Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
Phần Chín: Thế kỷ XVII & XVIII
Thế kỷ thứ XVII và XVIII, đặc biệt là thế kỷ thứ XVII, là thời gian hình thành
của giai cấp tư sản Âu Tây - xuất hiện từ thế kỷ XVI nhưng chưa thành hình hẳn
hoi, mới mạnh ở bên Ý còn đại bộ phận Âu Tây thì còn phôi thai. Sau khi những
bọn con buôn, cướp biển, tìm ra những đất mới ở Mỹ, Á, Phi, cướp được nhiều
của cải của các dân tộc ít phát triển hơn mang về, thì tư sản Âu Tây phát triển
mạnh mẽ. Đó là yếu tố quyết định sự tăng cường bóc lột nhân dân Âu Tây. Do
đó, cuối thế kỷ thứ XVI, chế độ tư sản phát triển ở toàn bộ phương Tây (Pháp, Hà
Lan, Anh). Nước Đức bấy giờ đứng ngoài hệ thống buôn bán, Ý cũng thế, vì
đường buôn bán không theo đường cũ Cận Đông - Bắc Ý - Nam Đức - Bắc Đức
mà vòng qua Đại Tây Dương, và làm giàu những nước có cửa biển ở Đại Tây
Dương: Pháp, Anh, Ý, Hà Lan, Thụy Điển. Y-pha-nho bấy giờ cướp được nhiều
của nhất, nhưng không xây dựng tư bản được vì vào thẳng nhà Vua - phân phát
cho quý tộc, mua hàng của tư sản láng giềng chứ không phát triển công nghiệp
trong nước, nên tư bản phát triển chủ yếu ở Pháp, Hà Lan, Anh. Trong thời gian
ấy, giai cấp tư sản thành hình, lấn vào chính quyền, xây dựng chế độ quân chủ
độc đoán và chuẩn bị cho cuộc cách mạng tư sản. Tùy tương quan lực lượng giữa
tư sản và quý tộc bấy giờ trong mỗi nước mà phong trào tư tưởng chống Giáo
hội, xây dựng một hệ thống lý tính khoa học có tính chất quyết liệt hoặc dung hòa
với tư tưởng tôn giáo. Ở Anh: quyết liệt, ở Pháp: dung hòa.
I - TƯ TƯỞNG TƯ SẢN Ở ANH
Ở Anh, giai cấp tư sản phát triển rất mạnh nhờ nghề cướp biển, buôn bán với lục
địa Âu Tây, và xây dựng một nền công nghiệp mới trong nước, đặc biệt là công
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
nghệ dệt và than mỏ. Ở đây phong trào chống truyền thống kinh viện chủ nghĩa
có tính chất quyết liệt. Phủ định cả tư tưởng Cổ đại (Platon, Aristote) và theo
truyền thống duy danh ở Anh đời Trung Cổ (William Occam [01], Roger Bacon
xây dựng trên một cơ sở độc tài.
Bacon và Hobbes là nguồn gốc của tư tưởng duy vật máy móc cận đại nhưng có
tính chất khoa học; trái với Bruno [05] hoặc tư tưởng duy vật Trung Cổ nhiều
biện chứng pháp hơn nhưng thiếu khoa học.
II - TƯ TƯỞNG TƯ SẢN PHÁP: DESCARTES [06]
Là một trong những người quan trọng nhất của tư tưởng tiến bộ Âu Tây, René
Descartes làm nguồn cho 2 truyền thống đối lập:
- Khoa học toán lý duy vật máy móc, phát triển nhiều vào thế kỷ thứ XVII,
XVIII. Đó là một đặc tính của tư tưởng tư sản.
- Tư tưởng phân tích tâm lý và duy tâm chủ quan (lấy ý thức cá nhân làm thực thể
tuyệt đối, khác duy tâm khách quan lấy ý chí siêu nhiên hay Thượng đế làm tuyệt
đối).
Hai hướng này phát triển song song trong thế kỷ XVII, XVIII và sau này nữa,
bây giờ vẫn còn duy trì - có thể nói Descartes một phần nào đấy làm nguồn gốc
cho cả hệ thống tư tưởng tư sản với 2 hướng trên. Ông tiêu biểu cho những ưu và
khuyết điểm của tư tưởng tư sản.
