GIÁO TRÌNH CÔNG NGHỆ KIM LOẠI - PHẦN II GIA CÔNG KIM LOẠI BẰNG ÁP LỰC - CHƯƠNG 4 - Pdf 19


138
Chương 4
RÈN TỰ DO VÀ RÈN KHUÔN (Rèn- Dập)
4.1 Khái niệm, phân loại các thiết bò rèn dập
:
4.1.1 Khái niệm và đặc điểm:
- Nguyên lý cơ bản của Rèn dập là: Lợi dụng tính dẻo của kim loại, làm biến dạng
kim loại ở thể rắn dưới tác dụng của ngoại lực để tạo ra thành phẩm và bán thành phẩm
có hình dáng kích thước nhất đònh.
- Mục đích: Ngoài mục đích tạo hình và kích thước mong muốn, rèn dập còn có tác
dụng cải thiện tổ chức của kim loại trên toàn bộ sản phẩm, loại trừ các khuyết tật do đúc
như rỗ khí, rỗ co làm cho tổ chức kim loại mòn chặt, nâng cao cơ tính kim loại.
- Đặc điểm: Rèn dập thường được ứng dụng để tạo phôi cho gia công cơ khí, có tác
dụng nâng cao cơ tính kim loại, giảm lượng dư cắt gọt, tăng độ chính xác và năng suất cắt
gọt, do đó giảm giá thành gia công.
Rèn dập có thể gia công các kim loại khác nhau như thép cacbon, thép hợp kim,
hợp kim đồng, hợp kim nhôm, hợp kim magiê, hợp kim titan v.v…
Phôi của rèn dập có thể là phôi đúc, thanh cán, kim loại tấm v.v
4.1.2 Thiết bò và dụng cụ rèn dập:
Trong một xưởng rèn dập, cần phải trang bò các thiết bò và dụng cụ cơ bản sau:
a. Các loại máy tạo lực. Đó là các máy búa, máy dập, máy ép…được đặc trưng bởi
khối lượng phần rơi và lực ép.
b. Các dụng cụ tạo hình như : Búa, đe, bàn là, bàn tóp, khuôn, mũi đột v.v…
c. Các dụng cụ kẹp chặt như : kìm, êtô v.v…
d. Các dụng cụ đo lường như : thước, compa, dưỡng …
e. Các thiết bò nung nóng: các loại lò.
Các loại máy rèn dập:
Phân thành 4 nhóm theo đặc điểm công tác như sau:
- Nhóm 1: Gồm những máy sinh ra lực tác dụng va đập gọi là nhóm máy búa như
máy búa hơi, máy búa lò xo, máy búa hơi nước và máy búa ván gỗ v.v…


- Nhóm 3: Gồm những máy tạo lực động như máy dập trục khuỷu, máy rèn ngang.
Máy này có đặc điểm vận tốc đầu nén tại thời điểm chạm vật đạt đến giá trò cực đại rồi
sau đó giảm dần đến không, biến thiên như đồ thò hình 2-25c. Nhóm máy này có vận tốc
cực đại đạt được V
max
= 5 m/s, còn T
ct
> 0,01s.
-Nhóm 4: Máy thuộc nhóm này có bộ phận công tác quay tròn theo một tốc độ xác
đònh, đường biểu diễn mối quan hệ giữa vận tốc và thời gian công tác của chúng có nhiều
dạng phức tạp, tùy thuộc kết cấu của từng loại máy. Máy thuộc nhóm này gồm: trục rèn,
máy rèn liên tục v.v…
1. Máy búa hơi:
Là máy búa không khí chạy bằng động cơ,
được dùng phổ biến trong các xưởng rèn hiện nay để
rèn tự do các chi tiết nhỏ và trung bình. Ký hiệu là
BH kèm theo chữ số chỉ khối lượng phần rơi (ví dụ:
BH500 là máy búa hơi có khối lượng phần rơi là
500 kg).
Hình 2-27 giới thiệu sơ đồ nguyên lý làm
việc máy búa hơi: truyền động từ động cơ 1, thông
qua bộ truyền đai 2,3,4 làm trục khuỷu 5 quay. Tay
biên (thanh truyền) 6 biến chuyển động quay tròn
của trục khuỷu 5 thành chuyển động tònh tiến của pittông ép 8. Pittông ép 8 khi đi lên
hoặc xuống tạo ra khí ép có áp suất cao ở buồng trên hoặc buồng dưới của xilanh ép 7.
Nhờ hệ thống van điều khiển 9 mà khí ép từ xilanh 7 được truyền qua xi lanh đầu búa 10
để nâng đầu búa 11 đi lên hoặc đẩy đầu búa đi xuống đập. Trên pittông đầu búa 11 có
gắn đe trên 13. Đe dưới được gắn vào bệ đe 16. Hệ thống cần điều khiển 17 dùng để điều
khiển đóng mở hệ thống van 9.


