Kỹ thuật chăn ni lợn http://www.ebook.edu.vn
CHƯƠNG III
QUI TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỢNG HEO
I. NUÔI DƯỢNG CHĂM SÓC HEO HẬU BỊ
Heo hậu bò là những thú dùng để thay thế những con nọc, nái đang sinh sản trong tương lai. Sau khi
tuyển lựa heo hậu bò phải được chăm sóc nuôi dưỡng đúngcách thì mới phát huy hết sức sinh trưởng, sinh
sản trong tương lai.
Heo hậu bò thường được chọn lọc qua ít nhất 4 thời điểm:
1. Lúc 7 ngày tuổi đối với heo đực, vì những con không đạt tiêu chuẩn làm giống sẽ thiến đi ở thời điểm
này, dòch hoàn còn nhỏ, mau lành vết thương. Đối với heo cái thì chọn lúc 21 ngày tuổi. Lúc này nên dựa
vào gia phả, thành tích sinh sản của bố mẹ, ông bà và ngoại hình của heo con. Nên chọn những con bụ
bẫm, tăng trưởng tốt, trội nhất trong đàn, không có những khuyết tật, dò hình, bộ phận sinh dục không bất
bình thường, số vú trên 12, các vú cách nhau đều đặn, heo linh lợi không ủ rũ, bệnh tật.
2. Lúc cai sữa hoặc 60 đến 70 ngày tuổi, giai đoạn này chọn heo để chuyển qua khu làm giống hoặc nuôi
thòt bán cho nông dân nuôi thòt. Thời điểm này cũng căn cứ vào ngoại hình, sự tăng trưởng và sức khoẻ heo
đã chọn.
3. Giai đoạn 4 đến 6 tháng tuổi, thời kỳ này cũng dựa vào sức sinh trưởng, sự phát triển tầm vóc, có thể
cân đo hoặc nếu nuôi cá thể có thể kiểm tiêu tốn thức ăn cho mỗi kg tăng trọng. Các dò tật nếu có sẽ dễ
dàng nhận ra và có thể so sánh xếp cấp phê điểm theo tiêu chuẩn đònh sẵn (theo tiêu chuẩn nhà nước hay
tiêu chuẩn cơ sở). Những con không đạt tiêu chuẩn sẽ chuyển ngay qua khâu nuôi thòt để xuất bán, hoặc
thiến đực nuôi vỗ xuất thòt.
4. Giai đoạn 7 đến 10 tháng tuổi, đây là giai đoạn quyết đònh chọn lọc cuối cùng. Heo phải có sự phát
triển tốt các chiều đo; năng suất sinh trưởng cao; không mập mỡ khung xương vững chắc; không dò tật, bộ
vú đều, núm vú lộ rõ không có vú lép, bộ phận sinh dục đầy đặn, phát triển tốt; lanh lẹ nhưng không nhút
nhát sợ hãi hoặc hung dữ. giai đoạn này cần chú ý đến tính năng (libido) của heo đực: chúng thường hay
chồm nhảy trên lưng nhau thực hiện phản xạ giao phối và có thể xuất tiết chất dòch từ dương vật. Những
đực quá mập, dòch hoàn kém phát triển, hoặc phát triển không đều, yếu chan, nứt hư móng, viêm khớp,
dòch hoàn ẩn… nên loại thải.
Đối với heo cái cần phải có biểu hiện động dục lần đầu. Cường độ động dục lần đầu mạnh hay yếu, lộ
rõ hay âm thầm cho thấy khả năng phát dục của nái trong tương lai. Những nái quá mập, bộ vú xấu, quá
thể cung cấp thêm sinh tố A, D, E khi cần thiết.
Nên tắm mát đực giống thường xuyên, nên xòt mát bộ phận sinh dục, tránh để khí hậu hầm nóng làm xệ
túi da dòch hoàn (scrotum). Nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh làm giảm sự sinh tinh dòch của dòch hoàn.
Heo đực giống dưới một năm tuổi mỗi tuần phối một nái.
Từ 1 đến 2 năm tuổi mỗi tuần phối 2 nái.
Từ 2 đến 3 năm tuổi mỗi tuần phối 3 nái, hay phối cách nhật: ngày phối ngày nghỉ.
