Cách mạng và phản cách mạng ở Đức
Cuộc khởi nghĩa
XVII. Cuộc khởi nghĩa
Ngày 18 tháng 09 năm 1852
Cuối cùng, cuộc xung đột không tránh khỏi giữa Quốc hội Phran-phuốc
và các chính phủ các bang Đức đã nổ ra thành sự đối địch công khai
trong những ngày đầu tháng Năm 1849. Những nghị viên áo, bị chính
phủ của họ gọi về, đã bỏ Quốc hội ra về, trừ mấy người ở trong phái tả
hoặc dân chủ. Đa số các nghị viên bảo thủ, cảm thấy rõ hướng xoay
chuyển của tình hình, đã rút lui trước khi các chính phủ của họ ra lệnh.
Như vậy, không kể những nguyên nhân đã tăng cường thế lực của phái
tả, những nguyên nhân mà chúng tôi đã trình bày trong những bài trước
đây, thì chỉ riêng cái việc phản bội của các nghị viên phái hữu cũng đủ
để biến cái thiểu số trước đây thành đa số của Quốc hội. Những đại
biểu của cái đa số mới này, trước kia chưa bao giờ dám mơ tưởng đến
điều may mắn ấy, nay đã lợi dụng vị trí đối lập của mình, để điên cuồng
mạt sát sự yếu đuối, tính do dự, sự ươn hèn của đa số cũ và của chính
phủ đế chế của đa số ấy. Và giờ đây, chính nó bỗng nhiên có nhiệm vụ
thay thế đa số cũ đó. Bây giờ, nó phải tỏ rõ là có khả năng làm được
những gì. Đương nhiên là sự thống trị của nó phải cương quyết, kiên
nghị và tích cực. Nó, bộ phận ưu tú của nước Đức, sẽ có thể nhanh
chóng thúc đẩy được viên nhiếp chính đế chế già yếu và những viên bộ
Cách mạng và phản cách mạng ở Đức
trưởng ngả nghiêng của hắn; còn trong trường hợp không thúc đẩy
được thì không nghi ngờ gì nữa, nó sẽ nhân danh quyền tối cao của
nhân dân mà hạ cái chính phủ bất lực ấy xuống bằng vũ lực và thay thế
chính phủ ấy bằng một quyền hành pháp cương quyết, bền bỉ, đảm bảo
cứu được nước Đức. Thật là những kẻ đáng thương! Chính quyền của
họ, nếu có thể gọi cái mà không ai phục tùng là một chính quyền, lại
còn nực cười hơn cả cái chính quyền của những người trước họ.
Đa số mới tuyên bố rằng bất chấp mọi trở ngại, cần phải thi hành hiến
một ủy ban phòng thủ, ủy ban này đặt toàn tỉnh dưới sự bảo vệ của
Quốc hội. Ở Vuyếc-tem-béc, nhân dân bắt vua
[2]
phải thừa nhận hiến
pháp đế chế và ở Ba-đen, quân đội liên hiệp với nhân dân đã buộc viên
đại công tước
[3]
phải chạy trốn và thành lập một chính phủ lâm thời. ở
các địa phương khác của Đức, nhân dân chỉ chờ một hiệu lệnh quyết
định của Quốc hội là vùng lên cầm vũ khí và tuân theo sự điều động
của Quốc hội.
Vị trí của Quốc hội là thuận lợi hơn rất nhiều so với điều người ta có
thể chờ đợi sau cái quá khứ không quang vinh chút nào của nó. Nửa
phía tây của nước Đức đã cầm vũ khí ủng hộ nó: ở khắp nơi, quân đội
có thái độ do dự; trong các bang nhỏ, rõ ràng là quân đội nghiêng về
phía phong trào. Nước áo bị cuộc tiến quân thắng lợi của người Hung-
ga-ri làm cho tê liệt, và nước Nga, cái lực lượng dự bị ấy của các Chính
Cách mạng và phản cách mạng ở Đức
phủ Đức, đang gắng hết sức mình để ủng hộ nước áo chống lại quân
đội Ma-gi-a. Chỉ còn phải khuất phục Phổ nữa thôi, và với những cảm
tình cách mạng tồn tại trong nước ấy thì chắc chắn là có hy vọng đạt
được mục đích đó. Vậy là tất cả chỉ còn tùy ở thái độ của Quốc hội.