c)
Hình 2
-
25
Quan hệ giữa V và t
a) Nhóm máy búa. b) Nhóm máy ép. c) Nhóm máy dập.
Hình 2-26 Máy búa hơi.
Truong DH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh

140
Theo phương pháp tác dụng của hơi ép, búa hơi có 2 loại: Máy búa tác dụng đơn
và máy búa tác dụng kép. Máy búa tác dụng đơn là loại máy búa mà xylanh công tác chỉ
có một đường dẫn khí áp lực cao vào buồng dưới của xy lanh để nâng đầu búa lên, còn
hành trình đi xuống của đầu búa là do sự rơi tự do của khối lượng phần rơi.
Máy búa tác dụng đơn có tốc độ chậm, năng lượng đập không cao, điều chỉnh năng
lượng đập khó khăn, nên hiện nay ít được dùng.
Máy búa tác dụng kép là loại máy búa mà hành trình đi xuống của đầu búa không
những chỉ do sự rơi tự do của khối lượng phần rơi mà còn do áp suất khí nén của buồng
trên xylanh tác dụng. Vì thế máy búa tác dụng kép có tốc độ đập nhanh, năng lượng đập
lớn, điều chỉnh năng lượng dễ dàng, nên hiện nay được dùng phổ biến.
Máy búa hơi làm việc theo bốn hành trình: Không tải, treo, đập và ép (hình 2-28):
- Hành trình không tải: Đóng cầu dao điện cho động cơ làm việc, mở cần gạt ở vò
trí không tải. Khi ấy van trên 9a và van dưới 9b ở vò trí như hình vẽ 2-28a. Van 9a và 9b
có nòng van và ống van trên đó có gia công các rãnh, lỗ để dẫn khí. Khi van ở vò trí không
tải, pittông ép 8 đi lên, khí ép từ buồng trên xi lanh ép 7 truyền qua van trên 9a vào hộp
gió rồi thoát qua van một chiều đặt trên đỉnh máy và thoát ra ngoài. Khi pittông ép 8 đi
xuống, khí ép từ buồng dưới xi lanh 7 qua van dưới 9b vào hộp gió rồi qua van một chiều

buồng dưới xi lanh 7 qua van dưới 9b theo đường một chiều sang buồng dưới của xi lanh
đầu búa10, nâng đầu búa 11 đi lên ở trạng thái treo để chuẩn bò đập. Khí ép thừa từ buồng
trên xi lanh búa 10 được dẫn qua van 9a đến buồng chứa khí rồi ra ngoài. Hành trình này
chỉ giữ trong thời gian nhất đònh nếu lâu áp suất trong xi lanh búa quá cao sẽ gây nguy
hiểm nhất là ở những máy búa không có van an toàn.

- Hành trình búa đập: Khi đập vào cần điều khiển, van trên 9a và van dưới 9b sẽ
mở ra ở vò trí như hình 2-28c. Khi pittông ép 8 đi lên, khí ép từ buồng bên của xi lanh 7
qua van 9a sang buồng trên xi lanh đầu búa, đẩy đầu búa đi xuống đập. Khi pittông 8 đi
xuống, khí ép từ buồng dưới của xi lanh 7 qua van 9b sang buồng dưới của xi lanh đầu búa
10, nâng đầu búa đi lên. Cứ thế búa đập liên tục. Nếu ấn vào cần đạp càng mạnh thì van
mở càng nhiều, lượng khí tác dụng qua van càng lớn làm búa đập càng mạnh. Nếu ấn tức
thời một cái thì búa đập nhát một, còn ấn liên tục búa sẽ đập liên tục.
- Hành trình búa ép: Gạt tay gạt ở vò trí ép, sao cho van ở vò trí như hình 2-28d.
Ngược lại với hành trình búa treo, khi pittông ép 8 đi lên, khí ép từ buồng trên xi lanh ép
được qua van 9a theo đường một chiều dẫn qua buồng trên xi lanh búa 10 đẩy đầu búa đi
xuống ép. Khi pittông 8 đi xuống, khí ép từ buồng dưới của 7 theo van 9b và thoát ra
ngoài.

dùng trong các xưởng rèn nhỏ.
3. Máy búa hơi nước- không khí ép
rèn khuôn:
Máy búa này có loại tác dụng đơn và
có loại tác dụng kép. Hiện nay, thường dùng
loại tác dụng kép có khối lương phần rơi từ
500
 34000Kg. Áp lực hơi nước hoặc không khí nén trung bình trong xylanh công tác
khoảng 7
 9at. So với máy búa hơi nước không khí ép rèn tự do thì máy rèn khuôn có
khoảng cách hai thân máy hẹp, đầu con trượt có rãnh dẫn hướng, tỷ số khối lượng giữa bệ
đe và phần rơi lớn hơn.
Trên hình 2-30 giới thiệu sơ đồ nguyên lý làm việc của máy búa hơi nước – không
khí ép rèn khuôn. Lúc bình thường van trượt 2 ở vò trí trung gian do độ căng của lò xo 7 đã
xác đònh, đầu búa đứng yên ở vò trí nào đó. Khi chuẩn bò cho búa làm việc, người ta mở
đường dẫn hơi nước hay không khí ép đến ống a. Muốn đầu búa chuyển động người ta ấn
nhẹ bàn đạp 8, thông qua hệ thống đòn bẩy 6 và 4 làm cho van 3 mở nhỏ đưa luồng hơi

