Nghiên cứu ứng dụng một số phẫu thuật phân lưu cửa - chủ điều trị dự phòng chảy máu tái phát do tăng áp lực tĩnh mạch cửa - Pdf 12


Công trình đợc hoàn thành tại
:
trờng đại học y h nội
Ngời hớng dẫn khoa học : PGS. TS. h văn quyết
Phản biện 1 : GS. TS. Đỗ Đức Vân
Phản biện 2 : PGS. TS. Đặng Ngọc Hùng
Phản biện 3 : PGS. TS. Hong Công Đắc

Luận án đã đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc tổ
chức tại trờng Đại học Y Hà Nội.

Vào hồi: 14 giờ, ngày 16 tháng 10 năm 2007. Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Th viện Quốc gia
- Th viện Thông tin Y học Trung ơng
- Th viện Trờng Đại học Y Hà Nội.
- Th viện Bệnh viện Việt Đức Hà Nội.

Danh mục các công trình nghiên cứu
liên quan đến luận án đ công bố


Đặt vấn đề
Chảy máu do dãn vỡ tĩnh mạch thực quản(TMTQ) là một biến
chứng nặng của xơ gan áp lực tĩnh mạch cửa (TALTMC) :2 phần 3 số
bệnh nhân xơ gan có dãn TMTQ; 30% bệnh nhân xơ gan có biến
chứng chảy máu do dãn vỡ các búi TMTQ. Nguy cơ tử vong do lần
chảy máu đầu tiên là 30%, các lần chảy máu tái phát nguy cơ tử vong
tăng lên. Tỉ lệ chảy máu tái phát phát trong năm đầu tiên chiếm từ
45%-70% [20], [27], [45-47], [64], [108], [110], [111].
ở Việt Nam: tỷ lệ chảy máu do dãn vỡ TMTQ vào cấp cứu
ngày càng tăng [35], [36]. Vì vậy, nghiên cứu áp dụng các phơng
pháp điều trị dự phòng chảy máu tái phát do dãn vỡ TMTQ vẫn còn
là một vấn đề lớn. Trên thực tế, việc điều trị chảy máu do
TALTMC bao gồm các phơng pháp không phẫu thuật và phẫu
thuật. Các biện pháp không phẫu thuật có tác dụng cầm máu trong

dụng rộng rãi.
áp dụng trong hoàn cảnh thực tế nớc ta hiện nay, chúng tôi
tiến hành đề tài Nghiên cứu ứng dụng một số phẫu thuật phân
lu cửa-chủ điều trị dự phòng chảy máu tái phát do tăng áp lực
tĩnh mạch cửa. Nhằm các mục tiêu sau :
1. Đánh giá kết quả điều trị của phơng pháp phẫu thuật
bắc cầu cửa-chủ bằng đoạn mạch nhân tạo (PTFE) và
phẫu thuật cắt lách, nối tĩnh mạch lách-thận trong điều
trị dự phòng chảy máu tái phát do vỡ TMTQ ở bệnh nhân
xơ gan TALTMC tại bệnh viện Việt-Đức.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan tới kết quả điều trị của
các phơng pháp phẫu thuật đã đợc áp dụng.
Tính cấp thiết của đề tài
Chảy máu do dãn vỡ TMTQ là một biến chứng nặng nề của xơ
gan TALTMC bởi tỷ lệ tử vong cao và tỷ lệ chảy máu tái phát lớn.

