Điều trị sẹo lồi bằng nội và ngoại khoa - Pdf 19

Điều trị sẹo lồi bằng nội và ngoại khoa
BS. Trần Thị Thanh Mai
BV. Da Liễu
TÓM TẮT:
Sẹo lồi là sự tăng sinh collagen da lành tính, nhưng đôi khi đau và/hoặc ngứa,
thường là do sự đáp ứng quá thừa của mô với chấn thương. Mặc dù lành tính,
nhưng gây ảnh hưởng về mặt xã hội và tâm lý lên bệnh nhân nên phải được xem
xét. Sẹo lồi thường thứ phát từ xỏ tai và các qui trình phẫu thuật khác, Không có
liệu pháp duy nhất nào luôn luôn thành công. Những liệu pháp thông dụng sẽ được
bàn đến ở bài này. Một vài trong số những liệu pháp nội khoa bao gồm
corticosteroids, interferon, 5-fluorouracil, và imiquimod. Trước tiên là cắt bỏ và
phẫu thuật lạnh là những biện pháp ngoại khoa chủ yếu. Xạ trị và các biện pháp
vật lý khác cũng được bàn.
CÁC TỪ KHÓA: corticosteroids, excision, 5-fluorouracil, imiquimod, interferon,
keloids.
Sẹo lồi là sự tăng sinh collagen da lành tính thường là do sự đáp ứng quá thừa của
mô với tổn thương da. Tuy nhiên, cũng gặp sẹo lồi tiên phát không có tiền sử chấn
thương tại điểm đó. Sẹo lồi thường ngứa và/hoặc đau, mặc dù lành tính, nhưng
chúng xâm lấn vào vùng da kề cận bình thường về lâm sàng.
Do xỏ tai, những người nữ trẻ thường có tần suất sẹo lồi cao hơn nam giới. Những
người trên 65 tuổi hiếm khi bị sẹo lồi, tuy nhiên, vì những thủ thuật ở giữa ngực và
shunt động mạch vành ngày càng nhiều, nên tần suất sẹo lồi vùng ức tăng ở những
người cao tuổi.
Điều trị sẹo lồi có nhiều mức độ thành công khác nhau. Không có một cách duy
nhất nào luôn luôn thành công. Nhiều báo cáo điều trị thành công trong y văn là
không đúng sự thật, điều này được chứng minh qua những nghiên cứu lâm sàng
ngẫu nhiên. Có những mô hình động vật cũng được sử dụng cho nghiên cứu lâm
sàng. Nhiều cách điều trị nội khoa, ngoại khoa, xạ trị và vật lý thường dùng phổ
biến trong điều trị sẹo lồi sẽ được bàn trong bài này.
Dự phòng là nguyên tắc đầu tiên trong điều trị sẹo lồi.
- Không nên tiến hành những thủ thuật thẩm mỹ không cần thiết ở những người

Việc phối hợp điều trị bằng áp lực hoặc tạo lớp silicone gel với tiêm tramcinolon
vào trong sẹo đem lại hiệu quả hơn việc dùng riêng từng liệu pháp.
Điều trị bằng Interferon
Interferon-alpha và gamma ức chế tổng hợp collagen loại I và III bằng cách khử
acid ribonucleic thông tin nội bào. Benman và Flores đã báo cáo tỷ lệ tái phát
18,7% khi tiêm interferon alpha-2b sau khi cắt sẹo lồi so với tỷ lệ tái phát 51% khi
chỉ cắt sẹo lồi mà không tiêm interferon và tỷ lệ tái phát 58% khi điều trị sẹo lồi
phối hợp với tiêm triamcinolon vào sẹo sau phẫu thuật.Liềư lượng tiêm là 1 triệu
đơn vị vào mỗi centimét chiều dài da xung quanh chỗ hậu phẫu, ngay sau khi phẫu
thuật và tiêm nhắc lại 1 đến 2 tuần sau đó. Đối với vết cắt rộng, bệnh nhân phải
được tiền mê bằng acetaminophen để điều trị những triệu chứng giống bệnh cúm
do interferon gây ra. Đối với những bệnh nhân phải cắt bỏ nhiều sẹo lồi hoặc
những sẹo lồi lớn , việc điều trị bằng trị interferon sẽ rất tốn kém.
Điều trị bằng 5-flurouracil
Liệu pháp tiêm chất 5-flurouracil (5-FU) vào sẹo đã được dùng một cách thành
công trong điều trị những sẹo lồi cô lập nhỏ. Nếu tiêm hỗn hợp 0,1 ml
triamcinolone acetonide 10 mg/ml và 0,9 ml 5-FU (50 mg/ml) kết quả sẽ tốt hơn.
Ban đầu tiêm hỗn hợp này 3 lần một tuần, sau đó điều chỉnh tần suất tiêm theo đáp
ứng lâm sàng của người bệnh . Một vết sẹo có kích thước trung bình cần 5-10 lần
tiêm, thường là tiêm mỗi tuần. Một hạn chế lớn của 5-FU là gây đau khi tiêm
khiến bệnh nhân không tuân thủ điều trị.
Điều trị Imiquimod:
Imiquimod 5% dạng kem gây sản xuất tại chỗ interferon tại nơi bôi thuốc. Dựa
trên thông tin này, Berman và Kaufiman đã bôi kem imiquimod hậu phẫu cho 12
bệnh nhân vừa cắt bỏ sẹo lồi. Nên bắt đầu bôi Imiquimod ngay sau khi cắt bỏ sẹo
và bôi hằng ngày liên tục trong 8 tuần. Những bệnh nhân của Berman được đánh
giá 24 tuần sau khi cắt sẹo lồi và không có trường hợp nào tái phát sẹo lồi. Hầu hết
các bệnh nhân đều bị kích ứng từ nhẹ đến nặng do bôi Imiquimod hằng ngày .
Những trường hợp bị kích ứng nặng được ngưng thuốc từ vài ngày cho đến 1 tuần
rồi mới bôi lại. Những bệnh nhân có cá vết mổ rộng, có những vết thương có cấy

