chiến lược kinh doanh và phương thức gia nhập thị trường quốc tế của toyota - Pdf 19

MỤC LỤC
2
PHỤ LỤC BẢNG BIỂU
Hình 3.1: Sơ đồ phân bố các nhà máy sản xuất và lắp ráp
Bảng 3.1: Phân bố nhà máy sản xuất của tập đoàn trên thế giới
Bảng 3.2: Tình hình lượng sản xuất và lượng bán ra tại thì trường Châu Âu
Hình 3.2: Biểu đồ lượng sản xuất và lượng bán của thị trường Châu Âu
Bảng 3.3: Tình hình lượng sản xuất và lượng bán ra tại thì trường Bắc Mỹ
Hình 3.3: Biểu đồ lượng sản xuất và lượng bán của thị trường Canada
Hình 3.4: Biểu đồ lượng sản xuất và lượng bán của thị trường USA
Hình 3.5: Biểu đồ số dặm đi được trên một gallon xăng của xe hơi tại Mỹ
Hình 3.6: Biểu đồ lượng xăng trung bình sử dụng cho xe hơi tại Canada
Hình 3.8: Biểu đồ lượng sản xuất và lượng bán của thị trường Ấn Độ
Bảng 3.4: Tình hình lượng sản xuất và lượng bán ra tại thì trường
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trên thực tiễn hoạt động kinh doanh quốc tế, ta có thể thấy nhiều ví dụ về việc
doanh nghiệp mở rộng kinh doanh sản phẩm trên thị trường toàn cầu. Mặc dù sản
phẩm đã được sản xuất và bán trong thị trường nội địa nhưng hang vẫn định hướng
bán sản phẩm ra thị trường toàn cầu. Những công ty ôtô như Toyota cũng nghiên cứu
và phát triển các sản phẩm từ trong nước và bán sản phẩm trên thị trường toàn cầu.
Hiệu quả và lợi ích từ chiến lược này sẽ cao hơn nhiều nếu các đối thủ cạnh tranh trên
thị trường nước sở tại chưa phát triển được sản phẩm tương ứng để tham gia cạnh
tranh. Chính vì vậy mà hãng Toyota đã tăng trưởng được lợi nhuận của daonh nghiệp
do thâm nhập vào thị trường ôtô rộng lớn của khu vực Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á và
bán các sản phẩm khác biệt, có đặc điểm và chất lượng nổi trội hơn so với các đối thủ
cạnh tranh trên hai thị trường này, đó là hãng Ford và General Motors.
Sự thành công của doanh nghiệp khi mở rộng thị trường không chỉ nhờ vào
sản phẩm mà doanh nghiệp bán ra trên thị trường nước ngoài mà còn bởi năng lực cốt
lõi của doanh nghiệp trong việc tạo phát triển, sản xuất và marketing sản phẩm đó. Do
năng lực cốt lõi là nguồn gốc năng lực cạnh tranh cảu doanh nghiệp nên việc mở rộng

đừng như chú thỏ;
- Xây dựng thói quen biết dừng lại để giải quyết trục trặc, đạt chất lượng
tốt ngay từ đầu;
- Chuẩn hoá các nghiệp vụ là nền tảng của cải tiến liên tục và giao quyền
cho nhân viên;
- Quản lý trực quan để không có trục trặc nào bị che khuất;
- Chỉ áp dụng các công nghệ tin cậy, đã được kiểm chứng toàn diện để
phục vụ cho quy trình và con người của công ty;
- Phát triển những nhà lãnh đạo, người hiểu thấu đáo công việc, sống
cùng triết lý và truyền đạt lại cho người khác;
- Phát triển các cá nhân và tập thể xuất sắc có thể tuân thủ triết lý của
công ty;
- Tôn trọng mạng lưới đối tác và các nhà cung cấp bằng cách thử thách
họ và giúp họ cải tiến;
- Đích thân đi đến và xem xét hiện trường để hiểu tường tận tình hình;
- Ra quyết định không vội vã thông qua sự đồng thuận và xem xét kỹ
lưỡng mọi khả năng, rồi nhanh chóng thực hiện;
- Trở thành một tổ chức biết học hỏi bằng việc không ngừng tự phê bình
và cải tiến liên tục.
