ĐẶT VẤN ĐỀ
Hẹp động mạch vành (ĐMV) do mảng vữa xơ đang là vấn đề thời sự
của các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, trong đó có Việt
Nam. Khi đường kính chỗ hẹp lớn (do sự phát triển của mảng vữa xơ) ảnh
hưởng tới việc cung cấp máu cho cơ tim hoặc mảng vữa xơ mất ổn định sẽ
gây nên bệnh ĐMV (hay bệnh tim thiếu máu cục bộ)[44]. Bệnh ĐMV chiếm
tới một phần ba hoặc một nửa các bệnh tim mạch ở các nước phát triển. Mặc
dự đó cú những kế hoạch phòng chống bệnh rất tích cực và bệnh ĐMV nói
chung đã được kìm hãm đáng kể từ những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng do
sự tích luỹ của tuổi thọ ngày càng cao, dân số và tỉ lệ mới mắc nên bệnh suất
và tử suất do bệnh ĐMV vẫn chiếm một tỉ lệ hàng đầu trong mô hình bệnh tật
[16],[17]. Trên thế giới mỗi năm có 17 triệu người tử vong do bệnh tim mạch
thì trong đó tử vong do bệnh ĐMV là 7,2 triệu , cao nhất trong số các bệnh
tim mạch [36], [58], [59], [60]. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ĐMV và tỷ lệ tử
vong do bệnh ĐMV cũng gia tăng một cách nhanh chóng. Theo báo cáo của
Bộ Y tế về thống kê bệnh viện, năm 1994 tỷ lệ tử vong do bệnh ĐMV đứng
hàng thứ tư thì năm 1999 đã đứng hàng thứ hai [5],[6],[8].
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính, đang trở thành đại dịch, là
gánh nặng cho xã hội, gia đình và bản thân người bệnh. Bệnh ĐTĐ và bệnh
ĐMV có liên quan mật thiết với nhau. ĐTĐ là yếu tố nguy cơ rõ ràng nhất
trong các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐMV. Bệnh ĐMV khi cú thờm đái tháo
đường kết hợp sẽ nặng hơn rất nhiều. Người bị đái tháo đường có nguy cơ
bệnh ĐMV tăng 2- 3 lần so với người không bị đái tháo đường; 80% nguyên
nhân tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ là do bệnh lý mạch máu lớn [36], [58].
Rối loạn dung nạp glucose (RLDNG) một trạng thái tiền ĐTĐ, nhiều
nghiên cứu cho thấy rằng trạng thái này là yếu nguy cơ của bệnh ĐMV, yếu
1
tố nguy cơ độc lập với tử vong và sống còn sau nhồi máu cơ tim, độc lập với
quá trình tiến triển của trạng thái này thành ĐTĐ thực sự [30], [61]. Mức độ
phổ biến và tốc độ gia tăng của RLDNG thậm chí còn lớn hơn cả bệnh ĐTĐ.
Năm 2003, trên toàn thế giới có 194 triệu người bị ĐTĐ thỡ có 314 triệu
trường hợp được chẩn đoán và điều trị NMCT vào trước năm 1960 [9].
Gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự thay đổi lối sống ít
nhiều bị ảnh hưởng của phương tây đã làm cho BTTMCB ở nước ta có xu
hướng tăng lên đáng kể.
Theo GS Trần Đỗ Trinh và cộng sự (Viện Tim mạch quốc gia), tỷ lệ
bệnh nhân NMCT so với tổng số bệnh nhân nằm tại viện [10]:
- Năm 1991: 1%
- Năm 1992: 2,74%
3
- Năm 1993: 2,53%, trong đó tỷ lệ tử vong là 27,4%
Gần đây, theo GS Phạm Gia Khải và cộng sự Viện Tim mạch quốc gia,
tỷ lệ mắc BTTMCB so với tổng số bệnh nhân điều trị tại viện là [4]:
- Năm 1994: 3,42%
- Năm 1995: 5,45%
- Năm 1996: 6,05%
Như vậy BTTMCB ngày càng có xu hướng gia tăng và trở thành vấn đề
thời sự ở Việt Nam.