Trong trường hợp phối lặp nhiều lần liên tiếp phải cho nghỉ bù để tránh tình trạng tinh dòch có ít tinh
trùng. Sau khi phối phải bồi dưỡng đực:
- Hoặc hai quả trứng chính (trứng sống lòng trắng có chất avidin ức chế vitamin H ảnh hưởng đến tình
trạng thiếu biotin trên đực)
- Hoặc 100g bột cá tốt
- Hoặc 50g sữa không kem
Kỹ thuật chăn ni lợn http://www.ebook.edu.vn
Nên làm vệ sinh chuồng nái sạch sẽ, tắm mát đực, vệ sinh bao đầu dương vật đực và đưa đực sang
chuồng nái để phối giống. Nên phối giống cho nái vào lúc 8 giờ hoặc chiều mát (4-5 giờ), không cho phối
lúc trưa nóng, đực giống không hăng sức phủ nái. Cho phối trong khu nái tơ, chờ phối sẽ kích thích những
con nái chung chuồng nhanh chóng động dục và cóo thể động dục đồng loạt.
Hằng ngày nên luân phiên cho heo đực đi quầng nái khô sữa tạo điều kiện cho đực vận động vừa tạo
kích thích sự lên giống của đàn heo nái.
Nên đònh kỳ kiểm tra phẩm chất của tinh dòch:
- Thể tích (volume) trung bình heo ngoại mỗi lần xuất tinh từ 200-300ml
- Hoạt lực (A: Activity) số tinh trùng tiến thẳng phải trên 75%
- Nồng độ (C: concentration) số tinh trùng trong mỗi cm
3
(ml) là 100.000.000 đến 300.000.000
Nên kiểm tra màu tinh: đục trắng như sữa cho thấy chứa nhiều tinh trùng, trắng trong cho biết ít tinh
trùng. Tinh có màu bất thường như vàng, nâu, có máu… thì phải ngưng cho giao phối với nái, nhốt riêng
theo dõi.
Kiểm tra sự phát triển của dòch hoàn trong suốt thời kỳ sử dụng đực, nếu như dòch hoàn không đều nhau,
mà còn có phản xạ giao phối giống như con đực, chỉ khi thấy có mùi đực hoặc đực giống đi ngang mới thật
sự kêu rền.
Nái tơ động dục thì âm hộ thường sưng to, đỏ, và có nước nhờn trong, nái rạ khi động dục âm hộ có thể
không sưng, chỉ ửng hồng, và cũng có nước nhờn trong. Đây là giai đoạn đầu của thời kỳ động dục, giai
đoạn này heo nái thường không chòu cho đực phối và nếu có phối ép hoặc gieo tinh nhân tạo thì sẽ không
hiệu quả, hoặc sinh ít con.
Giai đoạn thứ hai của thời kỳ động dục là giai đoạn quan trọng, âm hộ của nái bớt sưng (gọi là hoa héo)
nhăn nheo, tím tái và có nước nhờn đục, dính, khi tay lên lưng hay mông, nái đứng yên, vểnh tai, vểnh đuôi
chờ đực phối. Đây là giai đoạn mê ì (mê đực) cho đực phối giống hoặc gieo tinh là thích hợp.
Sau giai đoạn mê ì là giai đoạn 3, nái cũng còn những biểu hiện động dục nhưng cường độ yếu và có thể
không cho đực phối giống, nếu phối giống trễ vào giai đoạn này thì nái sinh ít con hoặc không hiệu quả.
Khi cho phối giống cần xác đònh đúng thời điểm mê ì, phải vệ sinh bộ phận sinh dục nái kỹ, vệ sinh
chuồng trại tránh trơn trợt, tránh gồ ghề…để nọc nái phối giống với nhau. Nên phối giống vào sáng (khoảng
8-9 giờ) hoặc chiều mát (khoảng 16-17 giờ). Nhiều trường hợp cần cho nọc phối kép, hai lần phối cách
nhau 24 giờ. Cũng có nái rụng trứng không tập trung kéo dài, nái đòi đực phối liên tiếp 2-4 lần, mỗi lần
cách nhau 24 giờ thì mới sinh nhiều con, nếu chỉ phối 1-2 lần thì sinh ít con.
IV. NUÔI DƯỢNG CHĂM SÓC NÁI MANG THAI
Sai khi phối giống 21 ngày không thấy nái động dục trở lại xem như đã mang thai. Có thể dùng thiết bò
siêu âm để chẩn đoán nái mang thai nhưng tốn công và chi phí mua máy. Thới gian mang thai kéo dài từ
114-115 ngày (3 tháng, 3 tuần, 3 ngày). Nếu nái mang thai nhiều con có khả năng sinh từ ngày 113, nếu ít
con có thể sinh từ ngày 115 đến 118. Nhưng nếu nái sinh sớm từ ngày 108 trở lại thường rất khó nuôi con,
dù cho có sữa nhưng con rất yếu ớt, sức bú mẹ kém, sức đề kháng kém nên tỷ lệ nuôi sống rất thấp. Trong
thời kỳ mang thai có thể chia ra làm hai giai đoạn:
1. Giai đoạn chửa kỳ 1: 1-84 ngày mang thai
Thời kỳ này phôi và thai còn nhỏ, sử dụng ít chất trong máu của mẹ, dưỡng chất còn lại nái dùng để dự
trữ tạo sữa sau này. Thiếu dưỡng chất trong thức ăn heo nái giai đoạn này có ảnh hưởng xấu đến sự phát
Kỹ thuật chăn ni lợn http://www.ebook.edu.vn
triển của phôi thai như tăng hiện tượng tiêu phôi, nái còn ít thai sống khi đẻ mà chứa nhiều thai khô (thai
gỗ). Thừa dưỡng chất cũng gây ảnh hưởng tiêu phôi và làm nái trở nên mập mỡ. Nái khi cai sữa quá gầy
bọc mủ trên mình nái, dễ theo dõi tình trạng táo bón của nái.