6
2. Lịch sử phát triển
2.1. Giới thiệu chung về Toyota
- Tên công ty: Toyota Motor Coporation
(tên viết tắt: TMC; tên trong tiếng Nhật: Toyota Jidosha Kabushiki-gaisha)
- Loại hình: Công ty cổ phần
- Lĩnh vực: Ô tô, Rô-bốt, Dịch vụ tài chính và Công nghệ sinh học.
- Ngày thành lập: 28/08/1937
- Người sáng lập: Kiichiro Toyoda
- Trụ sở:
Trụ sở chính: 1 Toyota-Cho, Toyota, Nhật Bản;

công ty Platt Brothers để lấy 100.000 bảng Anh. Với số tiền này ông đầu tư vào việc
chế tạo và sản xuất ôtô. Công ty Toyota Motor được thành lập vào tháng 9 năm 1933,
dưới hình thức là một bộ phận của Toyoda Automatic Loom, chuyên sản xuất ô tô,
dưới sự điều hành của con trai Kiichiro, người sáng lập Toyoda.
Không lâu sau đó, vào năm 1934, bộ phận này đã sản xuất ra động cơ loại A
đầu tiên, động cơ này sau đó được sử dụng để sản xuất mẫu xe hơi A1 vào tháng
5/1935 và mẫu xe tải G11 vào tháng 8/1935. Mẫu xe hơi AA được bắt đầu sản xuất
vào năm 1936. Những dòng xe đầu tiên này có đặc tính nổi bật giống với dòng Dodge
Power Wagon và Chevrolet, với những bộ phận được thay đổi so với phiên bản Mỹ
của chúng.
Mặc dù tập đoàn Toyota ngày nay nổi tiếng với dòng xe hơi, tập đoàncòn kinh
doanh ngành dệt và sản xuất những khung cửi tự động và máy may điện, được phân
phối rộng rãi trên toàn thế giới.
Ngày 28 tháng 8 năm 1937 công ty Toyota Motor Corporation chính thức ra
đời, mở ra một kỷ nguyên với những thành công rực rỡ trong ngành công nghiệp ôtô.
Công ty đã đổi từ tên Toyoda thành Toyota để mang đến cho công ty một khởi đầu tốt
đẹp và tách biệt cuộc sống công việc ra khỏi cuộc sống gia đình Toyoda. Cái tên
Toyota dễ phát âm hơn và trong tiếng Nhật chữ Toyota tượng trưng cho số 8, con số
may mắn.
Trong suốt cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, công ty được lựa chọn là nhà
sản xuất xe tải cho quân đội hoàng gia.
8
Sau chiến tranh, Toyota bắt đầu sản xuất những dòng xe hơi thương mại vào
năm 1947 với mẫu SA. Chất lượng và tiêu chuẩn sản xuất của Toyota dựa trên một
chương trình đào tạo của Quân đội Mỹ sau chiến tranh.
Năm 1950 công ty chuyên bán hàng của Toyota Motor được thành lập (công ty
này tồn tại cho đến tháng 7/1982). Tháng 4/1956, kênh bán hàng Toyopet đi vào hoạt
động. Sau đó một năm, Toyota Crown trở thành dòng xe hơi đầu tiên của Nhật xuất
khẩu sang thị trường Mỹ. Toyota bắt đầu mở rộng thị trường với những trung tâm
nghiên cứu và phát triển, văn phòng đại diện công ty được thành lập ở Thái Lan,

Năm 1999, Toyota quyết định niêm yết trên thị trường chứng khoán ở New
York và London.
Trải qua thời gian 70 năm với những biến đổi không ngừng, Toyota vẫn đang
bước trên con đường định mệnh của chính mình, con đường từ số 8 mạnh mẽ đến số
10 hoàn hảo của truyền thống đất nước mặt trời mọc.
2.2.3. Từ năm 2000 tới nay
Thương hiệu Scion được thành lập vào đầu năm 2000 với 3 mẫu xe được phát
triển trên nền chiếc Echo cũ, với 2 loại động cơ – động cơ nhỏ cho phiên bản xA và
xB và động cơ 2.4 lít cho phiên bản thể thao tC. Scion nhanh chóng đạt được doanh
số rất cao ngay khi xuất hiện. Điều này dẫn đến việc giới thiệu rộng rãi Scion trên
toàn nước Mỹ và mặc dù được quảng cáo rất ít nhưng Scion vẫn đạt được những
thành công đáng kể. Mặc dù Scion không thu hút nhiều giới trẻ như Toyota mong đợi,
nhưng nó cũng mang đến một bộ phận khác hàng trẻ để lắp vào chỗ trống trong phân
khúc thị trường do Toyota và Lexus để lại.