3
Đã có nhiều biện pháp điều trị cầm máu đợc áp dụng trong cấp
cứu nh tiêm xơ hay thắt búi dãn TMTQ cứu sống đợc nhiều
bệnh nhân, nhng cha có biện pháp nào đợc áp dụng để điều trị
dự phòng chảy máu tái phát có hiệu quả, trong khi đó tỷ lệ chảy
máu tái phat do vỡ TMTQ trong năm đầu tiên là rất cao. chính vì
vậy nghiên cứu đề tài: Nghiên cu ứng dụng mt s phẫu thuật
phân lu ca-ch iu tr d phòng chảy máu tái phát do tng
áp lc tnh mch ca nhằm hai mục tiêu đã nêu ở trên là mang
tính thời sự và cấp thiết.
Những đóng góp mới của luận án
* Phẫu thuật bắc cầu cửa-chủ bằng đoạn mạch nhân tạo PTFE
để điều trị dự phòng chảy máu tái phát do TALTMC là vấn đề cha
có nghiên cứu nào ở Việt nam tiến hành. Do đó nghiên cứu này

1.2. Sinh lý bệnh của TALTMC
Bình thờng sự chênh áp giữa hệ cửa và hệ chủ <6mmHg.
Khi sự chênh áp này đạt 10-12mmHg thì xuất hiện các búi dãn
TMTQ. Điều đó là cần nhng cha đủ để làm dãn vỡ các tĩnh
mạch này gây chảy máu trên lâm sàng. Điều kiện để dãn vỡ
các búi dãn TMTQ chính là lực tác động lên thành các búi dãn,
lực này tỷ lệ thuận với áp lực trong lòng các búi dãn(phụ thuộc
áp lực tĩnh mạch cửa). Theo công thức của Erik Francois và
Michael Alder [53].

rR
PP
P
21


=

Trong đó: P: lực tác động lên thành búi dãn TMTQ; P
1
: áp lực
trong lòng búi dãn (phụ thuộc ALTMC); P
2
: áp lực lòng thực quản;
R: bán kính các búi dãn(phụ thuộc ALTMC); r: Chiều dày thành
búi dãn phụ thuộc vào tổ chức tại chỗ.

5
1.3. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nớc
1.3.1. Trên thế giới: Quá trình phát triển các phẫu thuật phân lu

kèm nối cửa-chủ [2].
- 1981: Đỗ Kim Sơn: Nối tĩnh mạch lách-thận trung tâm [29].
- 1984: Trần Hiếu Học: Phẫu thuật Warren [7].
- 1988-1992: Hà Văn Quyết, Hoàng Công Đắc, Mai Thị Hội,
Dơng Đức Hùng: tiêm xơ cấp cứu chảy máu do dãn vỡ TMTQ.
- 1994: Mai Thị Hội: Thắt búi dãn TMTQ bằng vòng cao su[8].
- 1997: Kim Văn Vụ: Bớc đầu nghiên cứu áp dụng phẫu thuật
bắc cầu tĩnh mạch cửa chủ bằng đoạn mạch nhân tạo [35], [36].

Chơng 2
Đối tợng v phơng pháp nghiên cứu

2.1. Đối tợng và phơng tiện nghiên cứu
- Tất cả những bệnh nhân chảy máu do dãn vỡ tĩnh mạch thực
quản do xơ gan tăng áp lực tĩnh mạch cửa đợc điều trị tại khoa
Phẫu thuật cấp cứu tiêu hoá bệnh viện Việt-Đức từ tháng1/1996
đến 12/2005.
- Dàn máy nội soi thực quản- dạ dày bằng ống mềm.
- Máy siêu âm Doppler màu với đầu dò 2,5 Mhz hình tim.
- Các dụng cụ cần thiết để khâu nối mạch máu và đoạn mạch
nhân tạo PTFE có đờng kính từ 8-10mm.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn:
Tất cả những bệnh nhân xơ gan-TALTMC đã có biến chứng
chảy máu do dãn vỡ TMTQ có chức năng gan Child A, Child B;

7
không có huyết khối TMC, tĩnh mạch lách trên siêu âm Doppler
màu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
Chúng tôi loại ra khỏi nghiên cứu những bệnh nhân sau:

2
: tỷ lệ % chảy máu tái phát sau mổ cắt lách và nối
tĩnh mạch lách thận trung tâm.
Theo các nghiên cứu trớc [10][126][129] ta có:
P
1
= 8% (0,08); P
2
=26% (0,26).
Thay vào công thức và thực hiện phép tính ta có: n= 33
Nh vậy số bệnh nhân cần thiết cho mỗi loại phẫu thuật trong
nghiên cứu là 33 bệnh nhân.