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
Ưu điểm: đòi hỏi một khoa học toàn bộ, triệt để lý tính, tuyệt đối chắc chắn, tin
tưởng tuyệt đối ở loài người và ở từng cá nhân con người đủ lý trí để xây dựng
khoa học, tiêu biểu cho tinh thần khoa học. Nó còn có tác dụng tinh thần nữa là
làm cho con người phấn khởi.
Khuyết điểm: Lý tính ấy ghi một cách trừu tượng, thực tế thì không hoàn toàn
tách rời kinh nghiệm, nhưng đứng về nguyên tắc nó không cần kinh nghiệm.
Đứng về chân lý, nó không phụ thuộc kinh nghiệm. Hệ thống khoa học tồn tại
trên cơ sở lý tính của nó (về nguyên tắc là tách rời kinh nghiệm); về chủ quan chỉ
ta (quy nạp trên kinh nghiệm) mà còn của một cái gì bảo đảm cao hơn là Thượng
đế (phản ánh của Vua trong xã hội).
Trong tác phẩm Descartes có 2 phần:
+ Xây dựng khoa học mới - sau này nhiều kết quả.
+ Biện chính khoa học mới ấy trên cơ sở siêu hình: sự tồn tại của Thượng đế và
sự bất diệt của linh hồn.
Hệ thống của Descartes có 5 điểm chính:
1) Hoài nghi theo phương pháp (doute méthodique);
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
2) Sự tồn tại tuyệt đối của tinh thần, linh hồn, bản ngã;
3) Do sự tồn tại tuyệt đối của linh hồn thì phải có Thượng đế;
4) Vì có Thượng đế nên chúng ta mới tin tưởng được ở lý tính và ở khoa học;
5) Do có Thượng đế ta có thể tin tưởng vào sự tồn tại của vật thể.
*
1 - Hoài nghi theo phương pháp (doute méthodique)
Muốn đạt một chân lý tuyệt đối, chúng ta phải hoài nghi, thậm chí phủ định tất cả
cái gì có thể hoài nghi được mới nắm chắc chắn:
+ Tất cả nhận thức thuộc cảm tính (thậm chí có thể so sánh với giấc mơ, kinh
nghiệm cho biết nhận thức cảm tính nhiều khi sai);
+ Cái gì thuộc lý tính thậm chí toán pháp mà ta nắm vững nhưng vẫn có thể hoài
nghi được, vì ta có thể giả sử có một ông Thần Ác làm ta mỗi lần tính đều sai
lầm.
là có thật, mà những cái ta nắm được trong bản tính thì từng điểm nhỏ có thể sai
nhưng nói chung là có được, nếu nó không có thì Thượng đế hóa ác quá.
Tóm lại, phải dựa vào Thượng đế ta mới tin được những chân lý tuyệt đối của lý
tính và chân lý tương đối của cảm tính.
Hệ thống này đã làm cho tất cả thời đại bấy giờ, làm cho mọi tầng lớp đều say mê
(bác học, nghệ sĩ, phòng trà, v. v giáo, lương, ở Pháp, Anh, Hà Lan, v.v ) và
không phải nhất thời mà ngày nay Descartes vẫn được nhiều nước xem là một
bậc tiên sư cao nhất.
Engels nói rằng ngày nay vẫn nhiều nhà bác học tên tuổi trong công việc thực
nghiệm thì duy vật, nhưng trong tư tưởng thì duy tâm tuy không hệ thống như
Descartes (Pasteur [10], Eddington [11], v. v ). Đó là tình trạng khá phổ biến
của những bác học tư sản hiện tại, đặc biệt ở Anh Mỹ.
Ý nghĩa hệ thống
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx 1 - Hoài nghi kiến thức kinh nghiệm và kiến thức lý luận (hoài nghi 2 bước)
Trong kinh nghiệm chúng ta có sai lầm, nhưng chỉ sai lầm chi tiết thôi; nhưng
trên lập trường tư tưởng, tư sản nắm máy móc và lấy máy móc làm tuyệt đối thì
kinh nghiệm không vững nữa, chỉ có sự suy luận máy móc là tuyệt đối, chỉ có sự
biến chuyển của tiền vốn theo một quy luật máy móc là tuyệt đối. Tư sản nắm
được điểm ấy mà phải phủ định điểm kia: vật chất. Vì vật chất là do người lao
động và họ nắm vững. Cái có đối với tư bản là sự tính toán lời lãi của hắn chứ
không phải sức sáng tạo của công nhân, và sự tính toán ấy là hợp lý và công lý
nữa.