Hình 2
-
29
. Sơ đồ nguyên lý làm việc
máy búa lò xo.

a)

b)
Hình 2
-
30

3 càng rộng. Khi muốn búa dừng chuyển động ta thôi tác dụng lực lên bàn đạp 8, lò xo 7
đưa van trượt 2 về vò trí trung gian, đầu búa sẽ đứng yên ở vò trí xác đònh. Còn nếu thôi
làm việc thì đóng tắt luôn đường dẫn hơi nước hay không khí ép vào ống a.
4. Máy ép ma sát kiểu trục vít:
Máy ép ma sát kiểu trục vít có lực ép từ 40
 630 tấn. Máy dùng để rèn trong
khuôn hở, rèn trong khuôn kín. Do lực ép không lớn nên thường dùng để rèn các hợp kim
màu như hợp kim đồng và các hợp kim kém dẻo khác.
Nguyên lý làm việc của máy biểu diễn trên sơ đồ
hình 2-31. Bộ phận quan trọng nhất của máy là 3 bánh ma
sát và bộ truyền động trục vít – đai ốc.
Khi chuẩn bò làm việc ta đóng động cơ làm puli 1
và 2 bánh ma sát 2 và 3 quay theo chiều mũi tên. Bánh ma
sát 12 chưa tiếp xúc với bánh ma sát 2 và 3. Lúc muốn đầu
ép 9 đi xuống ta ấn cần điều khiển 8 thông qua hệ thống
đòn bẩy 4 làm bánh ma sát 2 tiếp xúc với bánh ma sát 12,
trụt vít 10 quay đưa đầu ép 9 đi xuống do đai ốc 11 cố đònh.
Nếu thôi ấn cần điều khiển 8, lò xo sẽ trả nó về vò trí trung
gian ban đầu, hai bánh ma sát 2 và 12 tách ra, đầu máy ép
đứng yên. Muốn đầu ép 9 đi lên ta kéo cần điều khiển lên
phía trên, nhờ hệ thống đòn bẩy 4 làm bánh ma sát 3 ép
vào bánh ma sát 12, trục vít 10 quay theo chiều ngược lại
đưa đầu ép đi lên. Chốt 6 và hai cữ tỳ 5 và 7 dùng để khống chế hành trình làm việc và
bảo đảm cho máy công tác an toàn, khoảng cách giữa cữ tỳ 5 và 7 có thể điều chỉnh được.
5. Máy ép thủy lực
Máy ép thủy lực là một loại thiết bò rèn dập truyền dẫn bằng chất lỏng (dầu, nước)
có áp suất cao. Máy ép thủy lực được áp dụng rộng rãi trong nhiều lãnh vực khác
nhau:rèn tự do, rèn khuôn, ép ống kim loại màu, ép chất dẻo, ép kim loại bột v.v…
Nguyên lý tác dụng của máy ép thủy lực dựa vào đònh luật Pascal là: “Áp suất
được truyền đi tất cả các điểm của chất lỏng nguyên vẹn và theo mọi phương”.



Theo đònh luật Pascal áp suất tại
xi lanh lớn cũng là p
1
. Vậy lực tác động
lên mặt pittông lớn là:
2
2
1
2
2
1
2
12
4
4
4
d
D
P
D
d
P
D
pP 





thể tạo cho máy ép thủy lực đến 7000 tấn và có thể lớn hơn.
Máy ép thủy lực có nhiều kiểu khác nhau tùy theo yêu
cầu về độ chính xác và công dụng của nó.
Sơ đồ nguyên lý máy ép thủy lực được trình bày trên
hình 2-34: Máy gồm có hai xi lanh: xi lanh nâng 1 và xi lanh
ép 2. Chất lỏng từ bể chứa 9 nhờ bơm cao áp 8 được truyền tới
bình ổn áp 7 qua van phân phối 6 được đưa vào xy lanh nâng 1
hoặc xy lanh ép 2. Để nâng hạ xà ngang 3 mang đầu ép. ta
điều khiển van 6 để dầu ép đi vào xy lanh 1 đẩy vào pittông
và nâng hệ thống trụ 4 và xà ngang 3 đi lên hoặc giảm áp suất
Hình 2-32 Sơ đồ truyền lực bằng chất lỏng.
Đến
máy
ép
Hơi
từ
nồi
hơi
P
2