8
2.2.2. Tiến hành nghiên cứu:
Tất cả các bệnh nhân đều đợc khám lâm sàng, xét nghiệm
máu, nội soi thực quản-dạ dày ống mềm xác định chảy máu do
TALTMC sau đó đợc tiêm xơ hoặc thắt búi dãn TMTQ để cầm
máu tức thì. Những bệnh nhân này đợc tiếp tục điều trị nội khoa
ổn định, sau đó đợc siêu âm Doppler màu để đánh giá kích thớc
và dòng chảy của hệ thốngTMC. Chỉ những bệnh nhân chảy máu
do xơ gan TALTMC có chức năng gan ChildA, ChildB, trên siêu
âm màu không có huyết khối TMC đợc tiến hành mổ phân lu
cửa- chủ (hoặc cắt lách và nối tĩnh mạch Lách-Thận trung tâm
hoặc bắc cầu cửa-chủ) để điều trị dự phòng chảy máu tái phát. Đối
với những bệnh nhân còn lại chúng tôi chủ trơng điều trị nội
khoa.
2.2.2.1. Tiến hành phẫu thuật bắc cầu tĩnh mạch cửa-chủ bằng đoạn
mạch nhân tạo PTFE hoặc cắt lách, nối tĩnh mạch lách thận.
- Mổ bắc cầu cửa-chủ bằng đoạn đoạn mạch nhân tạo

mức không trong áp lực kế, sau đó mở khóa cho cột nớc tăng lên
dần, số ghi lại là số đo khi cột nớc không tăng lên nữa. Giá trị
trung bình của hai lần đo đợc tính là số đo của áp lực TMC. đợc
coi là TALTMC khi số đo này lớn hơn 16 cm H
2
O [10] .
+ Làm miệng nối phía tĩnh mạch cửa trớc. Miệng nối có
đờng kính 10mm, khâu bằng chỉ Prolen5/0 (hình 2.3).
+ Tiếp theo làm miệng nối phía tĩnh mạch chủ dới. Đờng
kính miệng nối tối thiểu là 10mm.
+ Thả Clamp kiểm tra lu thông miệng nối: nếu cầu nối phồng
tức là lu thông qua cầu nối tốt (hình 2.4).
- Mổ cắt lách nối tĩnh mạch lách thận.
+ T thế bệnh nhân và phẫu thuật viên: bệnh nhân nằm ngửa,
có độn ở dới ngang đốt sống L1-L2. Phẫu thuật viên đứng bên
phải, phụ mổ đứng bên trái bệnh nhân.

10
+ Vô cảm: gây mê nội khí quản.
+ Đờng mổ: Theo đờng trắng giữa trên rốn.
+ Đánh giá tình trạng lách (hình 2.6).
+ Kiểm soát động mạch và tĩnh mạch lách (hình 2.7 và hình 2.8).
+ Đo áp lực tĩnh mạch lách bng áp lc k ct nc (hình 2.2).
+ Thắt động mạch lách (hình 2.9).
+ Giải phóng dây chằng hoành-lách, đa lách ra ngoài ổ bụng
(hình 2.10).
+ Chuẩn bị tĩnh mạch lách dài tối đa để khi làm miệng nối đỡ
căng (hình 2.11).
+ Cắt lách (hình 2.12).
+ Bộc lộ tĩnh mạch thận trái đoạn chạy song song với tĩnh

- Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05.