1.1.2 Các yếu tố nguy cơ bệnh động mạch vành:
Nghiên cứu Framingham Heart Study theo dõi 7733 người, tuổi từ 40
đến 94 lúc đầu không mắc bệnh tim mạch, để đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim
mạch trong cả đời [2]. Đối với một người 40 tuổi, nguy cơ mắc bệnh tim
mạch trong phần đời còn lại là 49% ở nam và 32% ở nữ. Ngay cả với những
người không có biểu hiện bệnh tim mạch ở tuổi 70 thì nguy cơ mắc bệnh tim
mạch trong phần đời còn lại vẫn là 35% với nam và 24% với nữ. Những nguy
cơ này biến động rất nhiều, phụ thuộc phần lớn vào sự phối hợp của các yếu
tố nguy cơ.
1.1.2.1 Các yếu tố nguy cơ chính không thay đổi được:
- Tuổi (Lớn tuổi): Khoảng 82% người tử vong vì bệnh mạch vành tim
là từ 65 trở lên. Nam > 45 tuổi, nữ > 55 tuổi được coi là nguy cơ mắc tim mạch.
- Giới tính (nam): Nam giới có nguy cơ bị bệnh ĐMV cao hơn phụ nữ
INTERHEART, THA đóng góp tới 18 % nguy cơ quy thuộc quần thể của
NMCT (lần đầu tiên)[69]. Số đo huyết áp tâm thu cũng như tâm trương đều là
những yếu tố dự báo mạnh các biến cố mạch vành, đặc biệt ở người cao tuổi.
THA tâm thu đơn độc giờ đây đã được chứng minh như một tác nhân có hại
đối với đột quỵ và bệnh ĐMV [32], [67].
- Rối loạn mỡ máu: liên quan chặt chẽ với quá trình xơ vữa mạch máu.
Low Density Lipoprotein – Cholesterol (LCL - C) có thể coi là yếu tố "chỉ
điểm" để dự báo các biến cố bệnh lý tim mạch, cứ tăng 10% LDL - C thì nguy
cơ tim mạch tăng 20%. Người ta cũng thừa nhận triglycerid cao luôn kết hợp
với tăng nguy cơ tim mạch. High Density Lipoprotein – Cholesterol (HDL -
C) vốn được xem là "yếu tố bảo vệ" chống lại việc hình thành các mảng xơ
vữa và bệnh lý mạch vành. Tỷ lệ thấp của HDL - C là điều kiện thuận tiện cho
qua trình tạo xơ vữa và hình thành các bệnh lý tim mạch, đặc biệt bệnh ĐMV.
- Hoạt động thể lực: Lối sống ít vận động là một yếu tố nguy cơ mắc
bệnh mạch vành tim. Hoạt động thể chất thường xuyên với cường độ vận
động từ vừa đến nặng giúp phòng ngừa bệnh tim mạch. Tác động này theo xu
hướng tăng dần, mức độ hoạt động thể lực càng nhiều, nguy cơ xuất hiện các
biến cố tim mạch càng thấp [40]. Để dự phòng tiờn phỏt, mức độ hoạt động
thể lực phù hợp trong suốt đời là đi bộ nhanh tối thiểu 20 phút/ ngày và từ 4-
6 ngày/ tuần. Vận động ở cường độ vừa phải đã là đủ để có những lợi ích về
tim mạch (ví dụ giảm huyết áp, tăng HDL - C trong máu ) chứ không phải
cường độ cao (vốn cần để duy trì thể hình hoặc giảm cân) [26], [38].
- Béo phì và dư cân: Người có lượng mỡ trong cơ thể quá mức, đặc biệt
nếu tích mỡ quá nhiều vựng mụng, dễ bị bệnh tim và đột quỵ ngay cả khi không
có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào khác. Béo phì liên quan tới một loạt các yếu tố
nguy cơ của xơ vữa động mạch và bệnh tim mạch bao gồm THA, kháng insulin,
6
RLDNG, cholesterol tăng cao. Tăng triglycerid, giảm HDL - C và tăng
fibrinogen trong huyết tương. Hơn thế nữa, kết quả nghiên cứu từ Framingham
Heart Study, Nurses' Health Study và một số nghiên cứu khác cho thấy mối liên
do nguyên nhân tim mạch, điển hình là nguyên nhân mạch lớn [42].