P
1

Hình 2
-
33
Bộ phận
khuếch đại áp suất.
1

yêu cầu kỹ thuật và chất lượng cao.
6. Máy ép trục khuỷu:
Máy ép trục khuỷu có lực ép từ
200 đến 10.000 tấn.
Sơ đồ nguyên lý của máy được
trình bày trên hình 2-35.
Nguyên tắc làm việc: truyền
động từ động cơ 1, qua bộ truyền động
đai 2 làm quay cặp bánh răng 3 và 4.
Bánh răng 4 lồng không trên trục đồng
thời là bánh đà của máy. Khi ấn vào
cần đạp hay nút điều khiển thì ly hợp
ma sát 5 gắn với 4 sẽ đóng lại, chuyển
động quay từ bánh răng 4 được truyền
cho trục khuỷu 10 nhờ tay biên 6 làm cho đầu búa 7 trượt lên xuống theo rãnh dẫn hướng
tạo nên chuyển động ép vào bàn máy 8. Muốn dừng máy, ta tác dụng vào cần đạp hay nút
điều khiển để ly hợp 5 nhả ra, ngắt chuyển động và phanh 9 hãm không cho trục 10 quay
nữa.
Đặc điểm: Máy ép ma sát kiểu trục khuỷu có thể dùng để rèn khuôn hở, ép phôi, đột lỗ,
Hình 2
-
34
Sơ đồ
nguyên lý máy ép
thủy lực.
1. Xy lanh nâng.
2. Xy lanh ép.
3. Xà ngang.
4. Trụ.
5. Bàn máy

Rèn tự do là một quá trình biến dạng tự do kim loại dưới tác dụng của các dụng cụ
đơn giản hoặc các thiết bò tạo lực. Việc tạo hình nhờ bề mặt dụng cụ và trình độ tay nghề
của công nhân. Rèn tự do chất lượng không cao, độ bóng bề mặt thấp, năng suất thấp, hao
phí nhiều kim loại, cường độ lao động lớn, thường dùng trong sản xuất đơn chiếc, hàng
loạt nhỏ, trong sửa chữa… nhưng có khả năng tạo sản phẩm từ rất nhỏ đến rất lớn. Vật liệu
thường dùng là phôi đúc, thỏi cán, thanh…
4.2.2 Dụng cụ rèn tự do:
Gồm nhiều dạng tùy theo tính chất của nguyên công như búa, đe, đệm, đột,
bàn là, bàn tóp, kìm, dưỡng, compa…như hình 2-36: 4.2.3 Công nghệ rèn tự do:
Các nguyên công cơ bản của rèn tự do gồm: chồn, chồn cục bộ, vuốt thanh, vuốt
ống mở rộng lỗ, vuốt dài ống, uốn, xoắn, xấn hoặc chặt, đột lỗ…( hình 2-37)
Trong mục này chỉ giới thiệu hai nguyên công cơ bản là chồn và vuốt.
a. Chồn: là nguyên công làm giảm chiều cao và tăng diện tích tiết diện ngang của
phôi (hình 2-37a;b). Mục đích của chồn: tạo phôi có đường kính lớn từ phôi có đường kính
nhỏ, tạo thớ uốn để tăng bền cho sản phẩm, giảm chiều sâu ở những phôi có đột lỗ, cải

bộ, làm nguội trong nước đoạn không cần chồn (hình 2-38 a) rồi mới gia công.

Cũng có thể thực hiện việc chồn cục bộ bằng cách nung nóng toàn bộ phôi và gia
công trong những khuôn đệm thích ứng (hình 2-38b).
Khi chồn toàn bộ, nung toàn bộ chiều dài của phôi, có thể xảy ra các hiện tượng
sau: Nếu tỷ lệ giữa chiều cao và đường kính phôi H/D

< 2 vật chồn có dạng hình trống
(hình 2-
39a), do có sự ma sát ở bề mặt tiếp xúc giữa phôi với búa và đe.
Nếu tỷ lệ: H/D = 22,5 lực đập đủ lớn làm cho vật chồn có dạng hai hình trống chồng giáp
lên nhau (hình 2-39b). Nếu lực đập không đủ lớn, vật chồn cũng có dạng hình trống kép
Hình 2
-
37
Nguyên công cơ bản và sản phẩm rèn tự do.
a) Chồn b) Chồn cục bộ c) Vuốt d) Vuốt mở rộng lỗ
e) Vuốt ống g) Uốn h) Xoắn i) Xấn k) Đột lỗ lớn bằng
đột rỗng l) Đột lỗ m) Sản phẩm rèn tự do.
k.

l.
m.


