CÁI DẤU HIỂU “SANG THU” CỦA
HỮU THỊNH
Sang thu là bài thơ tinh tế. Điều này khỏi bàn thêm. Chẳng thế mà các
chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. Nào
những hương ổi phả vào trong gió se, nào sương chùng chình qua ngõ,
rồi thì sông được lúc dềnh dàng… xem ra, thi ảnh nào cũng tài hoa. Mà
ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình
sang thu. Làm xác định cái không xác định, khiến cái vô hình thành hữu
hình, làm định dạng cái vốn mơ hồ, là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp.
Thế mà thi ảnh lại mới, hình sắc lại gợi. Đám mây thực thế mà ảo thế !
Cái cách “vắt nửa mình” kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây
vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có,
thật mà không thật. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn
ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không, khiến đám
mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc
phô duyên vậy !
Mà đâu chỉ trong quan sát, ở thi phẩm này, Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn
nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. Những hiện tượng riêng lẻ
thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều, có chậm có nhanh. Nhưng cái
nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương
và mau lẹ. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng
rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt
đầu vội vã ; Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa”. Mấy chữ ấy
đi với nhau thành cặp, hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp
luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình.
Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần
nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. Đọc Hữu Thỉnh, có một chất rất dễ
nhận : dân gian. Còn có một chất khác, luôn cặp kè, mà xem ra lại khó
trong thi đề này. Tất nhiên, những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ
nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào
đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu
sương chùng chình, sông dềnh dàng, chim vội vã v.v… Nhưng nếu chỉ
có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ, chưa xa gì hơn một lối nói sinh
động về sự vật, chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. Lớp
nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm
cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. Chữ “đứng tuổi” bật sáng,
phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. Nó đâu chỉ nói cây, mà còn
nói người. Nhân hoá cây là bề nổi, giấu người vào cây là bề sâu. Tự
dưng, chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng
bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời.
Có thể thấy rõ hơn nữa, khi nhìn trong tương quan khác.
Cảm thụ nghệ thuật, căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Nhưng, chỉ bó
hẹp trong văn bản không thôi, dễ làm nghèo nghệ thuật. Trong thực tế,
thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì
thuộc nội bộ văn bản, mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản
với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. Ví như hoàn cảnh
sáng tác . Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977, ở
nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa
chăng ? Không hẳn. Bấy giờ, cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy
khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. Nghĩa là, đời sống cũng vừa
sang thu. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. Nhìn bài
thơ trong tương quan với thời điểm ấy, tự dưng chúng ta thấy các hình
ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. Đặc biệt từ
khổ hai trở đi. Nếu ở khổ đầu, thơ còn nặng về tạo vật, thì từ khổ thứ hai
đã bảng lảng cái bóng đời. Hèn chi, cùng diễn tả nhịp vận động chầm
chậm, nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc
dềnh dàng. “Chùng chình” còn dễ ưa, “dềnh dàng” đã khó ưa. “Dềnh