1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO THỊ HẢI HÀ
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU “SANG THU” CỦA HỮU THỈNH
TRÊN CƠ SỞ SÁNG TẠO VỀ NGÔN TỪ, HÌNH TƯỢNG
VÀ BIỂU TƯỢNG CỦA TÁC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2015
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
tâm, giúp đỡ. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến
GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo,
động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học
Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đang giảng dạy
tại trường THCS Ngô Quyền - Lê Chân, Hải Phòng, trường THCS Mỹ Đức -
An Lão, Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai
thực nghiệm đề tài.
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng luận văn khó tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn
đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Đào Thị Hải Hà
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GV Giáo viên
HS Học sinh
Nxb Nhà xuất bản
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên
SL Số lượng
THCS Trung học cơ sở
TPVC Tác phẩm văn chương
phẩm 19
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài đề tài luận văn 22
1.2.1. Định hướng dạy học đọc hiểu tác phẩm "Sang thu" – Hữu Thỉnh trong
sách giáo khoa và sách giáo viên lớp 9 22
1.2.2. Khảo sát một số sách tham khảo có hướng dẫn đọc – hiểu tác phẩm "Sang
Thu" – Hữu Thỉnh. 24
1.2.3. Khảo sát thực trạng dạy học đọc – hiểu tác phẩm "Sang Thu" – Hữu Thỉnh
26
1.2.4. Khảo sát thực trạng họcsinh học đọc – hiểu tác phẩm "Sang Thu" – Hữu
Thỉnh của học sinh 31
1.2.5. Nhận xét kết quả khảo sát . . 35
1.2.6. Một số đề nghị của giáo viên và học sinh về định hướng phương pháp dạy
học văn 39
Chương 2. NHỮNG BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRÊN CƠ SỞ
TĂNG CƯỜNG SỰ HIỂU BIẾT CỦA HỌC SINH VỀ NGÔN TỪ, HÌNH
6
TƯỢNG, BIỂU TƯỢNG ĐƯỢC SÁNG TẠO TRONG BÀI THƠ “SANG
THU” CỦA HỮU THỈNH 41
2.1. Vận dụng hoạt động đọc - hiểu trong quá trình dạy học bài thơ “Sang thu”
– Hữu Thỉnh 41
2.1.1. Hướng dẫn học sinh đọc “Sang thu” – Hữu Thỉnh trong sự đối chiếu với
những bài thơ khác 41
2.1.2. Định hướng hoạt động đọc bằng những câu hỏi hướng vào tri thức đọc
hiểu bài thơ "Sang thu" để học sinh tự học trước khi đến lớp 44
2.1.3. Hướng dẫn học sinh "kĩ năng đọc chính xác" để phát hiện và phân tích giá
trị sáng tạo của ngôn từ trong bài thơ “Sang thu” – Hữu Thỉnh. 46
2.1.4. Hướng dẫn học sinh "kĩ năng đọc phân tích" để phát hiện và phân tích
những hình tượng nghệ thuật tiêu biểu của bài thơ “Sang thu” . 49
2.1.5. Hướng dẫn học sinh vận dụng "kĩ năng đọc sáng tạo" để phát hiện và đánh
giá biểu tượng nghệ thuật trong bài thơ “Sang thu” 52
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang bước sang thế kỉ XXI, thế kỉ của nền kinh tế tri thức, của
công nghệ thông tin và truyền thông, của hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó,
mỗi quốc gia muốn phát triển đòi hỏi phải tự khẳng định, thông qua tham gia
cạnh tranh lành mạnh, nhờ có nguồn nhân lực với trình độ cao. Do vậy, đổi mới
nền giáo dục quốc dân là một trong những giải pháp quan trọng, có tính chất
quyết định. Phải xây dựng một nền giáo dục mới, hướng theo giáo dục suốt đời,
hướng vào người học. Với mong muốn người học có thể sẵn sàng tham gia vào
dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật mới mẻ, độc đáo của tác phẩm.