Khi chồn trên máy búa để bảo đảm
lực đủ lớn cần thỏa mãn quan hệ:
H – h
o
 0,25H
Trong đó: H - Hành trình lớn nhất
của đầu búa
h
o
- Chiều cao ban đầu
của phôi chồn
b. Vuốt (hình 2-36c): Là nguyên công làm giảm tiết diện ngang, tăng chiều dài của
phôi rèn. Nguyên công này dùng để rèn các chi tiết dạng trục, ống .…Khi vuốt thường
dùng búa phẳng. Nhưng khi cần
vuốt với năng suất cao hơn người ta
dùng búa có mặt làm việc dạng chữ
V loại cung tròn.
Những vấn đề kỹ thuật cần
chú ý khi vuốt là: Phương pháp di
chuyển phôi có thể tiến hành theo 2
cách:
- Cách thứ nhất: Lật phôi
qua lại theo một góc 90
o
hay 180
o2) 
D

Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh

149
đồng thời đẩy phôi theo chiều trục sau mỗi nhát đập (hình 2-41a). Cách này thường dùng
hơn do thuận tay và năng suất cao. Nhưng nhược điểm là kim loại biến dạng không đều,
mặt tiếp xúc với đe nguội nhanh hơn. Thường dùng phương pháp này để vuốt các kim loại
có tính dẻo cao dễ biến dạng, truyền nhiệt kém như thép cacbon trung bình và thép
cacbon thấp.
- Cách thứ hai: Quay phôi một góc 90
o
hay 60
o
theo chiều xoắn ốc (hình 2-41b).
Phương pháp này thao tác không thuận tay, yêu cầu trình độ tay nghề cao, nhưng khắc
phục được nhược điểm của phương pháp thứ nhất, thường dùng để rèn kim loại màu, thép
cacbon cao, thép hợp kim.
Khi vuốt phôi là thỏi thép đúc,
tiến hành vuốt từ giữa ra để dồn những
khuyết tật ra hai đầu rồi cắt bỏ đi, ngoài
ra còn có tác dụng làm sản phẩm ít cong,
mặt gia công phẳng hơn.

Để đảm bảo kỹ thuật và năng
suất cao trong khi vuốt, cần bảo đảm
quan hệ giữa các thông số vuốt hợp lý
như : - Lượng ép h là hiệu số giữa
chiều cao phôi trước khi vuốt H
0
và sau khi vuốt h: h = H

= (0,4  0,8)b. Nếu tỉ lệ
a
o
/b quá nhỏ thì dễ gây nên gấp nếp, nếu lớn quá thì năng suất vuốt sẽ giảm.
Khi rèn vật rèn có tiết diện tròn thì phải vuốt phôi thành cạnh vuông cho đến khi
gần đạt kích thước chiều dài rồi mới rèn thành tiết diện tròn.
Nếu vuốt phôi liệu từ vuông thành tròn, với chiều dài thay đổi không đáng kể thì
cạnh hình vuông a = d. Tốt hơn cả là để cạnh a nhỏ hơn từ 2 đến 4% so với đường kính d
(hình 2-44a). Ví dụ: cần rèn một chi tiết có 200 mm từ phôi có tiết diện vuông , muốn
chiều dài hầu như không đổi ta chọn hình vuông có cạnh a = 200 x 0,98 = 196 mm.
Hình 2-43 Hiện tượng gấp nếp.
Hình 2
-
42
Các thông số khi vuốt.
Truong DH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh

150
Nếu vuốt từ tiết diện tròn thành tiết diện vuông thì d= 1,5a (hình 2-44b); Nếu vuốt
từ tiết diện lớn thành tiết diện tròn nhỏ thì phải vuốt thành hình vuông tương ứng, sau đó
mới đánh thành tiết diện tròn
ad
D
a  ;
55,1
(hình 2-44c).
Nếu vuốt từ tiết diện vuông thành tiết
diện hình chữ nhật (hình 2-44d) mà muốn

tiếp tuyến làm cho chiều dày phôi giảm, đường kính lỗ tăng lên mà chiều dài không đổi.
Trục tâm càng bé thì biến dạng càng nhiều, năng suất vuốt càng cao. Nhưng trục tâm nhỏ
quá so với đường kính lỗ ống thì hệ số vuốt quá lớn phôi lại dễ nứt. Để vuốt đều cần dùng
búa có cạnh lớn hơn chiều dài phôi.
3
2 ba
D


Hình 2
-
44
Vuốt phôi thanh.
Hình 2
-
45
Vuốt kéo dài ống.
Hình 2
-
46
Vuốt mở rộng lỗ.
Truong DH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh

151
4.2.4 Thiết kế vật rèn và công nghệ rèn tự do:
Thiết kế công nghệ rèn tự do là việc thiết lập quy trình công nghệ rèn, vạch ra các
bước gia công với đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của nó. Thiết kế công nghệ rèn tự
do căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm và điều kiện sản xuất.

-Vật rèn bằng thép cácbon và thép hợp
kim, khối lượng G < 200 kg.
-
Vật rèn bằng thép cácbon khối lượng
G = 1000  1500 kg.
-
Vật rèn bằng thép hợp kim, khối lượng
G = 200  500 kg.
-
Vật rèn bằng thép cácbon khối lượng
G > 1500 kg.