Một số yếu tố nguy cơ cao dễ có khả năng phát triển thành bệnh ĐTĐ
type 2 là [64] :
• Tuổi ≥ 45.
• Người có BMI ≥ 23, vòng eo > 90 cm với nam và eo > 80 với nữ.
• Có người thân thuộc thế hệ cận kề đã mắc bệnh ĐTĐ.
• Phụ nữ có tiền sử sản khoa đặc biệt: thai chết lưu, xảy thai, ĐTĐ thai
kỳ, sinh con to (lớn hơn 4000g), tiền sử cân nặng khi sinh thấp dưới
2500g.
• THA vô căn (huyết áp tâm thu ≥ 130mmHg và/hoặc huyết áp tâm
trương ≥ 85 mmHg).
• Người có tiền sử RLDNG hoặc suy giảm dung nạp glucose mỏu lỳc
đúi.
• Người có bệnh động mạch vành hoặc đột quỵ.
1.2.2. Dịch tễ ĐTĐ type 2 và rối loạn dung nạp glucose
Trên Thế giới
Vào những năm cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21,
ĐTĐ là bệnh không lây có tốc độ phát triển nhanh nhất. Bệnh ĐTĐ là nguyên
8
nhân tử vong đứng hàng thứ 4- 5 ở các nước phát triển, bệnh cũng được xem
là “đại dịch” ở các nước đang phát triển. Sự bùng nổ ĐTĐ type 2 và những
biến chứng của bệnh đang là thách thức lớn với cộng đồng [1].
Theo thông báo của Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế (IDF), số người
bị ĐTĐ trên toàn thế giới là [1]:
- Năm 1994: 110 triệu.
- Năm 1995: 135 triệu - chiếm 4 % dân số toàn cầu.
- Năm 2000: 151 triệu.
- Năm 2006: 246 triệu.
Theo WHO, năm 2025 sẽ có 300 – 330 triệu người mắc bệnh ĐTĐ,
chiếm 5,4 % dân số thế giới. Trong đó:
7,99 %)
- Tỷ lệ RLDNG trên cả nước là 7,3 %
Tỷ lệ RLDNG có thể sẽ tăng nhanh trong thời gian tới nếu không có
biện pháp phòng chống thoả đáng.
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng tỷ lệ thuận theo tuổi. Tỷ lệ RLDNG cũng
tăng tỷ lệ thuận theo tuổi như ĐTĐ nhưng không có mốc tăng đột ngột như tỷ
lệ bệnh ĐTĐ.
10
Nghiên cứu cũng cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ
theo giới. Nhưng tỷ lệ RLDNG ở nữ cao hẳn so với nam (8,9 % so với 5.9 %).
1.2.3. Tiờu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ type 2 và rối loạn dung nạp glucose
Nghiệm pháp dung nạp glucose
Đối tượng [64].
1. Nghiệm pháp nên được xem xét với tất cả những người trưởng thành có
thừa cân (BMI > 23) và cú thờm cỏc yếu tố nguy cơ khác:
- Ít hoạt động thể lực.
- Thuộc chủng tộc người có nguy cơ cao.
- Phụ nữ có tiền sử sinh con nặng trên 4000g hoặc được chẩn đoán
ĐTĐ thai nghén.
- Tăng huyết áp.
- HDL – C < 0,9 mmol/l và/ hoặc LDL – C > 2,82 mmol/l.
- Phụ nữ có hội chứng đa nang buồng trứng.
- Cú các tình trạng khác liên quan đến đề kháng insulin.
- Có bệnh động mạch vành.
2. Trong trường hợp không có các tiêu chuẩn trờn thỡ nghiệm pháp nên
được bắt đầu từ 45 tuổi.
3. Nếu nghiệm pháp bình thường thỡ nờn được làm lại sau 3 năm hay ít
hơn, tuỳ thuộc vào tình trạng.
Quy trình [1].