Ngoài ra, Toyota còn tham gia vào các hoạt động cộng đồng, tải trợ giáo dục
và các chương trình văn hóa cũng như các nghiên cứu.
Ngày nay, Toyota là nhà sản xuất ôtô lớn thứ 3 thế giới cả về doanh số và
doanh thu. Tại thị trường Mỹ, doanh số của Toyota gấp đôi của Honda và đang qua
mặt tập đoàn Chrysler để trở thành nhà sản xuất có doanh số lớn thứ 3 tại thị trường
này. Doanh số hiện tại của Toyota là 5,5 triệu sản phẩm/năm, tức là mỗi 6 giây lại có
một sản phẩm ra đời.
Cũng cần lưu ý rằng trong khi các nhà sản xuất ô tô của Đức có xe hướng sử
dụng ký tự và số còn các nhà sản xuất xe Mỹ thì bỏ luôn tên thì Toyota vẫn sử dụng
tên cũ của xe khi nó vẫn thành công và không bao giờ đặt tên không phù hợp với xe.
Ví dụ như tên Land Cruiser có từ năm 1950, Corolla năm 1966, Celica năm 1970,
Camry năm 1983 và 4Runner năm 1984. Một số tên xe không còn sử dụng nữa như
Corona (do bị lỗi han rỉ nặng), Cressida (do sự xuất hiện của Lexus), những chiếc
pickup như T100, HiLux và minivan như Van, Previa.
Sự ra đời của GT86 vào năm 2012 cho thấy Toyota quay lại chế tạo những
mẫu xe là đặc trưng của họ từ thập niên 1960 cho tới cuối thế kỷ trước. Dù lấy cảm

1.1. Thị trường công ty Toyota tạiViệt Nam
Là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài về sản xuất ôtô có mặt đầu tiên tại Việt Nam
vào năm 1995, Toyota đã trải qua sự phát triển vượt bậc trong hoạt động sản xuất của
TMV, từ chỗ chỉ sản xuất được 2 xe/ngày trong năm đầu tiên (1996), đến năm 2009
chỉ số này đã đạt con số ấn tượng 140 xe/ngày. Quy mô từ 212 xe khi nhà máy bắt
đầu hoạt động đã nhảy vọt lên 30.000 xe vào năm 2009 . Tăng sản lượng đồng hành
với đa dạng hoá sản phẩm. Từ chỗ chỉ có 2 mẫu xe CKD là Hiace và Corrola vào năm
1996, đến năm 2009, TMV đã cung cấp cho thị trường 6 mẫu xe (Camry, Corrola
Altis, Vios, Innova, Fortuner và Hiace) với 17 chủng loại khác nhau.
Trong năm 2009, về doanh số bán, TMV đã trao sản phẩm đến 30.109
kháchhàng, chiếm 25% thị phần trong thị trường ô tô và đạt mức tăng trưởng 23% so
với năm 2008, nâng tổng số xe bán cộng dồn lên tới con số trên 145.000 xe. Bên cạnh
đó, với trên 515.000 lượt xe vào làm dịch vụ tại các trạm bảo dưỡng và sửa chữa,
TMV cũng đạt mức tăng trưởng về dịch vụ 18%.
Góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam thì không chỉ
quanh quẩn ở thị trường nội địa mà phải có sản phẩm xuất khẩu. TMV đã tiên phong
đưa Trung tâm Xuất khẩu phụ tùng ô tô đầu tiên tại VN đi vào hoạt động từ năm 2004
nhằm xuất khẩu phụ tùng với kim ngạch bình quân 20 triệu USD/năm, nâng tổng kim
ngạch xuất khẩu từ năm 2004 - 2009 đạt trên 110 triệu USD. Dự kiến chỉ số này sẽ
tăng 25 triệu USD trong năm 2011 và khoảng 30 triệu USD những năm tiếp theo.
