HỘI CHỨNG TĂNG ÁP LỰC TĨNH MẠCH CỬA
MỤC TIÊU :
1. Kể được các triệu chứng lâm sàng của hc taltmc.
2. Mô tả được triệu chứng tuần hoàn bàng hệ cửa chủ, phân biệt với tuần
hoàn bàng hệ chủ chủ, tĩnh mạch dưới da.
3. Nêu được các nguyên nhân gây tatmc.
ĐỊNH NGHĨA
Tăng áp cửa là một hội chứng thường gặp được đặc trưng bởi sự tăng áp tĩnh mạch
cửa (TALTMC) mãn tính. Áp lực TMC bình thường là 10-15 cm nước hay 7-10
mmHg. TALTMC khi áp lực TMC > 30cm nước hay 15 mmHg.
TALTMC dẫn đến sự tạo thành những tuần hoàn bàng hệ (THBH) để đưa
máu từ hệ cửa vào hệ chủ không qua gan. Tuần hoàn bàng hệ cửa chủ này
được tạo thành từ những kênh TM nối hệ TMC với TM chủ trên và dưới
(bình thường các kênh TM này được đóng, chỉ mở ra và kéo dài khi có
TALTMC ).
Các triệu chứng của HC TALTMC bao gồm giãn TM thực quản-phình vị ( gây ra
biến chứng quan trọng nhất là XHTH trên do vỡ dãn TM TQ), báng bụng, lách to
(có thể có cường lách), trĩ . Ngoài ra, còn có những biểu hiện khác như bệnh não
do gan, rối loạn chuyển hóa thuốc và các phức hợp nội sinh, nhiễm trùng máu.
NHẮC LẠI GIẢI PHẪU
TMC được hợp thành bởi :
(1) TM mạc treo tràng trên nhận máu từ tất cả các TM của ruột non, manh tràng,
đại tràng lên, đại tràng ngang.
(2) TM lách nhận máu từ những nhánh TM nhỏ nuôi thân và đuôi tụy
(3) TM mạc treo tràng dưới nhận máu từ trực tràng và đại tràng xuống.
TMC vào gan chia thành 2 nhánh phải và trái, rồi tiếp tục được chia nhỏ dần cho
đến tận xoang gan, rồi từ đó máu được đổ vào các TM trung tâm tiểu thùy, các TM
này tập hợp lại thành TM trên gan , cuối cùng đổ vào TM chủ dưới về tim. TMC
đem lượng máu vào gan nhiều nhất : 95%lượng máu các tạng trong ổ bụng đều
phải qua gan theo hệ cửa trứơc khi về tim.
HC Budd-Chiari (tắc TM trên gan)
Huyết khối TM chủ dưới
Viêm màng ngoài tim co thắt
Bệnh van 3 lá
Bệnh cơ tim BS nặng
Suy tim phải
Nguyên nhân khác
Dò động mạch –tĩnh mạch (trong lách, chủ-mạc treo, động mạch gan-tĩnh mạch
cửa).
LÂM SÀNG
Tuần hoàn bàng hệ ở bụng:THBH cửa cần phân biệt với TM bình thường và
THBH khác.
Những TM nhỏ đôi khi thấy được trên thành bụng ở người bình thường, hiếm khi
thấy ở người mập. Những TM ở bụng dưới thường chảy xuống háng để nối với hệ
TM chậu đùi, những TM ở bụng trên hướng chảy lên trên để đổ vào TM thành
ngực và TM nách. Những TM thành bụng thấy rõ khi căng da ra.
Trong TALTMC trong gan thường do xơ gan, những TM cạnh rốn (para-umbilical
veins) sẽ đem máu từ nhánh trái của TM cửa qua rốn đến những TM thành bụng
tỏa ra từ rốn. Những TM này nổi to, ngoằn ngoèo, chỉ thấy rõ nhất ở những nơi
cách xa rốn.
Khi áp lực quá tăng, TM vùng quanh rốn có thể nổi to tạo thành hình đầu
sứa(caput medusae), dấu hiệu này rất hiếm gặp.
Những TM cạnh rốn cũng có thể cung cấp những TM nho đi vào thành trực tràng
để đến bề mặt , rồi đưa máu chảy hướng lên trên. Những THBH này thường thấy
rõ ở gần đường giữa trên rốn.
Nếu những TM thành bụng được nhìn thấy rõ có nguồn gốc ở hệ TM
rốn,TALTMC là do những bất thường lan tỏa trong nhu mô gan, và sự tắc nghẽng
phải ở sau nhánh trái của TMC.
Trong trường hợp tắc TMC ngoài gan điển hình, không có THBH rốn trên thành
bụng.
X quang TQ :thấy nhiều hình khuyết tròn nối tiếp nhau thường 1/3 dưới TQ
Nội soi TQ DD :TM dãn rất dễ phát hiện.
I. Nôi soi hậu môn trực tràng : để phát hiện trĩ.
Siêu âm bụng: phát hiện những thương tổn gây tắc nghẽngTMC, đánh giá tình
trạng gan lách, bụng báng, đánh giá gián tiếp áp lực TMC thông qua đường kính
TMC.
Chụp cắt lớp vùng bụng
Chụp cản quang mạch máu
Chụp TM lách cửa, chụp đông mạch thân tạng mạch treo, chụp tm rốn cửa, chụp
TM cửa xuyên gan
Đo áp lực TMC
Đo trong lúc mổ, chọc trực tiếp vào lách, thông TM trên gan đo áp lực trên gan bít,
áp lực trên gan tự do, từ đó tính ra chênh áp TMC –TM trên gan( hiệu số giữa áp
lực TM trên gan bít với TM trên gan tự do . Chênh áp tăng(>5mmHg)trong
TALTMC sau xoang, bình thường khi trước xoang(trong gan hay trước gan), hay
không có TALTMC.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bệnh học nội khoa 1998
Clinical Hepatoplogy
Harrison s principles of Internal Medicine