Vấn đề 7: Trên cơ sở lý luận về quan hệ chính trị và kinh tế, hãy phân tích
tính tất yếu và nội dung, các giải pháp để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN của nước ta hiện nay ?
Để luận giải và làm sáng tỏ vai trò của nhân tố chính trị đối với phát triển kinh
tế, bản chất quan hệ giữa chính trị và kinh tế. Trước hết chúng ta cần nắm vững khái
niệm chính trị và kinh tế, bản chất quan hệ giữa chính trị và kinh tế.
Có nhiều quan niệm khác nhau về chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét
chính trị ở nhiều góc độ khác nhau, tuy vậy, trong bản chất của những hiện tượngvà
sự kiện của đời sống chính trị có một đặc trưng qui định tính chính trị của chúng;
Đó là lợi ích (đặc biệt là lợi ích kinh tế.). Do vậy, có thể xem chính trị - xét đến
cùng - là quan hệ về lợi ích các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia, các dân tộc;
là sự tham gia vào những công việc của Nhà nước, là việc vạch hướng đi và xác
định những hình thức, nhiệm vụ của Nhà nước.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin: Kinh tế là toàn bộ phương thức
sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội, là nguồn gốc của mọi biến đổi xã hội và
những đảo lộn chính trị. Theo nghĩa thực thể, kinh tế được tiếp cận ở hai phương
diện: xét về mặt xã hội của quá trình sản xuất, thì đó là mối quan hệ giữa người với
người trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng của cải trong xã hội. (ở giác
độ này, người ta quan tâm trước hết vấn đề sở hữu về tư liệu sản xuất ). Ở phương
diện thứ hai, chỉ nền kinh tế quốc dân với các ngành, các lĩnh vực kỹ thuật cụ thể
đang hoạt động. ( ở giác độ này, người ta thường quan tâm đến sức mạnh hiệu suất,
hiệu quả của nền kinh tế quốc dân trong một thời điểm hay một giai đoạn lịch sử cụ
thể nào đó.)
Mối quan hệ chính trị với kinh tế được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin
xem xét trên quan điểm duy vật lịch sử thông qua phân tích mối quan hệ giữa kiến
trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng và nó được phản ánh một cách rõ nét trong luận
điểm của Lênin, Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, Đến lượt nó, bao giờ
1
cũng tác động đến sự phát triển của kinh tế, văn hoá và xã hội. Chính trị không thể
không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế. Thông qua mối quan hệ này, có thể
trình bày mối quan hệ chính trị với kinh tế trên hai vấn đề sau đây:
triệt để tiềm năng của nhân loại, tạo ra lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng
với trình độ vượt bậc, tạo ra năng suất lao động cao chưa từng có trong lịch sử nhân
loại, tạo ra lượng hàng hóa khổng lồ với chất lượng ngày càng cao, mẫu mã ngày
càng đẹp, đáp ứng nhu cầu không ngừng của xã hội.Từ trước đến nay, nó tồn tại và
phát triển chủ yếu dưới CNTB, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của
CNTB. CNTB đã biết lợi dụng ưu thế tối đa của kinh tế thị trường để phục vụ cho
mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận và một cách khách
quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay kinh
tế thị trường TBCN đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các
nước tư bản phát triển. Tuy nhiên, kinh tế thị trường TBCN không phải là van năng.
Bên cạnh mặt tích cực, nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó do
chế độ tư hữu TBCN chi phối. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng
ngày mâu thuẫn của CNTB càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề
xã hội,làm tăng thêm tính bất công và bất ổn của xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách
giữa người giàu và người nghèo. Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hoá hiện
nay, nó còn ràng buộc các nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc
lột theo quan hệ “trung tâm - ngoại vi”. Có thể nói nền kinh tế thị trương TBCN
toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một số ít nước lớn hay là một số tập đoàn
xuyên quốc gia đối với đa số các nước ngèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các
nước giàu và các nước nghèo.
Chính vì thế mà, như chủ nghĩa Mác đã phân tích và dự báo, CNTB tất yếu
phải nhường chỗ cho một phương thức sản xuất và cế độ mới văn minh hơn, nhân
đạo hơn. CNTB mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự điều chỉnh, tự thích nghi
3
bằng cách phát triển “nền kinh tế thị trường hiện đại”, “nền kinh tế thị trường xã
hội”, “CNTB nhân dân”, “nhà nước phúc lợi chung”… tức là phải có sự can thiệp
trực tiếp của Nhà nước và cũng phải chăm lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do
mâu thuẫn từ trong bản chất của nó, CNTB không thể tự giải quyết được, có chăng
nó chỉ tạm thời xoa dịu được phần nào mâu thuẫn mà thôi. Nền kinh tế thị trương
TBCN hiện đại đang ngày càng thể hiện tự phủ định và tự tiến hoá để chuẩn bị
dụng cho tất cả các nước đi theo con đường XHCN. Tuy vậy, do duy trì lâu mô hình
kinh tế này mà kinh tế xã hội bắt đầu rơi vào tình trạng trì trệ, tạo nên khủng hoảng
xã hội; sự bất bình của nông dân và sự chống đối của binh lính.
Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế, kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn
thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên CNXH là mục tiêu, lý tưởng của
những người cộng sản và nhân dân VN, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả
dân tôc VN. Nhưng đi lên CNXH bằng cách nào? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ
trọng, muốn trả lời thật không đơn giản. Suốt một thời gian dài VN, cũng như nhiều
nước khác đã áp dụng mô hình xã hội kiểu Xô viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập
trung, mang tính bao cấp. Mô hình này đã thu đựơc những kết quả quan trọng, nhất
là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau, mô
hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải một
số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy
nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn trọng quy luật khách quan, nhận
thức về CNXH không đúng với thực tế VN.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về CNXH và con đường đi
lên CNXH ở VN, đại hội VI Đảng CSVN tháng 12/1986 đã đề ra đường lối đổi mới
toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng CNXH. Đại
hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng CNXH, đặc
biệt là quan niệm về công nghiệp hoá XHCN trong thời kỳ quá độ, về cơ cầu kinh
tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị trường, phê phán
5
triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch
toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với
những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể
và xã hội…
Hội nghị TW6 (3/1989) khoá VI, phát triển thêm một bước đưa ra quan điểm
phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên CNXH, coi
chính sách kinh tế nhiều thành có ý nghĩa chiến lược lâu dài có tính qui luật từ ổan
xuất nhỏ đi lên CNXH. Đến Đại hội VII (6/1991) ĐCS Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn
điều tăng trưởng kinh tế chậm dần trong 5 năm qua- năm 2000 đã tăng trở lại nhưng
vẫn chưa đạt mức tăng trưởng cao giữa thập niên 90. Nhịp độ tăng trưởng tổng sản
phẩm trong nước (GDP) và GDP bình quân đầu người, nhịp độ tăng giá sản xuất
công nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu không đạt chỉ tiêu do Đại
hội VIII đề ra. Nhìn chung, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt,
giá thành cao thị trường tiêu thu sản phẩm hẹp- cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm,
đầu tư thấp, lãng phí thát thoát nhiều. nhịp độ thu hút đầu tư giảm… tình trạng tham
nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ
cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Việc triển khai thực hiện nghị quyết, chủ
trương chính sách của Đảng chưa tốt, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm; một số quan
điểm chủ trương chưa rõ, chưa có nhận thức thông suốt ở các cấp, các ngành
Thực tiễn kinh tế đất nước từ khi chuyển sang mô hình kinh tế thị trường có sự
quản lý của nhà nước định hướng XHCN đã và đang chứng minh tính khách quan
khoa học, tính hiệu quả cao của mô hình kinh tế đó. Chỉ trong một thời gian ngắn,
mô hình kinh tế mới đã đem lại những thành tựu rất quan trọng, góp phần quyết
định đưa nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội gay gắt và tạo những
tiền đề cho thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước. Đánh
giá tổng quát các mục tiêu chủ yếu trong giai đoạn 1991 – 2000, Đảng đã chỉ rõ
“Nền kinh tế có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội
7
nhập kinh tế quốc tế; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ
rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ; thế và lực của đất nước hơn hẳn 10 năm
trước, khả năng độc lập tự chủ được nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh CNH –
HĐH”. Tuy nhiên, là một mô hình hoàn toàn chưa có trong lịch sử, thời gian đưa
vào thực hiện chưa được bao lâu nên chúng ta chưa thể xem đó là một mô hình đã
được thiết kế xong xuôi, hoàn chỉnh. Cần phải có thời gian và kinh nghiệm thực tiễn
bổ sung, hoàn thiện mô hình đó.
Với những nội dung đã trình bày, chúng ta có thể khẳng định rằng việc xác lập
vai trò chức năng của Nhà nước trong đời sống chính trị và nâng cao hiệu quả quản
lý kinh tế vi mô của Nhà nước là một trong những nhiệm vụ cơ bản của chủ thể
thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh và quyền tự chủ hạch toán của doanh
nghiệp.
Thứ tư, nhà nước thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi
đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, như thực hiện thuế thu nhập cá nhân và thuế thu
nhập doanh nghiệp; thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là tín dụng
cho người nghèo và các chính sách xã hội khác.
Trên con đường đi lên CNXH, chúng ta cần phải đấu tranh với những tư tưởng
cho rằng hiện nay chúng ta đang quá độ lên CNTB chứ không phải quá độ lên
CNXH, theo những người này xuất phát từ chổ họ cho kinh tế thị trường là thuộc
tính của CNTB. Đó là một sự nhận thức thiển cận, sai lầm. Như đã phân tích ở trên,
kinh tế thị trường là một thành tựu của nền văn minh nhân loại, không của riêng ai.
Chúng ta thực hiện kinh tế thị trường là để lợi dụng những mặt tích cực nhưng cũng
phải có một hệ thống giải pháp về tư tưởng, kinh tế, hành chính, văn hoá để đẩy lùi
các mặt tiêu cực của kinh tế thị trường như phân cực xã hội, băng hoại đạo đức,…
Đảng ta khẳng định đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu XHCN đã lựa chọn mà chỉ
tìm ra phương thức, con đường đúng đắn hơn, hiệu quả hơn để đi tới mục tiêu.
9
Dẫu rằng năng lực lãnh đạo chính trị với kinh tế trong những năm đổi mới vừa
qua là rất to lớn nhưng cũng chỉ là bước đầu. Nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện
chứng chính trị với kinh tế để xây dựng và phát triển một nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay còn những gay go phức tạp, nhiều nguy cơ tiềm
ẩn. Nhưng với đường lối kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng
của CN Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng là nhân tố quyết định thành
quả sự nghiệp đổi mới để xây dựng một xã hội vì mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã
hội- công bằng, dân chủ, văn minh. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
là một quá trình tất yếu phù hợp với thời đại và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất
nước trong thời đại ngày nay./.
10