Sự ra đời của lí thuyết đọc hiểu đã ảnh hưởng nhiều đến phương hướng
nghiên cứu, giảng dạy TPVC ở nước ta. GS. TS Nguyễn Thanh Hùng cho rằng :
“Đọc – hiểu là một địa hạt mới, gợi ra nhiều vấn đề khoa học để phương pháp
dạy học phát triển thêm về mặt lí luận và vận dụng thực tế. Đọc – hiểu cần tách
ra khỏi vòng kiểm soát chật hẹp của phương pháp để trở thành nội dung tri thức
chúng gắn liền với lí thuyết tiếp nhận, lí thuyết giao tiếp, thi pháp học, lí luận
dạy học Ngữ văn”. Qua nghiên cứu, chúng ta nhận thấy rằng vấn đề đọc – hiểu
đã được xem là một trong những vấn đề quan trọng của khoa học cơ bản. Nó gợi
ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm với các nhà giáo dục, nhất là trên con đường đổi
mới phương pháp dạy học đối với môn Ngữ văn. Đọc hiểu đang trở thành xu thế
tiếp cận và giải mã văn bản mà cả giáo viên và học sinh đều quan tâm. Người
giáo viên cần dạy học sinh cách đọc để các em tự đọc lấy, tự phát hiện ra những
nội dung và hình thức tiêu biểu của TPVC.
Đề tài trong văn học mà TPVC phản ánh rất đa dạng, phong phú. Một
trong những đề tài được nhiều tác giả quan tâm đó là đề tài về mùa thu. Mùa thu
11
hiện lên với rất nhiều tín hiệu và các cung bậc cảm xúc khác nhau. Mỗi nhà thơ
đều thề hiện những cảm nhận tinh tế khác nhau về mùa thu. Nếu Nguyễn
Khuyến cảm nhận thu sang vào thời điểm giữa mùa, Xuân Diệu là cuối thu thì
Hữu Thỉnh lại thể hiện được những rung động, cảm xúc của mình lúc giao mùa,
chuyển tiết hạ chuyển sang thu qua bài thơ Sang thu. Đây là một bài thơ mới
được đưa vào chương trình Ngữ văn THCS. Đồng thời là một bài thơ hay nhưng
cũng là một bài thơ khó dạy trong chương trình Ngữ văn 9 ( khó với lứa tuổi học
sinh THCS).
Bài thơ Sang thu của nhà thơ Hữu Thỉnh có những sáng tạo độc đáo,
thể hiện phong cách sáng tác giàu sức gợi cảm, một hồn thơ dung dị, mộc mạc
mà luôn ẩn chứa nhiều lắng sâu và trải nghiệm của chính tác giả.
Xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, chúng tôi
chọn đề tài: “ Dạy học đọc hiểu “Sang thu” của Hữu Thỉnh trên cơ sở sáng
của cái tôi trữ tình như “bỗng nhận ra” và “hình như thu đã về” với tín hiệu
chớm thu đồng thời là cảm hứng trước sự quyến rũ của vẻ đẹp mùa thu thôn dã”
[14. tr222], “ là cảm giác chuyển đổi, gián tiếp qua tạo vật: “Sông dềnh
dàng”, “chim vội vã”, “sấm cũng bớt bất ngờ” [5. tr223]. Những cảm giác trực
diện và cảm giác chuyển đổi va chạm với nhau trong toàn bài thơ. Lúc thì song
hành (“hương ổi” song hành với “gió se”) khi thì cặp đôi (“hình như” với “chùng
chình”). Sang thu còn là cảm xúc về thời gian. Cảm xúc về thời gian được thể
hiện qua hình tượng đám mây trong câu thơ “Có đám mây mùa hạ - Vắt nửa
mình sang thu”, câu thơ là điểm nối giữ hai bờ hư thực ( hình như – vội vã).
TS Chu Văn Sơn với bài viết Sang thu – Hữu Thỉnh trên trang
“vietvan.vn” “thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. Cùng với cảnh, bao
giờ cũng là tình, dù đậm hay nhạt, dù kín hay lộ. Tình trong cảnh, cảnh trong
13
tình. Cho nên, đồng hành với mạch cảnh sắc, là tâm tư của thi sĩ”. Điều đó được
thể hiện qua mạch cảm nghĩ trước mùa thu. Một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một là
đến niềm say sưa ở khổ hai và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm. Tương ứng với
những cung bậc của mạch cảm, là các cấp độ của mạch nghĩ (khổ đầu : bất giác,
khổ hai : tri giác, khổ ba : suy ngẫm). Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng
song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư. Chúng đan bện
với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp (khổ một đến khổ ba,
thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét
vừa sống động). Không chỉ vậy, theo tác giả “một trong những nét đặc sắc của
bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau, song cả
hai đều thuộc về thần thái của mùa thu”.