Chơng 3
Kết quả nghiên cứu

3.1. Một số đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng
3.1.1. Tổng số bệnh nhân, tuổi, giới:
Tổng số bệnh nhân 67, 60 nam, 7nữ.
- Không có sự khác biệt về tỷ lệ giới giữa hai phẫu thuật
(bảng 3.3).
- Phần lớn số bệnh nhân nằm ở độ tuổi 30-60. không có sự
khác biệt về tuổi giữa hai nhóm phẫu thuật (bảng 3.4).
3.1.2. Tiền sử nguyên nhân gây bệnh:
Qua khai thác tiền sử bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu
chúng tôi thu đợc kết quả:
- 26 bệnh nhân có tiền sử viêm gan chiếm 38,8%
- 23 bệnh nhân có tiền sử nghiện rợu chiếm 34.8%
- 5 bệnh nhân có tiền sử sốt rét chiếm 7.5%
- 5 bệnh nhân có từ hai loại nguyên nhân chiếm 7.5%

12
- 8 bệnh nhân không rõ nguyên nhân chiếm 11.9%.
Trong số này có bệnh nhân vừa có tiền sử nghiện rợu,
vừa có tiền sử viêm gan hoặc vừa sốt rét, vừa nghiện rợu.
Không có sự khác biệt về tiền sử nguyên nhân gây bệnh giữa
hai nhóm phẫu thuật.
3.1.3. Tiền sử số lần XHTH
Theo kết quả bảng 3.8; 3.9; biểu đồ 3.6 cho thấy:
- Gần 90% bệnh nhân trong lô nghiên cứu đã chảy máu tái
phát nhiều lần.Tất cả các bệnh nhân này đã đợc điều trị tiêm

Theo kết quả bảng 3.25: có 1 trờng hợp chảy máu tiêu hoá
ngay ngày đầu sau mổ( nhóm cắt lách nối tĩnh mạch lách thận) và
1 trờng hợp có hội chứng não-gan ngay sau mổ ( nhóm bắc cầu).
Các biến chứng sớm sau mổ khác trong nhóm bắc cầu: 2 bệnh
nhân tràn dịch màng phổi sau mổ phải chọc hút. Dịch chọc hút cho
Rivalta âm tính.
Các biến chứng sớm sau mổ khác trong nhóm cắt lách, nối
tĩnh mạch lách-thận: 2 bệnh nhân bị nhiễm trùng vết mổ. Không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến chứng sớm sau mổ giữa
hai nhóm phẫu thuật.
3.2.3. Tử vong sớm sau mổ:
Nhóm bắc cầu: 1 trờng hợp tử vong sau mổ 30 ngày do
suy gan nặng. Trờng hợp này ngay sau mổ có biểu hiện hôn
mê gan.
Nhóm cắt lách, nối TM lách thận: 1 trờng hợp tử vong sau
mổ 36 giờ trong bệnh cảnh chảy máu tiêu hóa ồ ạt mà cha xác
định đợc nguyên nhân.
Không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong sớm sau mổ giữa hai
nhóm phẫu thuật.

14
3.2.4. Thời gian nằm viện sau mổ.
Thời gian nằm viện lâu nhất là 30 ngày (trờng hợp hôn mê
gan sau mổ). Các trờng hợp khác có thời gian nằm viện sau mổ
trung bình là 10,77 ngày với SD=4,59. không có sự khác biệt giữa
hai nhóm phẫu thuật. Trong đó:
-Thời gian nằm viện sau mổ nhóm bắc cầu là 12,42 4,81 ngày
-Thời gian nằm viện sau mổ nhóm cắt lách và nối TM lách thận
là 9,18 3,79 ngày
3.3. Theo dõi bệnh nhân sau mổ:

65
100,0%
P 0,187
3.3.2. Hội chứng no- gan sau mổ
Có 3 tròng hợp chiếm tỉ lệ 9% biểu hiện hội chứng não-gan
sau mổ trong nhóm bắc cầu; 1tròng hợp chiếm tỉ lệ 3% biểu hiện
hội chứng não-gan sau mổ trong nhóm cắt lách kết hợp nối tĩnh