Toyota Việt Nam luôn dẫn đầu thị trường về lượng xe bán ra. Năm 2007 là năm
có mức tiêu thụ ô tô tăng kỷ lục. Sự tăng trưởng của thị trường xe hơi không có dấu
hiệu dừng lại khi doanh số của Hiệp hội các nhà sản xuất lắp ráp Việt Nam (VAMA)
tiếp tục lập kỷ lục mới trong tháng 11/2007, 18 thành viên của VAMA bán 10.110 xe,
tăng 167% so với cùng kỳ 2006 và là tháng 5 có doanh số cao nhất trong lịch sử của
hiệp hội này. Tính tổng thể cho các sản phẩm, Toyota dẫn đầu thị trường với 2.190
xe, bỏ khá xa 1.390 chiếc của Trường Hải phía sau. Thành viên mới Vinamotor đứng
12
thứ ba khi bán được 1.335 xe còn Vidamco đứng thứ tư với 1.016 chiếc. Xếp thứ 5
vẫn là một công ty xe thương mại, Vinaxuki (940 xe).

Ngành công nghiệp ô tô là một trong những ngành có sự cạnh tranh cao, sản
phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu, đây là ngành đòi hỏi công nghệ cao. Các doanh
nghiệp cần xác định mục tiêu chiến lược và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình
so với các đối thủ cạnh tranh từ đó đạt được thành công;
13
Mỗi doanh nghiệp cần tạo sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh. Ngành công
nghiệp ô tô đã rất phát triển ở Châu Âu, như sự tồn tại lâu hơn của hãng Ford, công
nghệ sản xuất củaFord có thể có kinh nghiệm hơn của Toyota, nói đếm Ford người ta
nghĩ đến những mẫu thiết kế đẹp, sang trọng và tiện nghi, nó đánh nhiều vào thị hiếu
người tiêu dùng. Ford đã thu hút hàng triệu khách hàng trung thành nhờ dòng sản
phẩm đa dạng và sáng tạo xứng đáng với giá trị của nó. Chiếm đa số thị phần ở Bắc
Mỹ và ở Mỹ, tập đoàn Ford Motors đang từng bước;
Nhanh chóng mở rộng vị thế củamình trên toàn cầu với thương hiệu Ford;
Đối thủ cạnh tranh lớn nữa của Toyota chính là hãng General Motors, là đối
thủ luôn tranh giành vị thế số 1 với Toyota bởi sản phẩm đa dạng, có nguồn lực tài
chính mạnh. Thị trường lớn nhất của hãng chính là khu vực Bắc & Nam Mỹ và Trung
Quốc. Tuy nhiên, hãng cũng đang cố gắng xâm nhập vào các thị trường tiềm năng
khác như Ấn Độ;
Với dòng xe sang trọng đánh vào khách hàng có thu nhập cao không thể không
kể đến hãng BMW, cạnh tranh với dòng xe lexus của Toyota. Hãng hiện đang nhanh
chóng tìm kiếm các khách hàng mới bằng cách mở các công ty con ở Nam Phi, Ấn
Độ, Mỹ, Trung Quốc, Canada, Áo và Ai Cập;
Hay hãng Honda nổi tiếng với những dòng xe cỡ trung và tiết kiệm nhiên liệu.
Honda là nhà sản xuất động cơ lớn nhất thế giới với số lượng hơn 14 triệu chiếc mỗi
năm. Mặt khác nền tảng của sự thành công của Honda là thu lợi từ sản xuất xe máy.
Sản phẩm của Honda có tính cạnh tranh về giá cao.
1.2.4. Đe dọa từ các sản phẩm dịch vụ thay thế
Những tiện ích lớn lao mà ngành ô tô mang lại đã đem đến sự phát triển vượt
bậc trong ngành này đồng thời đem lại nguồn lợi khổng lồ cho các chủ doanh nghiệp.
tại Việt Nam thì thị trường này ngày càng phát triển do nhu cầu khá lớn. xong ở các

xuất ô tô hàng đầu thế giới đều có mặt tại Việt Nam, thậm chí khi mà thị trường hiện
nay vẫn còn nhỏ bé.
Hiện nay, thị trương ô tô Việt Nam đang tồn tại rất nhiều nhà sản xuất danh
tiếng cùng với những dòng xe chất lượng cao như: Ford, Honda, Chevrolet,
Mercedes, BMW, Volvo, Cadillac, Lexus, Tesla… Mặc dù các công ty chịu sự ảnh
hưởng không nhỏ bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu song với các gói kích cầu
của chính phủ cùng chính sách hấp dẫn của nhà sản xuất làm cho thị trường ô tô
không kém phần sôi động và hấp dẫn.