- Phôi đúc, phôi
cán.
- Phôi đúc.

- Phôi đúc.
- Máy búa khối lượng từ 100
kg đến 7 tấn.
- Máy búa

- Máy búa
- Máy ép thủy lực từ 600

1500 tấn.
%100.
.
ct
ck
Ta

rèn cần gia công cơ để đảm bảo độ chính xác, độ bóng bề mặt và cơ tính lớp bề mặt.
Lượng dư này sẽ được cắt đi khi gia công cơ. Để hình dung sự phân bố lượng dư gia công
cơ, dung sai rèn trên một kích thước có gia công cắt gọt ta xem sơ đồ biểu diễn như hình
2-48.
Độ lớn của lớp lượng dư phụ thuộc vào: sự nhấp nhô trên bề mặt của phôi, sự
không đồng tâm giữa các tiết diện, kích thước phôi, tính chất vật liệu, yêu cầu chính xác
độ bóng, phương pháp gá đặt dụng cụ và chế độ cắt gọt, qui trình công nghệ.
Trò số về lượng dư gia công cơ đối với phôi rèn có thể tìm thấy trong các bảng sổ
tay rèn dập hay có thể xác đònh gần đúng theo công thức sau:
Phôi rèn trên máy búa: Lượng dư theo đường kính hay cạnh phôi D:


D
= 0.06 D + 0,0017 L + 28 mm
Lượng dư theo chiều dài L của phôi: 
L
= 0,08 D + 0,002L + 10 mm
Phôi rèn trên máy ép: Lượng dư theo đường kính hay cạnh phôi D:


D
= 0,06 D + 0,002 L + 23 mm
Lượng dư theo chiều dài L của phôi:

L
= 0,05 D + 0,05 L + 26 mm

Truong DH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh

 chỉ tính cho những kích thước hay những bề mặt có gia công cơ.
Kích thước chi tiết cộng thêm với lượng dư gia công cơ được gọi là kích thước danh
nghóa của vật rèn, tức là:
D = d + 
Ở đây: D - Kích thước danh nghóa vật rèn.
Hình 2
-
47
Các dạng kết cấu vật rèn tự do.
Truong DH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh

154
d - Kích thước danh nghóa chi tiết.

 - Lượng dư gia công về 2 phía.
2. Dung sai rèn (  ).
Do trong quá trình rèn, kích thước của vật rèn không phải lúc nào cũng chính xác
như tính toán, do đó cần phải tính dung sai rèn.
Dung sai rèn là hiệu số giữa kích thước lớn nhất và nhỏ nhất của vật rèn. Dung sai
rèn  được chia ra hai thành phần: sai lệch trên 
t
và sai lệch dưới 
d
so với kích thước
danh nghóa D của vật rèn. Do đó:
 = 
t
+ 



D
=  ( 0,028 D+0,0004 L+ 0,5 mm)
- Dung sai đối với chiều dài L:

L
=  (0,03 D + 0,003 L + 1,2 mm)
Sơ đồ biểu diễn kích thước, lượng dư và dung sai vật rèn như hình 2-48.

Trục chi tiết

Kích thước danh nghóa của chi tiết
d
Kích thước danh nghóa của vật rèn D

D= d +


Kích thước lớn nhất của vật rèn D
max

2
min


Lượng dư danh nghóatheo một phía  /2

Lượng dư lớn nhất theo một phía
2
max


Dung sai theo theo một phía
2


Sai lệch trên theo một phía
2
t


Sai lệch dưới theo một phía
2
d


Hình 2
-
48
Sơ đồ biểu diễn
kích thước, lượng dư và

G
vr
= V
vr
.
Ở đây: V
vr
- Thể tích vật rèn tính theo kích thước của bản vẽ vật rèn.

 - Khối lượng riêng của kim loại.
Hình 2
-
49
Vật rèn cần có
lượng dư và lượng thêm.
Hình 2-50 Bản vẽ vật rèn.
Truong DH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh

156
2. Xác đònh khối lượng phôi rèn ( G
pr
):
Phôi dùng để rèn có thể chọn từ phôi thép đúc hay thép cán. Do đó, cách xác đònh
khối lượng phôi có khác nhau.
- Phôi đúc: Khối lượng thỏi đúc G

(kg)
G
ch
- Khối lượng kim loại cháy hao khi nung.
Nung lần đầu: G
ch
= ( 23%) G

(kg)
Nung mỗi lần sau: G
ch
= ( 11,5%) G

(kg)
G
đ
- Khối lượng đầu thỏi đúc có lõm co và tạp chất cần cắt bỏ.
- Đối với thép cácbon: G
đ
= ( 15  25%) G

(kg)
- Đối với thép hợp kim: G
đ
= 35% G

(kg)
G
c
- Khối lượng đáy thỏi đúc có lẫn tạp chất cần cắt bỏ.