- Bệnh nhân dừng tất cả các loại thuốc có ảnh hưởng nhiều đến
≥ 10 (180) ≥ 11,1 (200) ≥ 11,1 (200)
Rối loạn
dung nạp
glucose
Lỳc đói
và
2 giờ sau
NP
< 6,1 (110)
và
≥ 6,7 (120)
< 6,1 (110)
và
≥ 7,8 (140)
< 7,0 (126)
và
≥ 7,8 (140)
Giảm dung
nạp glucose
máu
lỳc đói
Lỳc đói
≥ 5,6 (100)
và
< 6,1 (110)
≥ 5,6 (100)
và
< 6,1 (110)
≥ 5,6 (100)
và
độc lập cho các nguy cơ tim mạch.
LDL có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành vữa xơ động mạch.
Các nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng, bằng cách làm giảm LDL- C thì tỷ lệ
14
tử vong do tim mạch giảm hẳn. LDL-C giảm thì số lượng các tổn thương ở
thành mạch cũng giảm và LDL bị oxy hoá qua các quá trình khác nhau. Quá
trình oxy hóa, tuy nhiên sẽ làm tăng sự đề kháng insulin dẫn đến tăng oxy hóa
LDL trong thành mạch. Nó được đánh giá bởi các phần tử LDL-C nhỏ, đặc
như một marker của một thành phần của cholesterol dễ bị oxy hoá bởi vì nó
có tỷ lệ lớn hơn apolipoprotein B.
Hơn nữa, tế bào lympho T nhận được các tín hiệu hấp dẫn nó đến các
tổ chức viêm, làm tăng các yếu tố viêm như Tumor Necrosis Factor α (TNF
α), các yếu tố này có thể kích ứng đại thực bào và các tế bào thành mạch hoạt
động. Trên thực tế các mô mỡ được coi như là một phức bọ chế tiết các
cytokin viêm, bao gồm cả TNF α. Tình trạng RLDNG có rất nhiều các bất
thường dẫn đến khởi phát quá trình vữa xơ động mạch rất dài trước khi trở
thành ĐTĐ thực thụ.
1.3.2 Cỏc nghiờn cứu về tổn thương ĐMV ở bệnh nhân ĐTĐ và rối loạn
dung nạp glucose
Trên thế giới
Như trờn đó đề cập, ĐTĐ là một trong các yếu tố nguy cơ mạnh nhất
của bệnh ĐMV, bệnh ĐMV khi cú thờm sự kết hợp của bệnh ĐTĐ tiên lượng
xấu hơn nhiều, nguy cơ tử vong cũng như các biến cố tim mạch cao hơn một
cách rõ rệt. Bệnh tim mạch nói chung là nguyên nhân tử vong ở 75 % ở bệnh
nhân ĐTĐ, trong đó nguyờn nhân do bệnh ĐMV chiếm phần lớn. Hậu hết các
thăm dò trong chẩn đoán và điều trị bệnh ĐMV đều đề cập đến nhóm bệnh
nhân có ĐTĐ như một nhóm đặc biệt đáng lưu ý.
Nghiên cứu BARI (Bypas Angioplasty revasculazation Investigation)
[43] là một nghiên cứu rất lớn đa trung tâm, so sánh hiệu quả của các phương
15
nhúm khụng ĐTĐ, nhưng do mảng xơ vữa phát triển nhiều hơn nên đường
kính thực của lòng mạch lại nhỏ hơn đáng kể.