(2) Sức ép đáp ứng nhu cầu khách hàng
Mỗi khu vực, mỗi quốc gia đều có bản sắc, văn hóa… khác nhau do đóa nhu
cầu của họ cũng khác nhau. Đặc biệt đối với thị trường ô tô nhu cầu của khách hàng
lại càng đa dạng. Nó được quyết định bởi nhiều yếu tố như: sở thích, cá tính, thói
quen…
15
Từ những sức ép đó Toyota đã đưa ra và áp dụng rất nhiều chiến lược nhằm
đáp ứng nhu cầu khách hàng. Sau đây chúng em xin đưa ra một số chiến lược trọng
tâm của Toyota.
2.1. Chiến lược nội địa hóa
2.1.1. Lợi thế
Lợi thế về quy mô là lợi thế lớn nhất của Toyota tại thị trường Việt Nam. Xuất
hiện tại Việt Nam từ năm 1996 và luôn chiếm thị phần cao nhất trong tất cả các hãng
xe có mặt tại Việt Nam. Cùng với quá trình hội nhập sâu và nhanh hơn vào thị trường
Việt Nam, Toyota càng ngày càng khẳng định vị thế của mình trên thị trường Việt
Nam;
Đặc tính của các loại xe Toyota là chất lượng, bền và tiết kiệm nhiên liệu rất
phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng Việt Nam, điều kiện kinh tế còn
nghèo nàn, lạc hậu của Việt Nam nên mau chóng được người tiêu dùng ưa chuộng sử
dụng;
Tỷ lệ nội địa hóa cao sẽ giúp Toyota giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản
phẩm và tăng khả năng cạnh tranh cho Toyota trong thị trường ô tô cạnh tranh khốc

tỷ lệ nội địa hóa. Với số vốn đầu tư ban đầu trên 49 triệu USD công ty đã đầu tư xây
dựng dây chuyền sản xuất lắp ráp hiện đại với 3 trong tổng số 4 công đoạn chính
trong quy trình sản xuất một chiếc xe hơi hoàn thiện đó là Hàn, Sơn và Lắp Ráp.
Tháng 3 năm 2003, với việc đưa Xưởng Dập chi tiết thân xe vào hoạt động, TMV đã
chính thức hoàn tất cả 4 công đoạn trong quy trình sản xuất xe;
Hoạt động của xưởng Dập
Bên cạnh đó, TMV còn thực hiện sản xuất, chế tạo nhiều linh kiện, phụ tùng
khác ngay tại nhà máy như: Khung xe, Ống dầu, Ống xả… Hiện tại công ty vẫn
không ngừng nghiên cứu để đưa thêm nhiều chủng loại chi tiết vào sản xuất chế tạo
ngay tại nhà máy TMV, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa của công ty và góp phần
vào sự phát triển chung của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam;
Để tăng cường khả năng cạnh tranh, năm 2004, Công ty Toyota Việt Nam đã
đầu tư dây chuyền sản xuất 15.000 xe/năm. Năm 2008, Công ty Toyota Việt Nam tiếp
tục đầu tư xưởng sản xuất khung gầm xe Innova với công suất 21.000 khung xe/năm;
Đầu tháng 4/2009, TMV đã thành lập và chính thức đưa vào hoạt động Trung
tâm nội địa hóa, trụ sở chính tại tỉnh Vĩnh Phúc, trưng bày nhiều chủng loại linh kiện,
phụ tùng ôtô có tiềm năng đang được TMV và các nhà cung cấp nghiên cứu thực
hiện;
17
Đến năm 2011, mức nội địa hóa của Toyota cho tất cả các dòng xe đã lên tới
253 chi tiết sản phẩm. Ông Yoshihisa Maruta, Tổng giám đốc công ty Toyota, cho
rằng, trong bối cảnh thị trường nhỏ, khó thu hút đầu tư của các nhà cung cấp chính
thống, công nghiệp phụ trợ trong nước hầu như chưa có, trong khi yêu cầu phải sản
xuất tối thiểu 1.000 xe/tháng, Toyota đã đồng thời đầu tư nâng năng lực sản xuất, lắp
ráp với việc đầu tư sản xuất phụ tùng ngay tại nhà máy;
Đối với tiêu chuẩn khí thải, công ty áp dụng mức tiêu chuẩn Euro 2 đối với thị
trường Việt Nam, so với tiêu chuẩn Euro 4 thường được sử dụng trên thị trường các
nước khác. Nguyên nhân của điều này là bởi công nghệ ô tô của Việt Nam còn lạc