đối tượng cụ thể của toán lý. Ông đại biểu cho nhược điểm giai cấp tư sản Pháp
với phương thức đấu tranh không triệt để của nó trong thế kỷ XVII - liên kết chặt
duy tâm - duy vật (lập trường), nhưng về phần nội dung tư tưởng cũng đại biểu
cho công trình xây dựng của tư sản Pháp và Âu Tây nói chung trong thời tiến bộ
của nó (nội dung đấu tranh triệt để chống giáo hội, phong kiến; đối tượng của
toán lý là vật chất có thể tính toán được chứ không phải cái ta nhằm trong cảm
tính với cái tính chung chung, triệt để gạt bỏ những tính chung chung liên quan
cảm giác và đặt rõ ràng sự tồn tại của vật chất với một nội dung hoàn toàn khoa
học).
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
Phần tiến bộ của Descartes là ở phần nội dung tuy hữu hạn (chưa quan niệm vật
chất trong biến chuyển) nhưng rất chính xác.
Bắt đầu từ Descartes, xuất hiện phát triển tư tưởng tiêu biểu cho tư tưởng tư sản
trong lúc đang lên. Trong Descartes, ta thấy những mặt của tư tưởng tư sản -
chống phong kiến, dựa vào nhân dân (kinh nghiệm và khoa học, duy vật) - có
phần cấu kết phong kiến - yêu cầu xây dựng quân chủ độc đoán bảo đảm quyền
kinh tế (chưa chính trị) - phát triển rõ trong Descartes.
- Khẳng định giá trị khoa học hiện tại (cơ lý máy móc xây dựng một khái niệm
lý tính mới (toán pháp) chống lại khoa học lý tính cũ xây dựng theo tính chất trừu
tượng, sắp xếp theo giống loài) mà nó xây dựng theo đặc tính và quy luật một
cách máy móc của sự vật. Nó giúp hiểu biết một cách chi tiết hơn sự sắp xếp cũ.
Ta thấy trong Descartes quan niệm thế giới có tính chất lý tính đó (cơ học),
nhưng mặt khác ta thấy yếu tố tiêu cực: con người - lý trí xây dựng, khoa học -
tách rời hoàn toàn thế giới vật chất (là linh hồn bất diệt). Yếu tố đó phản ảnh sự
yếu ớt của giai cấp tư sản (mới khẳng định được về phương diện tinh thần) - trở
lại những quan niệm huyền học, tồn tại của Thượng đế và bất diệt của linh hồn.
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx Giai cấp tư sản Anh từ Phục hưng đã có một cơ sở vững chắc để cấu kết với
phong kiến - quá trình tư sản hóa của nông nghiệp Anh (cấu kết trong sự sản xuất
len) - phong kiến tư sản hóa trong sản xuất mục súc, cung cấp lông cừu - và nói
chung phong kiến Anh tư sản hóa trong phương thức nông nghiệp của nó: địa chủ
chia ruộng thành từng khối, tạo cho phú nông, bọn này khai thác theo lối tư sản.
Nó có một sự cấu kết căn bản - vấn đề chính của giai cấp tư sản Anh là dàn xếp
nội bộ, dàn xếp với phong kiến, căn bản là vấn đề chủ quan.
Trái lại, ở lục địa ít có phong trào tư sản hóa nông nghiệp nên phong kiến và tư
sản căn bản đối lập cho tới cách mạng tư sản - tư tưởng tư sản vẫn khẳng định sự
tồn tại của ngoại giới.
Trong những nước tư sản phát triển nhiều, các tư sản từ thế kỷ XVI đã thành
công (Hà Lan) tư tưởng do chuyển lên mạnh - Spinoza là đại biểu. Trái lại. những
nước phong kiến còn mạnh (Pháp và đặc biệt là Đức) phong trào tư tưởng lại
hướng về duy tâm: tìm trong tinh thần một cách biện chính khoa học mới, lý tính
mới xuất phát từ sự phát triển của sức sản xuất tư sản.
A - Hướng huyền học
1 - SPINOZA: Trong lịch sử tư tưởng và lịch sử nói chung, tên của Spinoza tiêu
biểu cho đấu tranh tư tưởng trong triết học cũ. Spinoza là một người rất yếu, sống
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
bao giờ cũng cô độc, ăn uống rất ít để làm ít, thừa thời giờ thỉ xây dựng triết học.