Nói chung, trong thời gian mang thai tránh để nái dư thừa dưỡng chất, trở nên quá mập, nái mập thường
lười rặn, đẻ chậm, dễ gây tình trạng ngộp thai, chết thai khi hạ thai, và sau khi đẻ dễ mắc hội chứng M.M.A
Kỹ thuật chăn ni lợn http://www.ebook.edu.vn
(metritis, mastitis, agalactia: viêm tử cung, viêm vú, mất sữa). Nái mập chòu nóng kém dễ bò say nóng, say
nắng gây chết, xoay trở chậm, vụng về dễ đè chết con.
Tuy nhiên nếu nái mang thai quá gầy, lại sinh nhiều thai thì bào thai nhỏ vóc, sức sống không cao sau
khi đẻ ra, và nái kém sữa thiếu sữa cho con bú. Nái gầy nuôi nhiều con thì èo uột, dễ mắc nhiều bệnh, bản
thân nái cũng dễ bò bại, yếu chân, chậm lên giống lại sau cai sữa.
V. DẤU HIỆU NÁI SẮP SINH
Nái sắp sinh thường ăn ít hay không ăn, thường có tiếng kêu rền của nái sắp đẻ, nái thường ủi phá nền
chuồng gọi là hiện tượng quần ổ. Đó là tập quán khi chưa gia hoá, heo ủi nền đất cắn cỏ để tạo một tổ ấm
khi đẻ. Do đó, để nái ít hao tốn năng lượng do việc quần ổ, ta nên trải rơm, cỏ khô vào chuồng cho nái
nằm.
Nái sắp sinh thường có thể tăng thân nhiệt, tăng nhòp thở, thường đi lại không yên trong chuồng hay đi
phân, đi tiểu nhiều lần (gọi là đi mót) làm cho chuồng trại dơ bẩn, cần vệ sinh sạch sẽ khô ráo chuồng để
tránh nhiễm trùng cho heo con và bộ phận sinh dục nái sau khi đẻ.
Nái sắp đẻ phải có bộ vú phát triển rõ rệt so với khi chưa mang thai: các núm vú dài ra, quầng núm
rộng, nếu heo sắc lông trắng thường có quầng núm vú và núm vú màu đỏ hồng, hai hàng vú tạo thành hai
bệ sữa chạy dọc vùng bụng, có rãnh phân chia riêng biệt hai hàng vú và các vú. Điều này không thấy được
khi nái chưa mang thai, do vậy nếu sau khi phối không phát hiện nái động dục trở lại, mà sau 3 tháng không
có hiện tượng phát triển bộ vú như trên xem như nái bò nâng không sinh sản được.
Khi nặn khám đầu vú chưa thấy có sữa non thì chắc chắn nái chưa đẻ trong 4-6 giờ sắp tới. Nếu bắt đầu
có sữa non ròn ra đầu vú qua hai lỗ tia sữa thì trong vòng 6 giờ nái sẽ hạ thai. Nếu nặn khám đầu vú thấy
các vú đều có sữa non vọt thành tia dài thì trong vòng 2 giờ sẽ hạ thai. Nếu thấy bộ phận sinh dục có nước
nhờn màu hồng và có lợn cợn những hạt như hạt đu đủ (đó là cứt su heo con bài tiết ra) thì trong nửa giờ
sau sẽ hạ thai. Nếu thấy nái nằm nghiêng một bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng, ép đùi quẩy đuôi rặn đẻ thì
chỉ vài mươi giây sau nái sẽ hạ thai.
VI. CHĂM SÓC NÁI ĐẺ VÀ HEO CON SƠ SINH
vòng và tác động các vú đối diện để cho nái trở bề nằm (nếu muốn nái nằm bên phải thì xoa nắn bệ vú,
hàng vú bên trái và ngược lại).
Trước khi nái đẻ cần làm vệ sinh sạch sẽ vùng hội âm (quãng giữa âm hộ với hậu môn) vùng này thường
chứa nhiều lớp nhăn da chất bẩn hoặc phân dính, chúng dễ vấy nhiễm vào âm đạo khi can thiệp móc thai.