hậu, hệ thống bảo dưỡng định kì quá sơ sài, nền kinh tế còn kém phát triển và điều
kiện nguồn nguyên liệu đầu vào cho xe sử dụng ở Việt Nam;

hiệu phục vụ “Khách hàng là trên hết”. Với đối tác, công ty luôn cam kết hoàn
thành tốt trọng trách là người cầm lái để cùng nhau phát triển;
+ Với nhân viên, công ty luôn ghi nhận và tôn vinh những nỗ lực và cống hiến
của mỗi cá nhân trong thành công của mình. Chính quan điểm kinh doanh
mang tính nhân văn đã tạo nên ý thức trách nhiệm hàng đầu trong mọi hoạt
động hàng ngày của Công ty để luôn xứng đáng là công dân tốt trong cộng
đồng Việt Nam với 3 mục tiêu trọng tâm phải đạt, đó là: Làm hài lòng khách
hàng; Đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô nước
nhà; và đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội và cộng đồng.
Để có được thành công đó, công ty đã thực hiện rất nhiều chiến lược song
không thể không kể đến chiến lược marketing vô cùng hiệu quả nhờ việc thực hiện
theo đúng tiến trình marketing: Phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, và
định vị thị trường.
2.2.1. Phân đoạn thị trường
Công ty phân đoạn thị trường theo 2 cơ sở chính:
(1) Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học: công ty đã phân chia khách hàng
thành các nhóm căn cứ vào giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thu nhập…
(2) Phân đoạn theo tâm lý học: công ty đã tiến hành phân chia thị trường thành
các nhóm khách hàng căn cứ vào vị trí xã hội, lối sống và nhân cách của họ.
19
2.2.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu
Sau khi phân đoạn thị trường công ty đã lựa chọn thị trường mục tiêu là nhóm
khách hàng thuộc độ tuổi từ 25-45 và có thu nhập ở mức trung bình, thu nhập cao.
2.2.3. Định vị thị trường
Tạo hình ảnh cho sản phẩm, thương hiệu trong tâm trí khách hàng;
Hình ảnh trong tâm trí khách hàng là sự kết hợp giữa nhận thức và đánh giá
của khách hàng về doanh nghiệp và các sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng. Nó là
một tập hợp các ấn tượng, cảm giác và khái niệm khách hàng có được về sản phẩm và
thương hiệu đó;
Hoạt động tạo hình ảnh của Toyota:

Nhằm tiếp tục cải tiến độ tin cậy và độ bền, tạp sự tiện nghi và an toàn cho chiếc
xe với giá thấp và tiết kiệm nhiện liệu, Toyota đã thực hiện dự án Xe đa dụng toàn
cầu (IMV). Dự án này đề ra mục tiêu mang đến cho khách hàng những có giá trị tốt
nhất cho số tiền họ phải trả. Để làm điều này, Toyota đã xem xét lại tất cả hệ thống
mua hàng, với quan điểm những cơ sở nào có khả năng cung cấp linh kiện và tài
nguyên mà thỏa mãn tiêu chuẩn chất lượng của Toyota để lựa chọn. Toyota cũng phải
xem xét cân đối tốt nhất giữa việc mua linh kiện và yêu cầu nội địa hóa của Việt
Nam.
Tại Việt Nam, sản phẩm đầu tiên của dự án IMV được giới thiệu là Innova vào
tháng 1 năm 2006. Và kể từ khi ra mắt, Innova đã đạt được những thành công vang
dội nhờ sự tiện ích, chất lượng hoàn hảo, giá cả cạnh tranh và giá trị bán lại cao.
Innova đã nhanh chóng trở thàn một chiếc xe phổ biến và được biết đến là chiếc xe
cho mọi gia đình, chiếm giữ vị trí là: “chiếc xe bán chạy nhất” trên thị trường ô tô với
doanh số bán cộng dồn đạt kỷ lục chưa từng có trên 60.000 xe, chiếm thị phần trung
bình 64% trong phân khúc xe đa dụng trên thị trường (tính tới hết tháng 3 năm 2012).