- Khối lượng phôi cán (kg).
G
ch
- Khối lượng kim loại bò cháy hao khi nung.
G
cb
-Khối lượng phần cắt bỏ lần cuối cùng trước khi hoàn thành chi tiết (phần này
không tính nếu rèn bằng phương pháp chồn).
Đối với chi tiết thông thường G
ch
+ G
cb
= (10 12%) G
pc

Đối với chi tiết phức tạp G
cb
từ yêu cầu chiều dài phần đuôi thừa tối thiểu cần cắt
bỏ (L)
Khi rèn trên máy búa: L
D
= 0,35D + 13 mm (cho phôi hình trụ).
L
a
= 0,25a + 25 mm (cho phôi có tiết diện hình chữ nhật)
Khi rèn trên máy ép: L
D
= 0,25D + 25 mm (cho phôi hình trụ).
L
a

- Nếu rèn chủ yếu bằng nguyên công vuốt ta chọn tiết diện phôi F
ph
xuất phát từ
điều kiện bảo đảm tỷ số rèn sao cho dễ rèn và cải tạo được thớ kim loại, ta xác đònh tiết
diện phôi F
ph
theo công thức:
F
ph
= K F
max

Ở đây: K - Tỷ số rèn là tỷ số giữa tiết diện phôi và tiết diện vật rèn.
F
max
- Diện tích tiết diện lớn nhất của vật rèn.
- Nếu rèn theo nguyên công chủ yếu là chồn: Tỷ số rèn K được xác đònh như sau:
Khi vuốt nhiều lần chiều dài phôi từ L
o
đến L
1
, L
2
,… L
n
và số lượng phôi, ta chọn được chiều dài cần thiết của thỏi đúc hay
thép cán.
Chú ý: Khi chồn, từ V
ph
ta cũng có thể xác đònh đường kính phôi D
ph
hay cạnh
vuông a của phôi theo biểu thức kinh nghiệm sau:
K
F
F
ph
max

no
n
n
o
KKK
L
L
L
L
L
L
K 


V
H
D
G
ch

)17,01(7,1 
Sau đó tiếp tục chọn D
ph
hoặc a theo quy chuẩn và xác đònh chiều dài phôi cần
thiết.
e. Xác đònh loại, số lượng và thứ tự các nguyên công.
Sau khi xác đònh kích thước phôi, ta chọn số lượng các nguyên công cần thiết để
rèn và sắp xếp các nguyên công đó theo một trật tự hợp lý nhất trong một phiếu công
nghệ (bảng). Mỗi nguyên công cần ghi rõ các điều kiện kỹ thuật để đảm bảo hoàn thành
nguyên công, các dụng cụ, đồ gá và thiết bò cần thiết.
f. Tính chế độ nung nóng và làm nguội.
Chế độ nung bao gồm: nhiệt độ bắt đầu gia công và kết thúc gia công, tốc độ nung
và thời gian nung và giữ nhiệt, số lần nung, chọn cách xếp phôi trong lò, chế độ làm nguội
vật rèn (xem chương nung nóng kim loại).
g. Chọn máy gia công hợp lý.
Rèn tự do có thể tiến hành trên máy búa hoặc máy ép. Căn cư vào khối lượng vật
rèn, năng suất gia công, độ phức tạp của chi tiết mà người ta chọn công suất máy hợp lý.
Vì các máy rèn dập đã được quy chuẩn hóa do đó việc chọn máy ta chỉ dựa vào đặc trưng
chủ yếu của nó là khối lượng phần rơi (máy búa) hay lực ép cần thiết ( máy ép).
- Khi chồn trên máy búa.
Khối lượng phần rơi máy búa xác đònh theo công thức:

kẹp chặt, dụng cụ đo…
)()17,01(7,1 kglbh
h
l
vG
ch


Truong DH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh

159
4.3 Rèn khuôn (Dập thể tích).
4.3.1 Khái niệm chung về rèn khuôn
Rèn khuôn hay còn gọi là dập khối hay dập thể tích là phương pháp biến dạng kim
loại ở trong khuôn, sự biến dạng của kim loại bò hạn chế theo mọi chiều bởi bề mặt của
lòng khuôn (hình 2-51a).
Khi biến dạng dưới tác dụng của máy búa (hay máy nhóm 1) hoặc máy rèn ngang
thường gọi là rèn khuôn, còn dưới tác dụng của các loại ép (máy ép thủy lực, máy ép ma
sát trục vít hoặc máy ép trục khuỷu) thì thường gọi lá dập khối hay dập thể tích.
Sơ đồ kết cấu chung của bộ khuôn được trình bày trên hình 2-51b. Khuôn trên 1 và
khuôn dưới 3 được bắt chặt vào đầu búa vào đe nhờ chuôi đuôi én 4. Lòng khuôn 5 có
hình dáng gần giống hình bao của chi tiết gia công. Chung quanh lòng khuôn dọc theo bề
mặt phân cách giữa khuôn trên và khuôn dưới có cửa vành biên 6 và rãnh chứa vành biên
2.
Quá trình biến dạng của phôi tron
g lòng khuôn có thể phân thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu chiều cao phôi giảm, kim loại biến dạng và chảy ra chung quanh.
Theo phương thẳng đứng phôi chòu ứng suất nén, còn theo phương ngang thì phôi chòu ứng