15
mạch lách thận. Không có sự khác biệt về tỉ lệ hội chứng não-gấnu
mổ giữa hai nhóm phẫu thuật (bảng 3.30).
3.3.3. Tắc cầu nối hoặc miệng nối:
+ Thời gian theo dõi: trung bình là 18 tháng kiểm tra đợc 66
bệnh nhân.
+ Kết quả dựa trên siêu âm Doppler màu: có 5 trờng hợp
chiếm tỉ lệ 15% tắc cầu nối; 6 trờng hợp chiếm tỉ lệ 18% tắc
miệng nối. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ tắc
cầu nối, miệng nối giữa hai nhóm phẫu thuật (bảng 3.31).
3.3.4. Tử vong sau mổ:
+ Tử vong sớm sau mổ: 1 trờng hợp do chảy máu tái phát sớm
sau mổ (nhóm cắt lách, nối tĩnh mạch lách thận).
+ 1 trờng hợp tử vong ngày thứ 30 sau mổ do hôn mê gan
(nhóm bắc cầu).
+ Trờng hợp thứ 3 tử vong sau 12 tháng sau mổ (nhóm bắc
cầu) do chảy máu tái phát. Theo kết quả Bảng 3.33, tỉ lệ tử vong
chung sau mổ phân lu của cả hai nhóm phẫu thuật là 4,5%.
- Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tử
vong sau mổ giữa hai nhóm nghiên cứu.
3.4. Kết quả phân tích một số yếu tố liên quan
3.4.1. Tiền sử viêm gan với tỷ lệ chảy máu tái phát sau mổ:

Chơng 4
Bn luận
4.1. Bàn về chỉ định mổ
Theo L. F. Rikkers và G[108] chỉ định mổ tuyệt đối phân lu
hoặc làm Shunt cửa- chủ trong gan qua đờng tĩnh mạch cổ với các
bệnh nhân chảy máu do xơ gan - TALTMC trong các trờng hợp sau:
- Chảy máu do dãn vỡ tĩnh mạch thực quản dai dẳng mặc dù
đã đợc thắt hoặc tiêm xơ qua nội soi.

17
- Thất bại của phơng pháp tiêm xơ nhiều lần.
- Chảy máu từ các búi dãn tĩnh mạch dạ dày do tăng áp lực
tĩnh mạch cửa mà không đáp ứng với thuốc điều trị.
Chỉ định mổ tơng đối đợc áp dụng cho các trờng hợp điều
trị nội khoa thất bại.
Trên cơ sở tham khảo chỉ định của các tác giả trong và ngoài
nớc, gắn với tình hình bệnh nhân cụ thể, trong điều kiện hiện tại
cha có thể áp dụng phơng pháp làm shunt cửa- chủ trong gan
qua đờng tĩnh mạch cổ, chúng tôi chỉ định mổ cho các trờng hợp
có đầy đủ các tiêu chuẩn sau:
+ Xơ gan-TALTMC đã có biến chứng chảy máu do dãn vỡ
các tĩnh mạch thực quản ít nhất là 1 lần đã đợc tiêm xơ hoặc thắt
búi dãn TMTQ mà còn chảy máu tái phát.
+ Bệnh nhân vào cấp cứu vì chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch
thực quản mà không có điều kiện để tiêm xơ hoặc thắt búi dãn
TMTQ bằng thắt vòng cao su.
+ Đã đợc hoàn chỉnh về bilan chức năng gan ở mức độ Child
A, Child B; Xét nghiệm FP (-) để loại trừ ung th gan. Kết quả
siêu âm Doppler màu chẩn đoán xơ gan TALTMC, không có huyết
khối hệ tĩnh mạch cửa, không có dấu hiệu u gan trên SÂ.