Sống nghề mài kính. Tên ông tiêu biểu cho một đạo đức trí thức đã tìm được
trong đời sống tư tưởng và hoàn toàn tư tưởng, sống hoàn toàn vì lý tính, xây
những tư tưởng cũ: đối lập tinh thần, vật chất. Thượng đế tự nhiên gạt bỏ những
vấn đề của tư tưởng duy tâm cũ (làm sao cứu thế được linh hồn nếu nó khác vật
chất). Spinoza khẳng định chỉ có một thế giới, trong đó căn bản có một thể chất
thôi, không thể có vấn đề gì ngoài tự nhiên, ngoài đời sống thực tế. Nhưng mặt
khác, quan hệ giữa hai bên lại là quan hệ máy móc: hai thuộc tính đó đi với nhau
một cách song song, mọi hiện tượng hoặc trong tinh thần hoặc trong vật thể là
những cách tồn tại của hai thuộc tính đó, và những thể thức đó phát triển song
song với nhau, một tư tưởng là một hiện tượng tinh thần thì song song với nó có
một vận dụng trong cơ thể - trong bộ óc chẳng hạn. Đứng về mặt quan hệ giữa tư
tưởng và thực tại - tinh thần và vật chất - bất cứ một cái gì tồn tại trong thực tại
thì nó đều có một cơ sở của nó. Một tư tưởng đúng hay sai đều có một lý do trong
thực tại làm cơ sờ cho nó và tương đương với nó.
Tư tưởng tức là một thể thức của linh hồn tương đương với một thể thức của vật
chất. Spinoza không quan niệm được vật chất tiến triển tới một mức cao thì thành
tinh thần mà quan niệm một cách máy móc: tồn tại song song, không thấy được
quan hệ đúng giữa tư tưởng và thực tại, không giải quyết được liên quan giữa tinh
thần và cơ thể, tư tưởng và thực tại (tư tưởng với cây - tư tưởng với vận động
trong bộ óc). Spinoza không thấy đến một mức nào đấy mới đặt được vấn đề
quan hệ giữa tư tưởng và thực tại, và nó được xây dựng trên một trình độ tổ chức
nào đấy của cơ thể (đến mức nào đấy mới có và càng phát triển lên nó càng chặt
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
chẽ). Đó là quan điểm máy móc của Spinoza, nhưng phần căn bản là ưu điểm của
ông. Do đó ông đã gây nhiều ảnh hưởng trong lịch sử tư tưởng. Sự thống nhất
giữa tinh thần và vật chất, căn bản nó là một chất, nên những vấn đề tinh thần
cũng phải giải quyết trong thế giới vật chất.
2 - MALEBRANCHE tiếp tục Descartes vào thời đại giai cấp phát triển trên cơ
sở tư sản quân chủ độc đoán đến trình độ cao nhất: Louis XIV. Trong tình cảnh
được nhưng vẫn là mâu thuẫn căn bản, nên trong tinh thần giải pháp vẫn là giải
pháp huyền học, cuối cùng phải gọi đến Thượng đế như trong thực tế cần đến
quyền Vua.
B - Hướng tâm lý ở Anh.
Muốn biết xuất phát điểm của hướng tư tưởng này, ta cần phải xét qua những đặc
điểm của lịch sử nước Anh hồi bấy giờ.
Khác hẳn với các nước lục địa, ở Anh từ thời Phục hưng, giai cấp tư sản đã có cơ
sở để câu kết với giai cấp phong kiến. Đó là quá trình tư sản hóa của kinh tế nông
nghiệp Anh, nên ở cơ sở hai giai cấp đã cấu kết với nhau, đặc biệt trong ngành
sản xuất len dạ. Phong kiến tư sản hóa nghề chăn nuôi. Dần dần bọn đại địa chủ
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
chia ruộng ra từng khoảng lớn cho phú nông khai thác theo phương thức sản xuất.
Do đó, cái thế giới kinh nghiệm căn bản đã có tính chất duy lý (có thể hiểu biết
được cho giai cấp tư sản). Vấn đề là: làm sao từ kinh nghiệm tiến lên khoa học.