Số lượng những nghiên cứu và những bài báo dành cho nhóm đối
tượng bị ĐTĐ nói chung và ĐTĐ kết hợp với bệnh mạch vành nói riêng, từ
trước đến nay là rất nhiều, nhưng với nhóm đối tượng tiền đái tháo đường -
RLDNG - thỡ ít được quan tâm hơn; cho đến gần đây, khi mà người ta nhận
thấy những hậu quả cũng rất nặng nề ngay cả khi bệnh nhân mới chỉ có mức
glucose máu cao nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán ĐTĐ và chưa có
triệu chứng lâm sàng, thì RLDNG mới được lưu ý. Theo nhiều nghiên cứu
cho thấy rằng: nhóm bị RLDNGcó nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và bệnh
ĐMV nói riêng cao hơn nhóm dung nạp glucose bình thường một cách có ý
nghĩa. Các yếu tố nguy cơ tim mạch thường có trước khi khởi phát ĐTĐ,
nhưng bệnh tim mạch đi trước bệnh ĐTĐ thường ít được quan tâm Nhiều
nghiên cứu cho thấy sự phát triển của mảng xơ vữa động mạch thường xuất
hiện trước chẩn đoán đái tháo đường, những thay đổi glucose máu sau ăn thúc
đẩy quá trình vữa xơ động mạch trước khi glucose mỏu lỳc đúi bị ảnh hưởng
[50], [51], [64]. Tỷ lệ người mắc bệnh ĐMV ở người có RLDNG cao hơn có
ý nghĩa so với những người dung nạp glucose bình thường, 16% các trường
hợp bị đột tử ở người ở người RLDNG là do nguyên nhân bệnh ĐMV[64].
+ Trong một nghiên cứu trên đối tượng là 3181 bệnh nhân NMCT cấp và
không có tiền sử ĐTĐ, 35% được tìm thấy có RLDNG và 40% có tình trạng
này sau 3 tháng [35].
17
+ Nghiên cứu Funagata Diabetes chỉ ra rằng đối tượng RLDNG có
nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch cao hơn 2 lần so với những người dung
nạp glucose bình thường, nhưng không có mối tương quan đó đối với những
đối tượng suy giảm dung nạp glucose lỳc đúi [50].
+ Một nghiên cứu khác với 6766 đối tượng đã cho thấy nguy cơ sống còn
và tử vong do bệnh mạch vành là tương tự nhau giữa nhóm bệnh nhân RLDNG
và nhóm bệnh nhân ĐTĐ mới được chẩn đoán [47].
a. Chụp động mạch vành để điều trị
- Cơn đau thắt ngực ổn định không đáp ứng với điều trị nội khoa.
- Cơn đau thắt ngực ổn định có bằng chứng thiếu máu cơ tim rõ ràng
trờn cỏc thăm dò không chảy máu như nghiệm pháp gắng sức, siêu âm tim
gắng sức, xạ hình cơ tim …
- Cơn đau thắt ngực không ổn định.
- NMCT cấp đến viện trước 12 giờ hoặc sau 12 giờ nếu vẫn còn đau
ngực, trong vòng 36 giờ nếu có sốc tim, các bệnh nhân bị biến chứng cơ học
như thông liên thất, hở hai lá …
b. Chụp động mạch vành để chẩn đoán
- Đau ngực vùng trước tim nhưng các phương pháp thăm dò không
chảy mỏu khụng loại trừ được khả năng mắc bệnh ĐMV
- Suy tim không rõ nguyờn nhõn.
- Rối loạn nhịp thất.
- Mổ thay van tim ở người > 50 tuổi.
19
- Các bệnh tim bẩm sinh.
- Sau can thiệp ĐMV hoặc sau mổ bắc cầu nối chủ vành.
- Sau thay tim
1.3.3.2. Tiến hành:
+ Đường vào động mạch qua da theo phương pháp Seldinger, thường là
chọc kim từ động mạch đùi, một số bệnh nhân được chọc từ động mạch quay.
+ Tiến hành chụp ĐMV theo phương pháp của Judkins.
ĐMV được chụp ở góc độ (tư thế) cần thiết đủ để có thể bộc lộ rừ cỏc
đoạn nhánh của ĐMV cũng như hình thái thương tổn.
- Đánh giá kết quả: phân tích các thông số sau:
+ Số lượng ĐMV bị tổn thương.
+ Vị trí ĐMV bị tổn thương.
+ Mức độ tổn thương (mức độ hẹp) của ĐMV:
Hình 2.1: Sơ đồ minh hoạ cách đo mức độ % hẹp theo đường kính của ĐMV.
Hút thuốc lá
21
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Tim Mạch quốc gia Việt Nam –
Bệnh viên Bạch Mai - phường Phương Mai – quận Đống Đa – Thành phố Hà
Nội
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
Bao gồm các bệnh nhân đã được chụp ĐMV qua da và có hẹp ĐMV tại
Viện Tim mạch - Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 01/06/ 2009 đến ngày 31/12/ 2009.