-Tretinoin bôi hai lần một ngày làm giảm ngứa và những triệu chứng khác của sẹo
lồi, có thể làm thoái triển sẹo lồi một phần nào.
Một số thuốc khác đã được thử nhưng thành công còn hạn chế hoặc tỷ lệ nguy
cơ/lợi ích còn đáng ngờ là verapamil, cyclosporine, methatrexate, D-penicillamine,
và Relaxin tiêm vào sẹo lồi.
ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA
Trước khi cắt bỏ sẹo lồi, bác sĩ phải lưu ý đến những nguy cơ chính đi kèm với sự
tái phát sẹo lồi:
1. Tiền sử gia đình về sẹo lồi (nhất là những người Mỹ gốc Phi);
2. Chỗ phẫu thuật bị nhiễm trùng;
3. Nơi phẫu thuật (nhất là giữa ngực và vai);
4. Loại chấn thương gây ra sẹo (bỏng do nhiệt hoặc hóa chất);
5. Căng da trong thời kỳ hậu phẫu .
6. Da sậm màu nhóm 4-6 theo phân loại Fizpatrick.
Ngoài ra, tỷ lệ tái phát cho thủ thuật cắt bỏ sẹo lồi đơn giản không kèm những biện
pháp phụ trợ hậu phẫu dao động từ 50 – 80%.
Phẫu thuật:
Một trong những qui trình dễ nhất và thường được áp dụng nhất để khử bỏ sẹo lồi
là cắt bỏ rồi tiêm IL corticosteroid. Trước khi cắt, gây tê chỗ cắt bằng hỗn hợp tỉ lệ
5:5 lidocain chứa 2% epinephrin và triamcinolon acetonid 40 mg/ml. Đối với
những sẹo lồi có đáy nông (1 cm hay nhỏ hơn), người ta khuyến cáo cắt đơn giản
rồi mài mòn đáy và khâu lại Đối với sẹo lồi có đáy rộng, cần phải ghép da ở chỗ
cắt để khỏi bị căng da. Hầu hết những sẹo lồi đã cắt cần phải điều trị phụ trợ thêm
như : corticosteroid tiêm trong vết thương, băng ép, thuốc silicone gel, kem
imiquimod hoặc tiêm interferon. Vết khâu phải để yên trong 10-14 ngày vì hỗn
hợp lidocaine/steroid để gây tê làm chậm lành vết thương.
Điều trị phức tạp hơn nhiều đối với những sẹo lồi ở dái tai không có cuống và
những sẹo lồi có đáy rộng trên những phần khác của cơ thể. Trước hết phải tạo ra
một vết cắt hình bán nguyệt hoặc giống cái lưỡi ở phần dẹp nhất và bằng phẳng
nhất của sẹo, vết cắt đủ rộng để thấy đáy của sẹo. Vết cắt hình lưỡi này được khâu

