may mặc giảm
516 triệu USD. Ngoài ra, thị trường EU là một trong những thị trường
lớn của thế giới về tiêu thụ hàng dệt may thì lượng nhập khẩu cũng bị
giảm xuống đáng kể, nhập khẩu hàng may mặc giảm 812 triệu USD,
hàng dệt giảm 3086 triệu USD.

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 21 - Tình hình nhập khẩu hàng dệt may của một số thị trường lớn trên

y
EU
50.3
70
56.8
44
57.2
27
74.1
83
51.0
37
82.2
04
48.7
06
80.0
84
45.6
20
79.2
63
Nhật
4.10
6
8.73
7
5.98
5
18.7

15.4
92
66.3
91
TQ,
HK
10.1
82
6.91
3
16.8
95
12.6
54
12.6
52
14.7
57
13.7
17
16.0
08
12.1
77
16.0
98

ơ
- 23 -

hàng dệt may vào thị trường này.
Việt Nam đang tập trung đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường
Mỹ, Nhật và EU. Tuy nhiên, để thực hiện thành công điều này thì Việt
Nam còn phải đối mặt với không ít khó khăn.

2. Đặc điểm một số thị trường nhập khẩu chính
a. Thị trường Mỹ

Thị trường Mỹ là một thị trường lớn và năng động nhất thế
giới. Nhu cầu tiêu dùng ở thị trường này là rất lớn. Với dân số hơn 280
triệu người, vào năm 2001 người dân ở Mỹ tiêu thụ tới 272 tỷ USD cho
quần áo, bình quân một người Mỹ mua khoảng 54 bộ quần áo. Đây là
thị trường lớn mà nhiều năm qua Trung Quốc đang là nhà xuất khẩu lớn.
Mặc dù hàng Việt Nam vẫn kém chất lượng so với hàng Trung Quốc
nhưng hiện nay ở thị trường Mỹ những nhà nhập khẩu lớn đang muốn
tìm nhà cung cấp khác thay thế nhà cung cấp Trung Quốc đặc biệt sau
năm 2005 khi mọi quy định về hạn ngạch bị dỡ bỏ. Đây là một thuận lợi
lớn đối với ngành dệt may Việt Nam. Bên phía đối tác Mỹ rất chú trọng
đến thời gian giao hàng và chất lượng sản phẩm.

Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F SVDTU.net
- 24 -

Người tiêu dùng Mỹ là những người đã quen dùng hàng hiệu
có tên tuổi (mặc dù sản phẩm đó đã được may mặc hay gia công tại Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status