PGS Nguyễn Văn Long đã khẳng định: Bài thơ Sang thu gồm ba khổ, “tất
cả đều là những hình ảnh thiên nhiên đất trời lúc giao mùa sang thu. Cái tứ thơ
ấy đã quá quen, tưởng như không thể có gì mới nữa. Nhưng đọc kĩ vào từng khổ
sẽ nhận ra cách triển khai và mạch vận động của tứ thơ, bộc lộ sự phát hiện và
sáng tạo riêng của Hữu Thỉnh” – Sang thu của Hữu Thỉnh – sự vận động của một
tứ thơ.
Thứ hai: Đề xuất biện pháp dạy đọc hiểu Sang thu – Hữu Thỉnh.
Thứ ba: Tổ chức dạy thực nghiệm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp dạy học đọc hiểu Sang thu trên
cơ sở sáng tạo về ngôn từ, hình tượng và biểu tượng nhằm nâng cao hiệu quả
giảng dạy tác phẩm văn chương – Sang thu trong SGK Ngữ văn 9, Tập Hai; Nxb
Giáo dục; Hà Nội 2009.
15
- Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành trên phạm vi trường THCS Ngô
Quyền – Lê Chân – Hải Phòng (học sinh lớp 9 và giáo viên dạy Ngữ văn).
- Số liệu sử dụng để nghiên cứu đề tài này được thu thập trong khoảng
thời gian từ năm 2011 đến năm 2013, những số liệu khảo sát mới được điều tra
trong năm 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp khái quát hóa cơ sở lí
luận: vấn đề ngôn từ, hình tượng và biểu tượng và các kĩ năng đọc – hiểu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo sát
bằng phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia, thực nghiệm.
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, so sánh,
thống kê và phân tích thống kê, tổng hợp.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự
kiến được trình bày theo ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Những biện pháp dạy học đọc hiểu trên cơ sở tăng cường sự
hiểu biết của HS về ngôn từ, hình tượng, biểu tượng được sáng tạo trong bài thơ
Sang thu – Hữu Thỉnh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
hay mỗi một công dân sẽ là người biết nắm bắt thông tin nhanh nhạy. Mà muốn
thế trước hết họ phải biết đọc, không phải chỉ biết đọc chữ, đọc diễn cảm, mà
trước hết phải biết đọc hiểu, qua một văn bản phải biết đâu là chỗ cung cấp thông
tin, đâu là câu then chốt thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan điểm của tác giả. Quốc
gia nào có nhiều người biết nắm bắt thông tin, biết xử lý thông tin, thì đó sẽ là
một quốc gia mạnh. Muốn cho quốc gia mạnh thì phải biến xã hội của quốc gia
đó thành xã hội học tập, ngay từ trên ghế nhà trường, nhà trường phải đào tạo
mỗi HS thành một người đọc đích thực, đọc chủ động, sáng tạo. Điều này càng
quan trọng hơn nữa, khi ngày nay các phương tiện nghe nhìn đã cạnh tranh quyết
liệt với thời gian đọc, thu hẹp với thời gian đọc của mọi người.
Quan niệm đọc hiểu trong nhà trường là chủ yếu bồi dưỡng năng lực văn
chương cho HS, gắn với năng lực làm văn, cảm thụ văn học cho người học.
Năng lực văn chương được thể hiện qua quá trình bồi dưỡng kĩ năng đọc, nghe,
nói, viết.
Trước đây, đọc văn mà chủ yếu là đọc diễn cảm chỉ được coi như một
phương pháp giảng văn, thì bây giờ đọc văn được xem là một hoạt động có nhiều
hình thức và nội dung (như đọc thầm, đọc to, đọc lướt, đọc chậm, đọc kĩ, đọc
sâu, đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm, đọc phân vai, đọc đối thoại, đọc tái hiện,
đọc trải nghiệm, đọc phân tích, đọc bình giá, đọc tóm tắt, đọc khắc sâu, đọc sáng
tạo,…) yêu cầu đa dạng, phong phú. Nhưng đọc - hiểu văn là con đường duy
nhất để học sinh tự mình cảm nhận cái hay cái đẹp của hình thức tồn tại của một
văn bản nghệ thuật và tiến tới hiểu nội dung tư tưởng khái quát về con người xã
hội trong tác phẩm. Đọc hiểu là mục đích cuối cùng của các giai đoạn đọc và
mức độ đọc cao. Hoạt động đọc hiểu của học sinh trở thành trung tâm khi tiếp
cận, phân tích, cắt nghĩa và bình giá TPVC.