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn:
Tất cả những bệnh nhân đã được chụp ĐMV qua da tại Viện Tim Mạch
quốc gia Việt Nam – Bệnh viên Bạch Mai và có hẹp ĐMV.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Đối với bệnh nhân không bị ĐTĐ:
+ Bệnh nhân có hội chứng động mạch vành cấp mà tình trạng lâm sàng
chưa ổn định.
+ Bệnh nhân có bệnh nội tiết ảnh hưởng đến glucose máu như:
Cushing, Basedow
+ Sốt, rối loạn nước và điện giải.
+ Có bệnh nhiễm trùng cấp tính.
+ Bệnh gan cấp tính.
22
+ Bệnh nhân đột quỵ, hôn mê.
+ Bệnh nhân đang sử dụng các loại thuốc có ảnh hưởng nhiều tới
chuyển hóa glucose mà không thể bỏ thuốc được.
+ Bệnh nhân suy gan, suy thận nặng.
2.3. Phương pháp nghiên cứu:
n = 1,96
2
x 0,25 x 0,75/0,05
2
≈ 290
2.3.2.2. Cách chọn mẫu
Theo ước tính tại Viên Tim Mạch – Bệnh viện Bạch Mai: mỗi ngày
trung bình có khoảng 5 bệnh nhân được chụp ĐMV (cho tất cả các chỉ định)
và ước tính có khoảng 35% số bệnh nhân bị hẹp ĐMV:
23
Trong 6 thỏng cú: 5 x 182 ngày (6 tháng) x 0,35 ≈ 319 bệnh nhân có hẹp ĐMV
Loại trừ các trường hợp không đồng ý tham gia nghiên cứu và các
trường hợp không đủ điều kiên tham gia nghiên cứu như: hội chứng ĐMV
cấp lâm sàng chưa ổn định, sốt, rối loạn nước điện giải còn khoảng 300
bệnh nhõn. Như vậy cách chọn mẫu là: mẫu toàn bộ vì khung mẫu gần bằng
cỡ mẫu (lấy toàn bộ bệnh nhân hẹp ĐMV và đủ điều kiện tham gia nghiên
cứu từ 01/06/2009 đến 31/12/2009).
2.3.3. Phương pháp thu thập thông tin:
- Hỏi bệnh:
+ Khai thác tiền sử bản thân và tiền sử gia đình để phát hiện các yếu tố
nguy cơ của bệnh ĐMV.
+ Các dấu hiệu cơ năng của ĐMV: đau ngực (đau thắt chẹn sau xương
ức với tính chất và thời gian điển hình, xuất hiện sau khi gắng sức hoặc xúc
cảm) và các triệu chứng khác: khó thở, đánh trống ngực
- Khỏm lâm sàng: đo chiều cao, cân nặng, chu vi vòng bụng, đo nhịp
tim, huyết ỏp, tỡm cỏc dấu hiệu suy tim…
- Bệnh nhân được làm các xét nghiệm: men tim, đường máu, điện giải
máu, phức hợp lipid máu, ure, creatinin máu, điện tim, siêu âm tim.
- Bệnh nhân được chụp ĐMV tại phòng chụp mạch, Viện tim mạch
quốc gia, bằng máy chụp mạch Digitex α 2400 của hãng Shimadzu (Nhật
Mmol/L Lấy máu, XN tại
khoa hóa sinh
BVBM
Nghiệm
pháp dung
nạp Glucose
DNG bình thường/
giảm DNG lỳc đúi/
RLDNG
Tiến hành NP
và lấy máu xét
nghiệm tại khoa
hóa sinh BVBM
Hẹp động
mạch vành
Mức độ hẹp
ĐMV
bình thường/
thành ĐMV không
đều/ hẹp nhẹ < 50%/
hẹp vừa từ 50%-
70%/ hẹp rất nhiều >
75% (> 95%: gần
tắc)/ tắc hoàn toàn
Chụp bằng máy
chụp mạch tại
Đơn vị tim
mạch can thiệp
– Viên tim mạch
- BVBM