Nên cắt sạch lông đuôi để tránh tình trạng nái quẩy đuôi khi rặn đẻ làm văng, phát tán dòch nhầy (sản
dòch), hoặc dòch hậu sản, hoặc mủ (khi bò viêm đường sinh dục). Việc cắt lông đuôi cũng có lợi cho chủ
nuôi trong việc đoán biết quảng cách giữa hai lứa đẻ của nái (lông đuôi ra dài thì quảng cách giữa hai lứa
đẻ dài và ngược lại). Một số trại, chủ trương cắt đuôi heo nái nhưng như vậy thì mất đi dấu hiệu báo tình
trạng sót con sau khi đẻ.
Nái bò hầm nóng thở mệt ít rặn đẻ thì nên chống nóng cho nái bằng cách lau mát nhiều lần, chườm lạnh
vùng đầu, hoặc điều chỉnh bầu tiểu khí hậu nếu có điều kiện, nhờ đó có thể giúp nái hạ thai nhanh ít tử
vong cho bào thai.
Một số nái khi sắp đẻ thường bò sưng phù âm môn rất nặng và nếu nái rặn đẻ quá mạnh hoặc dùng thuốc
kích thích rặn đẻ, có thể gây vỡ âm môn, xuất huyết, cần có biện pháp cầm máu kòp thời (dùng kẹp mạch
máu và chỉ cột mạch máu), tránh tử vong cho nái.
Sau khi rời khỏi bụng mẹ, heo co sơ sinh cần được xách dốc ngược đầu cho nước nhờn trong xoang
miệng và mũi chảy ra ngoài, không chảy ngược vào khí quản gây sốc. Việc xách dốc ngược cũng giúp máu
dồn về não trên những con bò ngộp nhờ đó não không bò tê liệt. Nên nắm chặt cuống rún tránh xuất huyết
sau khi đứt rời với cuống nhau còn nằm trong bộ phận sinh dục heo nái. Nên quan sát kỹ để phát hiện tình
Kỹ thuật chăn ni lợn http://www.ebook.edu.vn
trạng heo con bò ngộp: da tím tái, giãn cơ, heo mềm nhũn không cử động. Gặp trường hợp này phải nhanh
chóng dùng khăn sạch lau móc nhớt trong xoang miệng, mở rộng miệng và dùng tay bóp lồng ngực 60
lần/phút để tạo thông khí phổi. Có thể phải tác động như thế trong vòng 15-20 phút kết hợp với việc lau,
mở rộng miệng mỗi 2-3 phút/lần thì heo có thể phục hồi, cử động vặn mình, kêu… Nếu heo bò ngộp lâu thì
khó hồi phục, nên dành thời gian để chăm sóc những con kế tiếp.
Khi thấy heo con bắt đầu cử động, tiến hành lau sạch chất nhầy toàn thân, cột rốn các thành bụng 4cm
và cắt rốn cách chỗ cột 1cm. Chỉ cột rốn và kéo cắt rốn phải được sát trùng cẩn thận. Sau khi cắt rốn phải
kiểm tra xem có xuất huyết vì cột rốn không chặt hay không và nhúng toàn bộ rốn vào dung dòch cồn iốt
5% để sát rùng cẩn thận. Nên cắt bỏ 8 răng để tránh heo con cắn đau vú mẹ.
những con nhỏ vóc khi bú vú nhiều sữa, tuy có lợi là mau lớn, nhưng sức tiêu thụ sữa không nhiều, dễ gây
tình trạng dư sữa, sữa ứ đọng gây viêm, hư mất vú trong các lứa đẻ về sau.
Cho heo con bú từng cữ cũng có lợi là đánh thức chúng để bú vú nái, tránh tình trạng nái nhiều sữa heo
con bú no ngủ nhiều, quãng cách giữa hai lần bú xa nhau, heo con không bú hết sữa mỗi lần nái xuống sữa,
gây ứ đọng lâu, dễ nhiễm trùng vú, gây viêm, sữa ứ cũng tích chứa vi sinh vật lên men làm rối loạn tiêu
hoá heo con. Vì vậy nếu những nái có khả năng tiết sữa nhiều thì khoảng cách giữa hai cữ bú chừng 1 giờ
là tốt, không nên quá lâu. Heo con bú nhiều cữ trong những ngày đầu cũng kích thích nái tiết nhiều
oxytocin để co bóp tử cung, sừng tử cung tống các sản dòch ra ngoài nhanh chóng, tránh ứ đọng những chất
dòch dễ gây nhiễm trùng, nhất là nhiễm trùng vòi trứng, cổ tử cung.