18
Hoạt động nghe hiểu là năng lực mà người dạy và người học rất cần khi
phân tích, cắt nghĩa TPVC.
Hoạt động đọc hiểu và nghe hiểu thường xuyên hỗ trợ cho nhau, thể hiện
năng khiếu nghệ thuật của con người và trong dạy học TPVC đây được coi là
- Năng lực nhận thức – nhận thức thế giới mà tác phẩm đã xây dựng lên.
- Năng lực đánh giá là năng lực khái quát, so sánh, đối chiếu, đặt tác phẩm
vào vị trí trong dòng chảy văn học để khẳng định giá trị của tác phẩm.
Đặc biệt, quá trình dạy học đọc hiểu trong nhà trường còn hình thành năng
lực sáng tạo văn học ở người học. Điều đó được biểu hiện qua lòng say mê văn
học, cảm xúc thẩm mĩ và tính nhân văn được phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng
một cách sáng tạo ngôn từ và việc khái quát hóa bằng hình tượng.
Như vậy, việc dạy học đọc hiểu TPVC có vai trò vô cùng quan trọng trong
quá trình học và phát triển các kỹ năng, năng lực khác, giúp phát triển một cách
toàn diện.
1.1.2. Ngôn từ, hình tượng, biểu tượng và mối quan hệ giữa ngôn từ, hình
tượng, biểu tượng của tác phẩm
Ngôn từ là chất liệu, là hiện tượng của đời sống mang ý nghĩa phổ biến và
ý nghĩa sáng tạo của cá nhân, tạo nên nét khác biệt rõ nét về phong cách tác giả.
Khởi thủy của tác phẩm NT, trong đó có văn học bao giờ cũng là tiếng nói giữa
con người mang sắc thái tình cảm. Ngôn ngữ không chỉ là chất liệu, không phải
chỉ là phương tiện mà còn là “kí hiệu của tình cảm”. Nghệ thuật chính là kết quả
của việc sử dụng , khai thác hình thức cấu trúc ngôn ngữ. Đó là sự nắm bắt quy
luật hình thức đời sống tự nhiên nào đấy ví dụ quy luật nhịp điệu trong sự sinh
tồn bao gồm sự lặp lại, trùng điệp, đối xứng, phi đối xứng, nhanh chậm, gấp
gáp,…để biểu hiện các cung bậc khác nhau của tình cảm.
20
Nhà văn nhà thơ phải sử dụng ngôn từ và trau chuốt nó, tạo thành một thứ
ngôn từ văn chương giàu có, sang trọng, đẹp đẽ. Ngôn từ nghệ thuật có những
đặc điểm sau:
- Tính hệ thống
- Tính chính xác
- Tính truyền cảm
- Tính hình tượng
- Tính hàm súc, đa nghĩa
thể; giữa hiển ngôn và hàm ngôn; giữa chân thực và hư cấu; giữa cái dường như
và cái có thể; giữa cái hợp lí và cái phi lí…để nhìn ra dấu ấn của ý thức và vô
thức lặn sâu trong đời sống và nằm sau thế giới hình tượng.
Cấu trúc này là kết quả của sự liên hệ mật thiết và hoàn thiện dần kinh
nghiệm sống và kinh nghiệm thẩm mĩ. Cấu trúc hình tượng nghệ thuật thường
được tổ chức thành mối quan hệ vô cùng phức tạp giữa ý thức và vô thức, chúng
thường không mạch lạc tuyến tính thẳng băng, không thể đối chiếu với logic hiện
thực cuộc sống và hợp với suy nghĩ kiểu lí trí đời thường mà tự nó là sự tổng hợp
khái quát và huyền ảo hóa đời sống mà ta gọi là tư duy hình tượng. Từ hiện thực
đời sống xã hội vô tình, vô lí nhờ cấu trúc hình tượng nghệ thuật, cuộc sống
trong tác phẩm vận động để giải tỏa ước mơ và giải phóng tư tưởng của nhà thơ.
Cuộc sống trong tác phẩm sẽ trở nên hữu tình, hữu lí hơn cho một lí tưởng thẩm
mĩ nhất định. Có thể nói, từ cấu trúc ngôn ngữ đến cấu trúc hình tượng nghệ
thuật là quá trình chuyển biến, hóa sinh từ nội dung hiện thực đến hình thức
nghệ thuật, từ vốn có đến tạo ra một đời sống khác để con người sống cuộc đời
mới phong phú và tốt đẹp hơn.
