Gãy đầu dưới xương cánh tay
Gãy đầu dưới xương cánh tay có nhiều dạng, hay gặp như sau:
1. Gãy lồi cầu ngoài:
Thường thấy ở trẻ em chưa đi học, khi ngã chống tay, lực đẩy theo xương
quay thúc lên lồi cầu làm lồi cầu ngoài rời ra. Đẩy co kéo làm lồi cầu xoay
180, diện gãy quay ra ngoài, đây là loại gãy phải mổ phổ biến nhất dù ở tuổi
mẫu giáo.
2. Gãy trên lồi cầu :
Đây là loại gãy phổ biến ở trẻ em, đường gãy ngoại khớp chỗ xương bị yếu,
toàn là gãy duỗi do ngã chống tay, thường điều trị không mổ.
3. Gãy liên lồi cầu chữ T, chữ Y:
Đây là gãy nội khớp di lệch nhiều ở người lớn, thân xương gãy có đầu nhọn
thúc xuống dưới, làm bửa rời 2 khối lồi cầu và ròng rọc ra xa nhau.
Gãy trên lồi cầu xương cánh tay.
I. Đại cương :
Dịch tễ: Là một dạng gãy đầu dưới xương cánh tay, phổ biến nhất ở trẻ
em, chủ yếu từ 5 – 15 tuổi, nam chiếm 70%.
Đa số gãy duỗi sau ngã chống tay. Bên gãy thường là bên trái.
Xương gãy trên khớp khuỷu~3cm, đường gãy ngoại khớp. Đầu dưới
luôn di lệch ra sau. Đầu trên chọc ra trước tại nếp khuỷu, có thể chọc
vào động mạch cánh tay và thần kinh giữa.
Xương gãy thường ít biến chứng (biến chứng do gãy xương) nhưng
đôi khi làm hỏng động mạch cánh tay và có thể gây hội chứng
Volkmann.
Thường điều trị bảo tồn, rất ít mổ và dễ liền, tiên lượng cơ năng tốt
song hay gây 2 di chứng (biến chứng của điều trị): trồi xương cản trở
gấp khuỷu và cẳng tay vẹo vào trong xấu.
II. Giải phẫu bệnh và phân loại:
1. Đường gãy và di lệch:
a) Nơi gãy
bệnh nhân ngã ra sau, chống lên khuỷu tay gấp nhọn.
b) Theo mức độ di lệch các đầu gãy, trên Xquang:
Gãy độ 1 : Chỉ gãy 1 lớp vỏ xương, không lệch: hiếm
Gãy độ 2 : Gãy cả 2 vỏ xương với đầu dưới bị đẩy ra sau: ít gặp
Gãy độ 3 : Đầu dưới lệch ra sau, lên trên, vào trong (gãy duỗi). Có thể
di lệch hoàn toàn nhưng vỏ xương còn tiếp xúc nhau: phổ biến.
Gãy độ 4 : Di lệch như độ 3 nhưng 2 đầu gãy rời xa nhau.
III. Chẩn đoán :
Sau ngã chống tay, bên trái hay bị hơn bên phải 2 – 4 lần.
Triệu chứng
Tay lành đỡ lấy tay đau, khuỷu gấp nhẹ chừng 30. Nếu nhẹ nhàng,
gấp hơn vẫn được.
Vùng trên khuỷu sớm bị sưng to, xuất hiện phỏng nước do ứ trệ gây
rối loạn dinh dưỡng, các ngón tay sưng, tím lạnh.
Sờ vùng khuỷu thấy phía trước có đầu xương nhọn thuộc đầu trên trồi
ra tại nếp khuỷu. Phía sau gân cơ tam đầu mềm bình thường, không
căng như ở trật khớp khuỷu. Các mỏm xương (mỏm khuỷu, mỏm trên
lồi cầu, và mỏm trên ròng rọc) vẫn cân đối tạo tam giác cân.
Cần khám mạch : có khi mạch bị chèn, bị rách với mạch ngoại vi yếu.
Đôi khi thấy khoang trước cẳng tay căng cứng.
Khám thần kinh : Dây thần kinh giữa và thần kinh quay
Xquang: Phim thẳng cần chú ý đầu dưới lệch vào trong và vẹo nghiêng
kết hợp với phim nghiêng để chia 4 độ.
IV. Điều trị:
1. Nắn bó bột:
a. Chỉ định:
Hầu hết chỉ cần nắn bó và thương ổ gãy liền hết. Dù sưng nề ít, cần
nắn cấp cứu, để lại muộn là không đúng.
Kĩ thuật:
Vô cảm : Trẻ nhỏ cho nhịn ăn uống 6h để gây mê. Trẻ lớn hơn có thể
a) Chỉ định:
Gãy di lệch ở diện khớp, nắn không đạt phải mổ.
Nên mổ sớm, cố định vững và tập sớm thì tốt, nếu lưỡng lự vì thử điều
trị nội, nắn không đạt, thời gian tốt nhất cho mổ sẽ mất đi, khó đặt lại,
thậm chí bị co rút phần mềm, viêm cơ cốt hoá. Trừ những trường hợp
không mổ sớm được : bị sây sát da nhiều, bị thương tổn phần mềm, bị
vết thương hở, bị thêm nhiều thương tổn khác, toàn trạng kém.
b) Có 2 cách mổ :
Nắn kín dưới màn huỳnh quang tăng sáng, ghim 2 đinh Kirschner qua
da, chéo và song song qua ổ gãy. Được Muller làm từ 1939.
Mổ cố định bên trong, trẻ bé cố định với các đinh chéo, đinh Kirchner
hay Steinann nhỏ, néo ép. Trẻ lớn, người lớn cố định với 2 nẹp vít 2
bên cột xương.
V. Di chứng :
1. Can lệch :
Lệch ngang ở trẻ em, khả năng tự thích nghi với di lệch ngang rất khá.
Dù di lệch nhiều song không vẹo nghiêng, khả năng tự sửa chữa rất
tốt.
Lệch nhiều, can còn non : nên mở phá can đặt lại, cố định với ghim
đinh Kirchner.
Lệch nhiều, can chắc : không nên phá can đặt lại
2. Chồi xương
Từ đầu trên làm làm cho không gấp được khuỷu hết tầm. Gãy sớm thì
phá can đặt lại. Gãy muộn thì chờ ổ gãy liền vững thì mổ sớm gặm bỏ
xương chồi để tăng gấp khuỷu.
3. Cẳng tay vẹo vào trong :
Di chứng này khá phổ biến (~ 30%). Bình thường theo sinh lý thì
cẳng tay và cánh tay là 0 hoặc cẳng tay vẹo ngoài trung bình 11 và
nhiều nhất 26. Sau gãy nếu cẳng tay vẹo trong thì xấu. So với tay lành
chênh 10 thì để mặc, nếu chênh 30 thì mổ đục xương sửa lại trục.