- LOCKE nhận định rằng căn bản những hiểu biết của con người ta là phát sinh ở
một quá trình cảm giác kết hợp với nhau, thí dụ cảm giác cái cây do nhiều cảm
giác họp lại mà thành. Các cảm giác được kết hợp đó đã xây dựng cho ta sự hiểu
biết đối tượng. Đồng thời, Locke khẳng định rằng cảm giác xuất phát từ thế giới
khách quan rồi phản ánh vào tinh thần. Hiểu biết đó có giá trị, vì căn cứ vào thế
giới khách quan, nhưng không có giá trị tuyệt đối vì kinh nghiệm hay thay đổi,
cho nên người ta chỉ nắm được phần nào chân lý mà thôi chứ không nắm được
toàn bộ. Tư tưởng đó, xét về mặt chính trị, là yêu cầu xây dựng một chính thể
tương đối có công lý, không thể nào có một quyền tuyệt đối chuyên chế. Phải để
cho nhân dân tự do lựa chọn tôn giáo. Quyền tự do cá nhân mà Locke đòi hỏi
chính là quyền tự do mà giai cấp tư sản đòi hỏi để phát triển phương thức sản
GHI CHÚ
- Có 3 danh từ trong huyền học nói chung và đặc biệt trong thế kỷ XVII: thực thể
(substance), thuộc tính và thể thức.
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
Ba danh từ ấy là sự quan hệ giữa những bộ phận trong mệnh đề. Thực thể là cái
mà về cái ấy tôi nói, thuộc tính là cái mà tôi nói (ví dụ: cái bàn vuông), những cái
mà tôi nói về một thực thể là căn bàn. Nếu dùng thuộc tính để chỉ những cái căn
bản, thì những cái không căn bản tức là thuộc thể thức của vật ấy. Vấn đề đặt ra
trong thế kỷ XVII: thực thể là gì? thuộc tính là gì?
- Đứng về giai cấp phong kiến (về hình thức vẫn là giai cấp thống trị), tinh thần là
thực thể, vật thể chỉ là ngoại diện - gắn liền với quyền lợi giai cấp. Quyền bóc lột
của phong kiến dựa trên một hệ thống biện chính (Thượng đế ban ơn; dân chịu
thống trị vì quyền lợi căn bản con người là tinh thần, chịu nhận là được cứu thế).
Không những nhân sinh quan ấy liên quan với quyền lợi của chế độ phong kiến
mà còn liên quan tới quá trình xây dựng phong kiến nữa (quá trình hình thành của
Gia Tô. Trong các đạo Cổ đại, cứu thế chỉ cho dân tự do, nhưng trong Gia Tô
mọi người đều bình đẳng - được cứu thế - trước Thượng đế, phản ánh sự bình
đẳng hữu hạn và bề ngoài của chế độ phong kiến - chỉ có trong tinh thần thôi).
- Lúc giai cấp tư sản lên, nó xây dựng một thế giới quan mới: thực thể không phải
là linh hồn phụ thuộc Thượng đế mà là thế giới vật chất mà nó có thể tổ chức
được trong phương thức sản xuất của nó (duy lý, tính toán được)
Cuộc đấu tranh giai cấp phản ánh trong tư tưởng ở 2 cách quan niệm định nghĩa
thực thể. Trước thời tư sản, vật chất và linh hồn lẫn lộn không phân biệt. Tới tư
toàn đặt cho thực thể tính chất duy lý. Có bọn phong kiến tham gia, nhưng căn
bàn là tổ chức tư sản. Spinoza đặt thực thể hoàn toàn duy lý, chỉ có một và tính
toán được. Thực tế, ta chỉ tính toán vận động của vật chất trong thời gian và
không gian. Spinoza cho thực thể là toàn bộ tự nhiên và cũng là Thượng đế. Tự
nhiên có nhiều mặt, nhưng trong đó ta quan niệm rõ ràng hai là vật chất và tinh
thần. Những thực thể linh tinh của Descartes (linh hồn cá thể, vật thể cá thể), với
Spinoza là những thể thức không căn bản, nhưng nó theo những quy luật căn bản
của thực thể.
Thực tế nó đi đến đâu? Nó bảo đảm cho một tổ chức duy lý toàn bộ: toàn thể là
một thực thể toán lý - nhân sinh quan tư bản đã thắng, nhưng nó chưa thắng với
danh nghĩa của nó (còn giữ danh từ cũ, còn có Thương đế, thực thể không hoàn
toàn là vật chất).