22
Tính độc đáo của chất liệu xây dựng nên hình tượng văn chương là ngôn
từ đã khiến cho hình tượng văn chương mang tính phi vật thể.
Ðược xây dựng từ chất liệu ngôn từ, hình tượng văn chương không tác
động trực tiếp vào các giác quan của chúng ta, dù là thị giác hay thính giác. Các
hình tượng văn chương hiện lên trong óc người thưởng thức bằng trí tưởng
tượng. Người đọc phá vỡ ý nghĩa các từ, câu để liên tưởng với các biểu tượng về
đối tượng được miêu tả, nhờ vào trí tưởng tượng mà người đọc dường như tái tạo
đối tượng miêu tả màvăn bản chỉ ra. Như thế chúng ta không sờ thấy, nghe thấy,
nhìn thấy trực tiếp tượng văn chương. Các hình tượng văn chương thiếu tính trực
quan, chúng phi vật thể.
Người đọc dường như phải vận dụng mọi cơ quan cảm giác để tiếp nhận
hình tượng văn chương. Những câu thơ sau người đọc dùng thị giác, thính giác
để tiếp nhận màu sắc, hình khối của hiện thực:
thể lại chuyển vào cái khái quát, cái này chuyển thành cái kia; cả hai hòa với
nhau làm một.
Sự đánh giá trong hình tượng nghệ thuật không phải là những lời bình
luận đưa từ ngoài vào. Sự đánh giá về nghệ thuật nằm ngay trong bản chất của
hình tượng. Một hình tượng nghệ thuật vừa bao hàm sự phản ánh về hiện thực
vừa bao hàm sự đánh giá về hiện thực đó. Nghĩa là, bằng hình tượng nghệ thuật
nhà văn phản ánh để đánh giá và đánh giá qua việc phản ánh hiện thực. Cái
khách quan và chủ quan ở đây xuyên thấu vào nhau.
Hình tượng nghệ thuật mang tính cá biệt, cụ thể cảm tính. Tình cảm con
người nảy sinh do chỗ tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng cụ thể sinh động,
riêng lẻ của thế giới bên ngoài. Nhà văn muốn truyền đạt tới bạn đọc tư tưởng và
24
tình cảm của mình thì không thể không làm cho tư tưởng tình cảm đó có hình hài
xương thịt của đời sống, không thể không làm cho tư tưởng hình tượng của mình
có một dạng thái của đời sống - một "tự nhiên thứ 2" trong một chất liệu nhất
định của đời sống. Tính sinh động của hình tượng là yêu cầu đối với nghệ sĩ, là
bản chất của hình tượng
Thông qua tạo hình mà hình tượng bộc lộ cái bên trong, cái bản chất, cái
vô hình. Mọi chi tiết tạo hình chỉ có ý nghĩa khi nó là sự nén chặt năng lượng.
Biểu hiện là phẩm chất tất yếu của tạo hình. Biểu hiện làm cho hình tượng mang
tính đa nghĩa, vừa gợi không gian, vừa gợi thời gian, vừa gợi tình huống, tính
cách và thái độ của tác giả, và cũng vì vậy, trong hình tượng nghệ thuật mọi chi
tiết có ý nghĩa và chức năng của chúng.
Hình tượng là cấu trúc hấp dẫn và khó khăn nhất để nắm bắt sự chuyển
hóa, khái quát và tưởng tượng của nhà văn từ đời sống tự nhiên, phiến diện đến
thế giới nghệ thuật sinh động, đa dạng, giàu ý nghĩa. Vì vậy, đối với loại cấu trúc
này người đọc chỉ có một cách đọc thông qua bản thân, tự chiêm nghiệm mà tích
lũy kinh nghiệm nghệ thuật, mới có thể cảm nhận được sự tồn tại của cấu trúc
này.
Biểu tượng là những hình ảnh sự vật cụ thể cảm tính bao hàm trong nó
tại trong hình thức hóa nghệ thuật của tác phẩm, từ ý đồ sáng tạo, quan niệm
nghệ thuật của tác giả và ý nghĩa phái sinh thông qua khả năng tiếp nhận của
người đọc. Đọc hiểu tuân theo logic khoa học, đã làm giảm đi tính chất “mơ hồ,
đa nghĩa” của TPVC để sự giao tiếp nghệ thuật đi tới chiều hướng thỏa thuận
nào đó.