Tiếp nối thành công của Innova, vào tháng 2/2009, Fortuner – mẫu xe thứ 2
trong dự án IMV được chính thức sản xuất tại Việt Nam. Ngay sau đó Fortuner cũng
luôn đứng đầu trong phân khúc xe thể thao đa dụng hạng trung tại Việt Nam với thị
phần ổn định ở mức 50,7% và doanh số cộng dồn lên tới gần 20.000 xe trong vòng 3
năm.
22
- Khác biệt về dịch vụ
+ Dịch vụ sau bán hàng:
Không chỉ sản xuất và bán hàng, TM còn tổ chức cả một mạng lưới hệ thống
dịch vụ hậu mãi khá hoàn hảo trong cả nước và một lần nữa lên tiếng thách thức các
đối thủ cạnh tranh. Đã có 290 lượt xe ô tô sử dụng dịch vụ này, tăng 18% so với năm
trước. Dù không thể hiện doanh số, nhưng đây cũng là những con số đáng được phân
tích để tìm ra nguyên nhân tăng trưởng của TMV thời gian qua.
Tự hào là doanh nghiệp đứng vị trí dẫn đầu trên thị trường về dịch vụ sau bán
hàng trong nhiều năm liên tiếp và được khách hàng đánh giá cao trong việc luôn tiên

Người cố vấn dịch vụ, và (4) Việc khởi đầu dịch vụ. Sự hài lòng của khách hàng được
ghi nhận bằng một chỉ số dựa trên thang điểm 1.000. Trong số 7 nhãn hiệu được xếp
loại trong nghiên cứu này, Toyota xếp hạng cao nhất về sự hài lòng chung với điểm
số 843. Toyota thể hiện đặc biệt tốt trong các yếu tố về chất lượng dịch vụ, người cố
vấn dịch vụ, khởi đầu dịch vụ và cơ sở vật chất của đại lý.
+ Dịch vụ tiếp thị, tư vấn và chăm sóc khách hàng:
Công ty Toyota luôn coi việc tiếp thị, tư vấn và chăm sóc khách hàng là một
trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, Toyota cũng luôn là người đi đầu trong các chương trình hướng tới khách
hàng như: tìm hiểu ý kiến khách hàng, câu lạc bộ Toyota, lái xe thử,…
Truyền thông marketing
Công ty đã phối hợp hài hòa 5 công cụ truyền thông đó là quảng cáo, quan hệ
cộng đồng, khuyến mại, bán hàng cá nhân, marketing trực tiếp song sự thành công
lớn nhất của Toyota trong hoạt động truyền thong đó là hoạt động quan hệ cộng đồng:
Hoạt động bảo vệ môi trường: cùng chung tay hướng tới mục tiêu phát triển
hài hòa và bền vững tại khắp các khu vực mà Toyota kinh doanh, Toyota Việt Nam
luôn phấn đấu trở thành một “doanh nghiệp xanh” ngay từ ngày đầu mới thành lập.
Không chỉ nỗ lực giảm thiểu tối đa tác hại đến môi trường, đầu tư nghiên cứu ứng
dụng công nghệ than thiện với môi trường tại nhà máy, công ty còn hỗ trợ đại lý và
các nhà cung cấp thực hiện hoạt động bảo vệ và cải thiện môi trường để hoàn thiện
một “chu kỳ xanh khép kín” . Bên cạnh đó chương trình lớn về bảo vệ môi trường với
nhiều hoạt động thiết thực có ý nghĩa của Toyota mang tên Go Green - hành trình
xanh đã nhận được sự đánh giá cao và sự hưởng ứng mạnh mẽ của xã hội đặc biệt là
giới trẻ;
Hoạt động hỗ trợ và chia sẻ cộng đồng: song song với mục tiêu kinh doanh,
công ty đã có những đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội. Công ty đã chia sẻ
thành công và tình cảm đối với đát nước và con người Việt nam đồng thời đã và đang
thực hiện rất nhiều hoạt động lớn và ý nghĩa đóng góp xã hội lớn lao như: văn hóa,
24
giáo dục, bảo vệ môi trường… đặc biệt công ty rất coi trọng yếu tố con người và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status