VII. CHĂM SÓC NUÔI DƯỢNG NÁI SAU KHI ĐẺ VÀ NÁI SỮA
Sau khi đẻ, nái thường mệt, ăn ít hay không ăn, nếu có điều kiện nên có nái uống nước cháo tinh bột
gạo, bắp, hay cám để tăng lượng glucid bù đắp cho cơ thể bò mất sau khi đẻ và cũng nhờ đó tránh xảy ra
trường hợp thiếu glucose trong máu gây sốt sữa (milk fever). Cũng trong mục đích chống sốt sữa, có thể
cấp thêm gloconat de calcium. Phải đònh lượng thức ăn hàng ngày theo sự tiết sữa của nái và sức bú của
heo con, nên tăng lượng thức ăn dần dần để tránh tình trạng nái dư sữa. Thức ăn cho nái trong thờii kỳ nuôi
con là số 10B với mức ăn trung bình 4,5kg/con mỗi ngày. Tuy nhiên phải quan sát kỹ biến đổi thể vóc của
nái để cung cấp đònh mức thức ăn: nái mâp nên hạn chế thức ăn nếu nuôi con ít, nái gầy nuôi nhiều con nên
cho ăn tự do theo nhu cầu vì sự cân bằng dưỡng chất trong thức ăn hàng ngày không đủ bù lại với nhu cầu
tiết sữa nuôi con; kéo dài tình trạng cân bằng âm như vậy dẫn đến tình trạng nái bò bại, suy kiệt khi cai sữa,
chậm động dục lại lần kế.
Sau khi đẻ cần theo dõi nhiệt độ cơ thể nái, thông thường thân nhiệt nái khoảng 39oC, nếu thân nhiệt
lên trên 40
o
C là tình trạng báo động có viêm nhiễm trùng sau đẻ, phải có biện pháp điều trò thích hợp và
kòp thời (hội chứng MMA). Cần phân biệt hội chứng MMA với sốt sữa (milk fever) để chữa trò đúng cách.
Phải theo dõi tình trạng dòch hậu sản bài xuất ở bộ sinh dục nái sau đẻ: thông thường nái đẻ tốt dòch hậu
sản ít, trong hoặc hơi hồng, nhưng nếu chất dòch hậu sản quá nhiều, màu trắng đục, hoặc vàng, hoặc xanh
nhạt, hoặc đỏ hồng, lợn cợn như mủ, hôi thối… xem như có sự nhiễm trùng nặng trong bộ sinh dục nái, cần
có biện pháp can thiệp. Trong những trường hợp như vậy nhiều nhà chăn nuôi chủ trương điều trò bằng cách
trọng của chúng là do sữa mẹ mà thôi. Ngoài ra người ta cũng có thể tính sản lượng sữa của heo nái khi heo
con 21 ngày tuổi, (sử dụng trò số tăng trọng toàn ổ heo con lúc 21 ngày tuổi) thời kỳ này có ảnh hưởng một
phần của thức ăn dặm trên sự tăng trọng của heo con, nhưng nó biểu thò khoảng nửa giá trò sản lượng sữa
của nái cho một chu kỳ sữa (thời điểm 21 ngày sản lượng sữa nái lên đến đỉnh cao nhất rồi bắt đầu giảm).
Người ta cũng tính sản lượng sữa cho mỗi lần xuống sữa của nái bằng cách cân trọng lượng toàn ổ heo con
trước và sau khi bú, hiệu số của hai trò số đo được là trọng lượng sữa nái tiết ra cho một lần bú mẹ của đàn
heo con. Đếm số lần heo nái cho con bú trong ngày ta sẽ tính được sản lượng sữa của nái trong ngày.
Để nái tiết sữa tốt, cần tạo bầu tiểu khí hậu tốt cho nái, không quá nóng, quá lạnh, ẩm thấp, hay không
khí quá khô, tránh gió lùa mưa tạt. Thức ăn của nái phải đủ chất không hư mốc, vón cục, phải đủ lượng xơ
cần thiết tránh táo bón.
Khả năng tiết sữa của nái thay đổi theo từng cá thể, tuỳ theo giống, tuỳ theo lứa đẻ, tuỳ theo số con
nuôi, tình trạng dinh dưỡng, khí hậu thời tiết, biện pháp chăm sóc. Trong 3 nhóm giống Yorkshire, Duroc ,
Landrace thì Landrace có khả năng tiết sữa tốt nhưng phải bảo đảm thoả mãn đủ nhu cầu dinh dưỡng, còn
Duroc tỏ ra kém khả năng tiết sữa nhất. Thông thường nái đẻ lứa 1, lứa 2 thường kém khả năng tiết sữa hơn
lứa thứ 3, thứ 4, nhưng những lứa đẻ sau đó thường bắt đầu giảm sút, tuy rằng cũng có những nái đến lứa đẻ
thứ 6, thứ 7 vẫn còn tiết sữa tốt. Về khí hậu thì những nái đẻ trong mùa nóng tháng 4, tháng 5 dương lòch tỏ
ra kém sữa nhất, còn những nái đẻ trong tháng 12, tháng 1 dương lòch thì tiết sữa tốt hơn. Những nái nuôi
dưới 6 con/ổ thì tiết sữa ít hơn những nái nuôi 9-10 con/ổ nhưng nuôi quá nhiều con thì khả năng tiết sữa ít
đi, cơ thể nái gầy sút nhanh.