cần thiết để có thể duy trì sự tới máu gan từ tĩnh mạch cửa, đồng
nghĩa với khả năng hội chứng não- gan sau phân lu sẽ tăng.
4.4. Những biến chứng sớm sau mổ
- Tử vong: trong mổ không có trờng hợp nào tử vong, chứng
tỏ công tác hồi sức và chuẩn bị bệnh nhân trớc mổ của chúng tôi
là đạt yêu cầu, nó càng có ý nghĩa hơn khi tất cả bệnh nhân của
chúng tôi đợc mổ sau thời gian vừa trải qua một đợt chảy máu
nặng. Có 1 trờng hợp tử vong sau mổ do chảy máu tiêu hóa nặng
ngày thứ hai sau mổ cha xác định rõ nguyên nhân. So sánh với
một số tác giả khác (bảng 4.1) : Vơng Hùng[10] trong 40 bệnh
nhân nối cửa - chủ bên bên có 3 bệnh nhân tử vong trong vòng
tháng đầu tiên sau mổ (7,5%) và trong số 53 bệnh nhân nối tĩnh
mạch lách thận có 4 bệnh nhân tử vong sớm sau mổ (7,56%). Đỗ
Kim Sơn [29] trong số 20 trờng hợp mổ cấp cứu có 3 trờng hợp
tử vong (15%).
Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tử vong sớm sau mổ trong nghiên
cứu này có giảm hơn so với các nghiên cứu trớc do:

19
+ Điều kiện gây mê hồi sức có nhiều tiến bộ.
+ Chúng tôi không mổ cấp cứu.
- Chảy máu sau mổ và chảy máu tái phát sớm: 1 bệnh nhân
trong nhóm cắt lách và nối tĩnh mạch lách thận (bảng 3.25). Đây là
trờng hợp chảy máu tiêu hoá nặng giờ thứ 36 sau mổ, rất tiếc là
không soi thực quản-dạ dày cấp cứu để chẩn đoán nguyên nhân
đợc do gia đình bệnh nhân không đồng ý. Sau đó bệnh nhân tử
vong.
- Hội chứng não-cửa chủ sớm sau mổ: 1bệnh nhân(bảng 3.25)
trong nhóm bắc cầu, đây là trờng hợp tử vong sau mổ 1 tháng.
- Các biến chứng sớm sau mổ khác có 2 trờng hợp tràn dịch

So với các tác giả nớc ngoài thì tỉ lệ chảy máu tái phát của
chúng tôi cao hơn so với nghiên cứa của John Craig Collins, so với
Darling kết quả của chúng tôi không có sự khác biệt. Có lẽ bệnh lý
xơ gan của chúng tôi chủ yếu do viêm gan siêu vi trùng có HBsAg+
trong khi xơ gan TALTMC của các tác giả nớc ngoài là do rợu.
Đối với cắt lách và nối tĩnh mạch lách thận qua các bảng
3.26; 3.27; 3.28; 3.29 cho thấy không có chảy máu tái phát trong
năm đầu tiên. Từ sau 18 tháng có 4 trờng hợp chảy máu tái phát,
chiếm tỷ lệ 12% (bảng 3.29).
4.5.2. Hội chứng no-gan sau phân lu:
Trong 33 trờng hợp bắc cầu cửa chủ của chúng tôi có 3
trờng hợp biểu hiện não - cửa chủ (~9,1%) trong đó 1 trờng hợp
tử vong sau mổ 1 tháng; 2 trờng hợp khác nhẹ hơn, 1 trờng hợp
trong số đó vẫn tham gia công việc cũ, trờng hợp còn lại phải nghỉ
việc.
Trong nhóm cắt lách và nối tĩnh mạch lách thận chỉ có1 trờng
hợp biểu hiện não-gan trong năm đầu tiên sau mổ (bảng 3.30)
chiếm tỷ lệ 3,0%.
So sánh tỉ lệ não gan sau mổ giữa hai nhóm phẫu thuật chúng
tôi thấy sự khác biệt này không rõ ràng (P= 0,331). So sánh tỷ lệ
hội chứng não-gan sau phân lu với một số tác giả khác (bảng 4.3).