Khởi nghĩa là một nghệ thuật, cũng y như chiến tranh hay bất cứ nghệ
thuật nào khác; khởi nghĩa phải tuân theo một số quy tắc nhất định,
đảng nào mà quên mất những quy tắc ấy sẽ không tránh khỏi bị tiêu
vong. Những quy tắc ấy, được suy ra một cách lô-gích từ bản chất của
các đảng và từ bản chất của những điều kiện phải tính đến trong trường
hợp như thế, là hết sức rõ ràng và đơn giản, đến nỗi là chỉ kinh nghiệm
ngắn ngủi năm 1848 cũng đã dạy cho người Đức biết khá rõ những quy
tắc ấy. Thứ nhất, không bao giờ được đùa với khởi nghĩa, nếu không có
những nghị sĩ của họ thay mặt. Ba là phải hạ ngay viên nhiếp chính đế
chế xuống, thành lập một cơ quan hành pháp mạnh mẽ, tích cực và
không gì có thể làm cho dừng bước, kêu gọi những lực lượng vũ trang
của đội quân khởi nghĩa tới Phran-phuốc để bảo vệ trực tiếp cơ quan
ấy, do đó tạo ra một lý do hợp pháp để mở rộng cuộc khởi nghĩa; tổ
chức mọi lực lượng có trong tay thành một chỉnh thể vững chắc, tóm lại
là lợi dụng nhanh chóng và không do dự mọi phương tiện có thể sử
dụng để củng cố vị trí của mình và làm yếu vị trí của đối phương.
Cách mạng và phản cách mạng ở Đức
Tất cả những điều đó, những người dân chủ đức độ của Quốc hội
Phran-phuốc đã làm trái lại hẳn. Không những để mặc cho tình hình
phát triển một cách tự nhiên, những nhân vật đáng kính ấy còn đi tới
chỗ bóp nghẹt tất cả những phong trào khởi nghĩa đang được chuẩn bị,
bằng hành vi chống đối của họ. Chẳng hạn như hành vi của Các Phô-
gtơ ở Nu-rem-be. Họ đã để cho các cuộc khởi nghĩa ở Dắc-den, ở vùng
Ranh thuộc Phổ, ở Ve-xtơ-pha-li bị bóp chết mà chẳng giúp đỡ gì cả,
ngoài việc đưa ra một lời phản đối tình cảm và quá muộn chống lại sự
tàn bạo chưa từng thấy của Chính phủ Phổ. Họ có quan hệ ngoại giao
bí mật với các cuộc khởi nghĩa ở miền nam nước Đức, nhưng lại không
chịu ủng hộ bằng cách công khai thừa nhận các cuộc khởi nghĩa ấy. Họ
biết viên nhiếp chính đế chế đứng về phía các chính phủ, thế mà họ kêu
gọi hắn chống lại những âm mưu của các chính phủ ấy, nhưng hắn
không hề nhúc nhích. Những bộ trưởng của đế chế, những tên bảo thủ
kỳ cựu, cứ mỗi phiên họp, lại chế giễu cái Quốc hội bất lực ấy, thế mà
Quốc hội vẫn cứ để mặc. Và khi Vin-hem Vôn-phơ, một nghị viên của
vùng Xi-lê-di và là một trong những biên tập viên của tờ "Neue
Rheinische Zeitung" yêu cầu Quốc hội tuyên bố đặt viên nhiếp chính đế
chế ra ngoài pháp luật vì tên này, theo lời ông nói rất đúng, là kẻ phản
bội đầu tiên và lớn nhất đối với đế chế, thì những người dân chủ cách
mạng ấy nổi giận một cách rất là đạo đức, nhất trí la ó ông. Tóm lại, họ