Kỹ thuật chăn ni lợn http://www.ebook.edu.vn
Nái nuôi con trong tháng đầu thường giảm trọng khoảng 10% trọng lượng cơ thể, thức ăn xấu có thể làm
nái giảm trọng nhiều hơn và làm nái chậm động dục trở lại sau khi cai sữa. Đặc biệt trong thời gian nuôi
con nái không động dục, chưa có công trình thử nghiệm nào cho nái vừa nuôi con vừa mang thai mà đạt
hiệu quả.
Trong điều kiện chăn nuôi gia đình và nuôi bán công nghiệp, dùng sữa nái nuôi con kinh tế hơn dùng
thức ăn nhân tạo thay thế sữa mẹ để cai sữa sớm hơn 21 ngày tuổi.
Trong thời gian tiết sữa nuôi con, có sự cân bằng âm giữa lượng calci, phosphore, chất béo mà nái tiết
sữa. Điều này cho thấy nái phải rút calci, phosphore, chất béo dự trữ trong cơ thể để hỗ trợ cho sự tiết sữa,
làm cho nái mất đi lớp mỡ bọc thân sau khi đẻ rất nhanh và xương trở nên xốp hơn, nái yếu chân dễ bò bại.
nhỏ, vết mổ nhỏ, mau lành, nên cắt hai đường trên da dòch hoàn (scrotum) để dễ thoát chất dòch từ vết
Kỹ thuật chăn ni lợn http://www.ebook.edu.vn
thiến, tránh ứ đọng gây viêm. Đối với heo cái các giống heo ngoại, lai ngoại, nếu không làm giống thì
không cần thiến để nuôi thòt.
Khi được 10 ngày tuổi tiến hành tập cho heo con ăn sớm để tránh khủng hoảng vì thếiu sữa mẹ trong
tuần tuổi thứ 4 (sữa mẹ giảm sau tuần thứ 3). Việc tập ăn giúp cho heo con biết ăn sớm, không lệ thuộc sữa
mẹ nên cai sữa sớm. Thường người ta sử dụng các loại tấm, bắp, đậu nành rang xay hoặc nấu chín, có mùi
thơm, nhét cho heo con vài lần và luôn luôn để phần thức ăn tập ăn vào ổ úm hay máng bán tự động để heo
con tự do liếm láp khi chúng cần. Thức ăn tập ăn có thể không cần chứa hàm lượng protein cao vì heo con
đang có nguồn sữa mẹ dinh dưỡng dồi dào. Phải cho heo con làm quen với nguồn glucid, lipid, protid của
các loại thực liệu thông thường để hệ thống tiêu hoá heo con sớm bài tiết các enzyme tiêu hoá thích hợp.
Khi heo con bắt đầu biết ăn mạnh thì thay thế dần thức ăn tập ăn bằng thức ăn hỗn hợp số 6 (có nơi gọi
là cám D). Nên cho heo con ăn tự do trong các máng bán tự động, tránh dùng thức ăn ẩm, nếu thức ăn nấu
hoặc ẩm thì cho ăn theo bũa ăn, phần dư thừa thường phải chuyển đi để tránh sự lên men ôi chua, sình… nếu
có điều kiện, cho ăn thêm thức ăn xanh càng tốt, nhưng phải rửa thật sạch để tránh nhiễm ký sinh trùng
đường ruột.
Mặc dù sữa mẹ có chứa nhiều nước, nhưng cũng phải cung cấp đầy đủ nước uống vệ sinh cho heo con.
Chuồng trại phải ấm áp, khô ráo, tránh gió lùa mưa tạt. Trong tháng đầu heo con không cần tắm, trừ
những lúc trời nóng oi bức có thể tắm heo con từ 3-4 tuần tuổi vào lúc ban trưa. Nếu chuồng trại có sự đối
lưu không khí thích hợp thì việc tắm mát cho heo con là không cần thiết. Nếu nái cần tắm mát để tiết sữa
nhiều thì phải chú ý tránh làm ẩm ướt chuồng và heo con, chúng có thể bò lạnh và dễ bò rối loạn tiêu hoá
trong những ngày sau đó.