21
Theo Vơng Hùng: trong 26 trờng hợp nối cửa chủ bên bên có
4 trờng hợp biểu hiện não - cửa chủ chiếm 15,38%. Trong số 30
trờng hợp nối lách thận trung tâm đợc kiểm tra có 4 trờng hợp
biểu hiện não - cửa chủ chiếm 13,33%.
- Theo Đỗ Kim Sơn tỉ lệ não cửa chủ sau mổ nối tĩnh mạch
lách - thận trung tâm trong nghiên cứu của các tác giả là 12%.
- Theo Phạm Duy Hiển [6] có 5 trờng hợp biểu hiện não cửa

chảy máu tái phát. Nh vậy tỉ lệ tắc cầu nối, miệng nối chung là
16.5%, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm
nghiên cứu (P=0,522) (bảng 3.31).
Tỷ lệ tắc miệng nối của các tác giả khác: Đỗ Kim Sơn: Có 8
trờng hợp đợc chụp kiểm tra miệng nối sau mổ nối tĩnh mạch
lách thận trung tâm [29] thì 2 trờng hợp chắc chắn tắc và 2 trờng
hợp khác nghi ngờ tắc; Vơng Hùng: tắc miệng nối là 36,8% đối
với nối tĩnh mạch lách thận trung tâm và 10% đối với nối cửa-chủ
bên bên trong số những bệnh nhân đợc chụp kiểm tra [10]. Các
tác giả khác có tỷ lệ tắc cầu nối là: 6,7% (John Craig Collins) [80];
8% (Rosemurgy)[126]; Darling sử dụng ống có đờng kính 8- 10 -
12mm cũng có khoảng 8% tắc cầu nối do huyết khối cấp và 12%
tắc cầu nối muộn theo dõi đợc trên 1 năm và tất cả đều có chảy
máu tái phát [84].
Nh vậy:tỉ lệ tắc miệng nối của chúng tôi thấp hơn các tác giả
trong nớc. Theo chúng tôi: có lẽ do điều kiện khâu nối hiện nay
tốt hơn; tỉ lệ tắc cầu nối sau mổ của chúng tôi không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê so với các tác giả nớc ngoài.
4.6. Phân tích một số yếu tố liên quan tới kết quả phẫu
thuật.
Qua kết quả nghiên cứu sự liên quan một số yếu tố với kết quả
sau mổ (từ bảng 3.34 đến bảng 3.44 ) chúng tôi nhận thấy:
- Không có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử viêm

23
gan, nghiện rợu, hay sốt rét với các biến chứng sớm sau mổ (bảng
3.34).
- Không có mối liên quan giữa tiền sử viêm gan với chảy máu
tái phát sau mổ (bảng 3.35).
- Không có mối liên quan giữa tiền sử viêm gan với hội chứng

phát do dãn vỡ TMTQ ở bệnh nhân xơ gan TALTMC với tỉ lệ
là 87,7%.
Trong đó:
- Tỉ lệ điều trị dự phòng chảy máu tái phát của phẫu thuật
bắc cầu tĩnh mạch cửa-chủ là 87,5%; Tỉ lệ điều trị dự phòng
chảy máu tái phát của phẫu thuật cắt lách, nối tĩnh mạch lách
thận là 88%.
- Sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê với
P>0,05.
Tỉ lệ hội chứng não-gan sau phân lu của nhóm bắc cầu
cửa-chủ là 9.1%, của nhóm cắt lách, nối tĩnh mạch lách thận là
3%. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với P=0,331
Tỉ lệ tử vong chung sau mổ là 4,5%. Trong đó: tỉ lệ tử
vong sau mổ của nhóm bắc cầu cửa-chủ là 6%, và của nhóm
cắt lách+ nối tĩnh mạch lách-thận là 3%. Không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê về sự khác biệt này với P>0,05.
2. Tắc cầu nối, miệng nối là nguyên nhân chính dẫn đến
chảy máu tái phát. Nguy cơ chảy máu tái phát ở bệnh
nhân tắc cầu nối tăng 32 lần so với bệnh nhân không tắc
cầu nối, miệng nối.
Không có sự liên quan giữa tiền sử viêm gan, nghiện
rợu, sốt rét với tỷ lệ chảy máu tái phát, hội chứng não-gan và
tắc cầu nối, miệng nối sau mổ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status