phòng tái phát sẹo lồi sau khi cắt bỏ. Khi được dùng như đơn liệu pháp, tia phóng
xạ thường không hiệu quả lắm (tỉ lệ tái phát 5-100%) trừ khi được dùng với liều
cao, tuy nhiên, điều này có thể gây nên hiện tượng carcinom tế bào gai của da tại
điểm điều trị 15-30 năm sau trị liệu. Một trường hợp carcinom phần tủy tuyến giáp
đã được mô tả ở một bé trai 11 tuổi tám năm sau khi cắt sẹo lồi ở cầm và chiếu xạ
phẫu thuật.Việc điều trị xạ trị như một đơn liệu pháp cũng đạt được hiệu quả trong
việc làm giảm ngứa, giảm giảm đau và cảm giác căng của sẹo lồi.
Chiếu xạ sẽ hiệu quả hơn nếu được áp dụng sau hai tuần đầu sau khi cắt bỏ sẹo(là
thời gian mà các nguyên bào sợi đang phát triển). Liều chiếu xạ thường dùng là
300 rads (5Gy) bốn lần/ngày x bốn đến năm ngày hoặc 500 rads (5Gy) x bốn
lần/ngày x ba ngày bắt đầu từ ngày phẫu thuật. Không nên điều trị cho trẻ em bằng
chiếu xạ, hoặc nếu đó là lựa chọn điều trị duy nhất khả thi, thì phải che chắn các
hành xương để tránh làm chậm sự phát triển xương.
Kết hợp chiếu xạ trước và sau mổ cũng không hiệu quả gì hơn chiếu xạ sau mổ
.Phương pháp chiếu xạ khe hở bằng Irridium 192 sau khi cắt bỏ sẹo có tỷ lệ tái
phát 21% ở 783 bệnh nhân sẹo lồi.
Do sự phân phối lượng phóng xạ trong xạ trị từng đợt ngắn đến đúng mục tiêu
điều trị hơn phát xạ tia từ bên ngoài nên phương pháp xạ trị từng đợt ngắn liều cao
được dùng để điều trị sẹo lồi sau khi cắt sẹo. Xạ trị từng đợt ngắn liều cao được
dùng với liều 1200 Gy, chiếu làm bốn đợt trong 24 giờ đầu tiên sau phẫu thuật,tỉ lệ
tái phát là 4,7%.(ứng với tám bệnh nhân , trong đó có 5/147 bệnh nhân (3,4%)
được cắt bỏ sẹo lồi rồi dùng điều trị từng đợt ngắn liều cao và 3/22 bệnh nhân
được điều trị bằng điều trị từng đợt ngắn liều cao đơn thuần). 88-94% bệnh nhân
được điều trị bằng phẫu thuật phối hợp với điều trị từng đợt ngắn liều cao đạt kết
quả thẩm mỹ tốt hoặc rất tốt . Tất cả các bệnh nhân đều có đáp ứng với điều trị
từng đợt ngắn liều cao : giảm ngứa,bớt đỏ da, hoặc giảm cảm giác bỏng. Như
vậy,xạ trị từng đợt ngắn liều cao kết hợp với cắt bỏ sẹo dường như đem lại sự an
toàn và hiệu quả trong điều trị sẹo lồi và dự phòng tái phát.
NHỮNG LIỆU PHÁP VẬT LÝ
Băng ép

Ngay cả khi được kết hợp với IL corticosteroidssau mổ , phương pháp này vẫn còn
có tỉ lệ tái phát khá cao. Công dụng chủ yếu của laser carbon dioxide là làm dẹp
sẹo lồi lớn để chúng có thể được điều trị bằng những biện pháp khác.
Laser neodymium; yttrium-aluminum-arnet (Nd: YAG) 1064-nm dường như có
ảnh hưởng đến chuyển hóa collagen. Laser này ức chế một cách chọn lọc không
ảnh hưởng đến các nguyên bào sợi hoặc sự sao chép DNA. Một khảo sát trong 3
năm ở hai trong số nhiều bệnh nhân cho thấy laser này làm mềm sẹo, giảm kích
thước, làm màu da bình thường. Nhưng do kích thước mẫu chọn để khảo sát qúa
nhỏ, nên những kết quả trên không thể được loại suy cho một số lượng bệnh nhân
lớn hơn. Một nghiên cứu khác cho thấy có hiện tượng cải thiện sẹo lồi ở 16/17
bệnh nhân được điều trị bằng laser NdLYAG nhưng không thấy bàn đến việc theo
dõi bệnh nhân.
Laser sung màu bước sóng 585-nm đã được dùng một cách thành công để điều trị
sẹo do cắt xương ức (25). Khảo sát cho thấy chiều cao của sẹo có giảm đáng kể,
triệu chứng ngứa và ban đỏ cũng giảm rõ rệt ở hầu hết bệnh nhân và những kết
quả trên kéo dài trong ít nhất sáu tháng. Phối hợp tiêm triamcinolon trong tổn
thương với laser sung màu làm tăng hiệu quả điều trị sẹo lồi.
Thuốc dán gel Silicon
Thuốc dán gel Silicon là một miếng thuốc dán mềm, dạng gel dùng để điều trị sẹo
lồi. Cơ chế tác động của thuốc hình như là một sự kết hợp hydrat hóa với việc làm
thuyên tắc mạch. Ngoài ra TGF beta-2 có thể giảm số lượng khi tiếp xúc với
silicon.Các lọai băng không chứa gel silicone cũng cho kết qủa tương tự. Sẹo lồi
càng mới, bệnh nhân càng trẻ, sự đáp ứng càng tốt. Trẻ em thích phương pháp này
vì miếng dán dạng gel không gây đau. Cần phải điều trị trong 6-12 tháng để đạt
kết quả tốt nhất, nhưng sau vài tháng điều trị hầu hết các bệnh nhân đều không
tuân thủ vì thời gian kéo dài, vì sự bất tiện của việc cắt và đặt miếng gel silicon lên
sẹo. Để dự phòng sự chảy nhão và nhiễm trùng thứ phát chỗ da được dán, chỉ nên
đắp 22-23 giờ một ngày, rồi tháo ra ,chùi sạch vết sẹo mỗi ngày và đảm bảo thông
khí tốt.
Hầu hết các thuốc dán này đều kéo dài 2-3 tuần rồi bắt đầu thoái hóa. Bản thân gel


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status