10, độ chính
xác đạt được  (0,1 0,05).
- Trạng thái ứng suất ở vật gia công nói chung là nén khối do đó kim loại có tính
dẻo tốt hơn, biến dạng triệt để hơn, cơ tính sản phẩm cao hơn và có thể gia công được vật
phức tạp hơn.
- Dễ cơ khí hóa nên năng suất cao hơn rèn tự do.
- Hệ số sử dụng vật liệu trong rèn khuôn cao hơn rèn tự do.
- Thiết bò sử dụng cho rèn khuôn yêu cầu có công suất lớn do đó hạn chế khối
lượng vật rèn, chuyển động chính xác. Chế tạo khuôn đắt tiền.
Do những đặc điểm trên nên rèn khuôn chỉ dùng trong sản xuất hàng loạt và hàng
khối.
4.3.2 Phân loại các phương pháp rèn khuôn
a. Phân loại theo trạng thái nhiệt của phôi
Rèn khuôn nóng và rèn khuôn nguội.
- Rèn khuôn nóng là phương pháp rèn khuôn và phôi được nung nóng đến nhiệt
độ rèn (cao hơn nhiệt độ kết tinh lại). Phương pháp này được sử dụng rộng rãi hơn do kim
loại được biến dạng dễ dàng, khả năng điền thấu được tốt, không yêu cầu thiết bò có công
suất cao, khuôn ít mòn. Tuy nhiên, rèn khuôn nóng chất lượng bề mặt của sản phẩm bò
hạn chế, độ chính xác về kích thước thấp, khuôn phải chòu nhiệt tốt, nếu nhiệt luyện
khuôn không tốt, khuôn dễ nứt mỏi.
Vì vậy người ta thường dùng rèn khuôn nóng để rèn những chi tiết yêu cầu độ
bóng bề mặt, độ chính xác không cao, rèn thô hoặc rèn sơ bộ trước khi rèn khuôn nguội.
- Rèn khuôn nguội với phương pháp này phôi không nung nóng hoặc chỉ nung
nóng đến nhiệt độ kết thúc rèn (đối với thép nung đến 750
 780
o
C). Vì thế kim loại biến
dạng khó khăn, khả năng điền thấu kém, đòi hỏi công suất thiết bò cao, khuôn chóng mòn,
dễ gây ứng suất dư trong kim loại. Ưu điểm là chất lượng bề mặt tốt, độ chính xác về kích
thước cao, thường dùng để rèn lần cuối trước khi ra thành phẩm.

khoảng 40% so với rèn trong khuôn hở.

c. Phân loại theo cách bố trí lòng khuôn trên khối khuôn:
Theo cách này chia ra: rèn trong khuôn có một lòng khuôn và rèn trong khuôn có
nhiều lòng khuôn.
Rèn trong khuôn có một lòng khuôn (hình 2-52): phôi phải được rèn sơ bộ trước
bằng rèn tự do, rèn bằng trục cán hay trục rèn hoặc cũng có thể dùng ngay phôi thép đònh
hình. Vì vậy, phương pháp này chỉ được ứng dụng để sản xuất hàng loạt nhỏ. Kết cấu bộ
khuôn đơn giản, yêu cầu công suất thiết bò không cao.
Rèn trong khuôn có nhiều lòng khuôn (hình 2-53) thì phôi được đưa vào những
lòng khuôn khác nhau, kế tiếp nhau trên cùng một khối khuôn, thiết kế những bộ khuôn
Hình 2-52.Kết cấu lòng khuôn.
a. Lòng khuôn hở.
b. Lòng khuôn kín.
Truong DH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh

162
này phức tạp và chỉ có thể dùng trên những máy có công suất lớn. Phương pháp rèn khuôn
này được dùng trong các dạng sản xuất hàng
loạt trung bình và lớn.
d. Phân loại theo thiết bò gia công:
Đây là cách phân loại thường dùng
nhất. Theo cách này chia ra: rèn khuôn trên
máy búa rèn khuôn, rèn khuôn trên máy ép
thủy lực, rèn khuôn trên máy ép dập nóng,
rèn trên máy rèn ngang và rèn trên máy
chuyên dùng.
4.3.3 Khái quát chung quá trình rèn

Khuôn nhiều lòng khuôn.
Truong DH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thu vien DH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Copyright © Truong DH Su pham Ky thuat TP. Ho Chi Minh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status