Cần phát hiện sớm những dấu hiệu ở hệ hô hấp, hệ tiêu hoá để sớm có biện pháp can thiệp kòp thời,
giảm bớt tổn thất.
Sự tăng trưởng và sức kháng bệnh của heo con thời kỳ này phụ thuộc vào nái mẹ. Nếu heo nái được
chủng ngừa kỹ, nuôi dưỡng trong lúc mang thai và tiết sữa đúng kỹ thuật, biện pháp chăm sóc tốt, thì đàn
heo con sẽ tăng trọng nhanh, ít bệnh tật. Nếu nái có bệnh như viêm vú, viêm tử cung, sốt, bỏ ăn, lơi ăn,
viêm khớp… thì đàn heo con thường bò ảnh hưởng xấu, gầy còm, tăng trọng kém dễ bò tiêu chảy, tỷ lệ chết
cao.
con. Thường khi mọc răng heo con bò sốt, tiêu chảy trước, sau khi răng nhú khỏi nướu một vài ngày. Tình
trạng này làm heo con mức sức, kém sức kháng bệnh.
Khi cai sữa, heo con cần giảm bớt khẩu phần thức ăn chừng 10-20% để chống stress, giữ chuồng trại khô
ráo thoáng mát (thường được nuôi trên lồng, mỗi lồng là một ổ heo con, tránh nhập nhiều đàn với nhau gây
tình trạng đánh cắn nhau). Có thể pha kháng sinh vào thức ăn để phòng chống bệnh trong 3-5 ngày. Cũng
có thể chọn lọc những con cùng tầm vóc cho ở chung với nhau để dễ chăm sóc nuôi dưỡng, nhất là nhóm
heo nhỏ vóc cần có chế độ bồi dưỡng đặc biệt hơn. Nếu khí hậu lạnh, cần sưởi ấm heo con cai sữa, nhất là
về ban đêm. Thức ăn cho heo con sau cai sữa vẫn là thức ăn hỗn hợp số 9024 (hay cám 9014) cho đến khi
heo con đạt thể trọng từ 15kg trở lên mới chuyển đổi sang sử dụng thức ăn hỗn hợp số 7. Sau 2-3 ngày hạn
chế khẩu phần, nếu heo con khoẻ mạnh thì cho ăn tự do. Cần có đầy đủ nước uống cho heo con vì sau khi
mất nguồn sữa mẹ heo con uống nước nhiều hơn. Khi được 60-70 ngày tuổi heo con chuyển thành heo nuôi
thòt hoặc heo hậu bò làm giống và có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng khác nhau.
Sau khi cai sữa, nếu nuôi thêm 1 tháng heo con có thể tăng gấp đôi, gấp ba trọng lượng cai sữa.
X. HEO NUÔI THỊT
Sau khi cai sữa, những heo không làm giống được chuyển qua khu chuồng nuôi thòt. Thời gian nuôi thòt
thường từ 5-6 tháng để đạt thể trọng xuất chuồng từ 80-100kg. mức thể trọng này phẩm chất thòt ngon
Kỹ thuật chăn ni lợn http://www.ebook.edu.vn
nhất và hiệu quả thức ăn bắt đầu giảm, heo có xu hướng tích lũy nhiều mỡ, nuôi kéo dài thêm thì không có
lợi.
Trong thời gian nuôi thòt có thể chia ra làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1:
Khoảng 2 tháng đầu, đây là thời kỳ cơ thể phát triển khung xương, hệ cơ, hệ thần kinh, do đó con thú ần
nhiều protein, khoáng chất, sinh tố để phát triển bề dài (dài thân) và bề cao. Thiếu dưỡng chất cần thiết
trong giai đoạn này sẽ làm cho khung xương kém phát triển, hệ cơ vì thế cũng không phát triển, heo trở nên
ngắn đòn, ít thòt vì cơ bắp nhỏ, sự tích luỹ mỡ ở giai đoạn sau nhiều hơn. Trái lại nếu dư thừa dưỡng chất sẽ
làm tăng chi phí, dư protein sẽ bò đào thài ở dạng urê, heo dễ bò viêm khớp, tích luỹ mỡ sớm. Dư khoáng
chất nhất là calci-phosphore gây hậu quả xấu cho sự hoá cốt tạo xương, một số khoáng vi lượng dư thừa sẽ
trở nên độc.
giai đoạn này người ta sử dụng thức ăn hỗn hợp số 9104 và số 9204 để đạt đến thể trọng khoảng 70kg.
khả năng bú được sữa đầu, hấp thu sữa đầu giữa hai nhóm heo con như nhau.