Ở Đức, tư sản còn yếu, yêu cầu tư sản chỉ là bảo vệ quyền lợi kinh tế, tham gia
hành chính phần nào, chỗ căn bản là phong kiến - thực thể căn bản là tinh thần và
vật chất toán lý chỉ là ngoại diện thôi (các vật thể vô cơ cũng có linh hồn, và đó là
căn bản)
Ở Anh, cuộc đấu tranh giai cấp căn bản cũng phản ánh bằng cuộc đấu tranh duy
vật - duy tâm, nhưng nó lại theo hình thức tâm lý. Không đặt ra thực thể là gì, mà
đặt chúng ta hiểu biết thực thể thế nào? Toàn thể triết học bên Anh bấy giờ (cả
hai bên) đều công nhận chúng ta hiểu biết bằng kinh nghiệm, lý tính xây dựng
bằng kinh nghiệm (trái với truyền thống đem lý tính mâu thuẫn kinh nghiệm như
ở Âu châu lục địa). Điểm khác nhau hai bên là cho kinh nghiệm xuất phát từ vật
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
chất, hay cho kinh nghiệm chỉ là cảm giác, chỉ là trạng thái chủ quan (nó đã đưa
kinh nghiệm từ khách quan về chủ quan, và để giải thích hệ thống, sự tổ chức của
- Tuy triết học tư sản Âu Tây có tính chất trừu tượng (hơn Cổ đại), nhưng tính
chất giai cấp bộc lộ một cách rõ rệt, đi hẳn vào chi tiết và có thể nói nó có ý thức
(cao hơn Cổ đại). Ta kiểm tra rõ ràng quy luật phát triển của tư tưởng xuất phát
từ cơ sở xã hội, đấu tranh giai cấp, ta nắm tính chất tiến bộ của duy vật và tính
chất phản động của duy tâm. Quy luật chủ đạo của duy tâm là khi thất bại trên
một cơ sở nào đấy thì chuyển sang một cơ sở khác (cụ thể, ở Anh tư tưởng tôn
giáo thua trên thần học - chuyển sang kinh nghiệm chủ nghĩa). Ở Pháp với
Descartes: tư tưởng tôn giáo thua trên cơ sở thần học thì chuyển sang huyền học,
dựa hẳn vào toán lý, đặt Thượng đế làm bảo đảm tuyệt đối của khoa học toán lý.
Nhưng ta cũng thấy vì sao tư tưởng tôn giáo có thể lợi dụng được những cơ sở
mới - căn bản do ở tình hình đấu tranh giai cấp, tình hình mà giai cấp phong kiến
còn giữ được trong hệ thống mới. Tính chất bất lực của tư sản mới tương ứng với
những nhược điểm trong tư tưởng - tính chất máy móc - đặt một hệ thống duy lý
nhưng hệ thống có tính chất máy móc (vật chất và Thượng đế ngang bằng vận
động trong không gian và thời gian, không thấy khả năng phát triển của vật chất
lên những bậc cao hơn nên không hiểu được các hiện tượng cao). Khuyết điểm
của tư tưởng tư sản mở lối cho tư tưởng duy tâm trở lại. Nhưng thực tế có trở lại
hay không thì tùy tình hình đấu tranh giai cấp.
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx
Thế kỷ XVIII có lợi cho tư sản Pháp hơn, nên truyền thống Descartes hướng về
duy vật, nhưng sau cách mạng 1789 lại hướng về duy tâm, và lấy danh nghĩa
Descartes là công cụ để tái lập tư tưởng duy tâm: một khi công nhận khoa học
mới, vẫn phải khẳng định bất diệt của linh hồn và tồn tại của Thượng đế. Hướng
này kết hợp với Berkeley theo một truyền thống trong tư tưởng tư sản sau thời kỳ
cách mạng của nó. Cả cố gắng của tư tưởng tư bản sau cách mạng là một cố gắng
chứng minh khoa học đúng, nhưng sở dĩ đúng vì tinh thần xây dựng nó nên, và
cái bảo đảm tinh thần xây dựng của tư tưởng tư sản là Thượng đế. Nó lấy cả
những yếu tố tiến bộ cũ (Descartes) để củng cố hướng ấy. Chúng ta học