2. Chỉ nên ghép heo con sinh trước cho nái đẻ sau vài ngày (mà ít con) chứ không nên ghép con đẻ sau vài
ngày cho nái đẻ trước đó (mà ít con) vì nái đẻ ít con trước đó sẽ không còn nhiều vú có sữa để cho heo con
ghép sau bú, mặt khác heo con đẻ sau thường yếu ớt khó giành bú lại với đàn con của mẹ đẻ, thiếu sữa thì
con ghép khó có khả năng phát triển được.
Trong trường hợp chờ ghép với mẹ nuôi đẻ sau thì đàn con chờ ghép phải bú đầy đủ sữa đầu của nái mẹ
ruột vì sữa đầu heo con chỉ có thể hấp thu được tốt trong vòng 24 giờ đầu, sau vài ngày thì khả năng này
không còn nên không thể hấp thu được kháng thể của nái mẹ nuôi qua sữa đầu. Vì vậy cũng không nên quá
lo lắng khi ghép con nuôi với nái mẹ nuôi, chúng thường bò tiêu lỏng hay sền sệt trong ngày đầu và hiện
tượng này thường tự nhiên khỏi không cần điều trò. Những heo con nuôi thường bò đói trước đó nên sức thúc
vú để bú rất mạnh làm cho tuyến sữa của nái mẹ nuôi phát triển tốt, các con ruột của nái nhờ vậy phát
triển tốt hơn.
Phải dùng nước tiểu hay nước nhau của nái mẹ nuôi bôi lên mình con ghép để tránh tình trạng nái mẹ
phân biệt con lạ, cắn con, không cho bú. Khi cho bú cần khéo léo không cho con ghép bò ra trước mũi nái
mẹ nuôi và cũng tránh cho chúng kêu la. Nhốt chung hai nhóm con trong ổ úm cũng giúp cho nái không
phân biệt được con lạ. Nhiều nhà chăn nuôi nuôi nhiều nái chửa trong cùng một ô chuồng và khi chúng đẻ
cận ngày với nhau, chúng co 1thể nuôi con chung trong những ô chuồng lớn. Nếu nái có biểu hiện cắn con,
cần nhốt con, cho bú cữ.
Sau 2-3 ngày nếu nái mẹ khoẻ mạnh thường sẽ không còn phần biệt con ruột, con nuôi, đàn heo con sẽ
phát triển tốt.
XII. SINH SẢN ĐỒNG LOẠT
Là biện pháp kỹ thuật cho nhiều nái sinh con trong cùng mốt thời điểm, nhờ đó có thể ghép đàn san sớt
đều số con cho mỗi nái nuôi con để tăng tỷ lệ nuôi sống và trọng lượng cai sữa. Việc sinh sản đồng loạt còn
có lợi là dễ chăm sóc heo con heo nái như tiêm chất sắt, sinh tố, tiêm phòng đồng loạt, tránh bỏ sót và
tránh phải sử dụng thuốc dang dở (ví dụ thuốc dùng tiêm chủng 100 liều chỉ tiêm cho 1 đàn 8-10 con thì sau
đó phải bỏ, lãng phí).
Việc sinh sản đồng loạt cũng có lợi là tránh cho thú đẻ vào lúc khí hậu thời tiết khắc nghiệt, dòch bệnh
hay xảy ra, hoặc thời điểm giáp hạt thức ăn gia súc đắt đỏ hoặc heo con ế ẩm không có người mua.
Tuy nhiên sinh sản đồng loạt cũng có những bất lợi như trong cùng một thời điểm thì nhu cầu đực giống
rất cao, sau đó thì đực không sử dụng, phẩm chất tinh sẽ xấu, lãng phí, nhu cầu chuồng trại cũng sẽ cần
Nên có ô chuồng riêng để nuôi với bầu tiểu khí hậu thích hợp, đủ thức ăn tốt, nước uống đầy đủ. Có thể
bổ sung sinh tố ADE, B
1
, B
6
và nhất là B
12
như là yếu tố kích thích tăng trưởng bình thường. Phải thường
xuyên tiêu độc tẩy uế để tránh lây nhiễm mầm bệnh với nhau, việc rải vôi bột khô, quét khô các chỗ ẩm
ướt, bệnh phẩm, giúp cho đàn heo khoẻ mạnh hạn chế bớt thuốc thú y điều trò. Trong một số thời điểm khí
hậu thời tiết bất lợi cần bổ sung một số kháng sinh như là chất phòng bệnh hoặc chất kích thích sinh trưởng
(như nhóm tetracylin, bacitracin…)
Heo còi sau khi nuôi vỗ vẫn có thể còn một số biểu hiện như bụng to, xương nhỏ, tích mỡ sớm, hệ cơ
kém phát triển cho đến khi xuất thòt. Vì vậy một số nhà chăn nuôi chỉ nuôi chúng đến 30-40kg thể trọng thì
giết thòt làm heo quay (thòt mềm xương mềm, ít mỡ ở gai đoạn này).