Quá trình hình thành giáo trình phân tích hợp tác thương mại Việt Nam và liên minh Châu Âu trong ngành dệt may p2 - Pdf 19



CHƯƠNG 3
CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – EU
TRONG LĨNH VỰC DỆT – MAY

3.1. Định hướng của ngành dềt may Việt Nam
.
Phát triển ngành dệt may ngang tầm nhiệm vụ một ngành công
nghiệp chủ lực và sánh ngang trình độ phát triển của ngành dệt may
các nước trong khu vực và phát triển trên thế giới , ngành dệt may đã
xây dựng một quy hoạch phát triển đến năm 2010 . Trong đó mục tiêu
và những định hướng được xác định cụ thể như sau :
- Năm 2000 sản xuất được 800 triệu mét vải lụa thành phẩm kim
ngạch đạt khoảng 2 tỷ USD và tạo việc làm cho khoảng 1 triệu lao
động .
- Năm 2010 sản xuất được 2 tỷ mét vải tụa thành phẩm , kim ngạch
xuất khẩu đạt 4 tỷ USD và tạo việc làm cho khoảng 1,8 triệu lao
động .
- Các sản phẩm chủ yếu của ngành dệt may sẽ là hàng sợi bông
chiếm 40% vải P/C chiếm 30% vải sợi tổng hợp chiếm 30% . Các
sản phẩm của ngành dệt may là sản phẩm ở khâu cuối cùng chứ
không phải là sản phẩm gia công ở khâu trung gian . Quần áo may
sẵn và hàng dệt kim được tăng lên với tỷ lệ thích đáng .


(tr
USD)
Tăng số
với
1995
(%)
Kim
nghạch
(tr
USD)
Tăng số
với
1995
(%)
Kim
nghạch
Xuất
khẩu 7502000

166. 673. 000



Chỉ tiêu Hiệ
n
199
5
Số
lượng

Tăng số
v
ới
1995
Số
lượng
Tăng số
với
2000
Số
lượng
Tăng số
với
2005
Sản
phẩm
Xuất
khẩu

160

600 1530 2230 3060
3. Bông tấm Triệu m
2
31 58,2 69,8 105
4. Mếch Triệu m
2
16,4 29,4 35,7 55,2
5. Cúc đính Triệu chiếc

1528 2582 3387 5237
6. Cúc đập Triệu bộ 134,5 310 357.3 587
7. Khoá kéo Triệu m 70 125,5 145,5 224

Nguồn ( a, b, c ) Dự án quy hoạch tổng thể phát triển ngành công
nghiệp
dệt may đến năm 2010 . Tổng công ty dệt may Việt Nam .
Để đạt được mục tiêu ngành dệt may cần phải phấn đấu :
Thứ nhất : Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành dệt
may phải đạt 10% và giải quyết các nhu cầu về nguyên liệu dự kiến :
Bông thiên nhiên 340.000 tấn , xơ PE là 90 nghìn tấn , sợi PETEX
hơn 1000 tấn . trong đó ngành dệt phảI phấn đấu sản xuất 50% sản
lượng bông thiên nhiên và 10% xơ PE.
Thứ hai : Đến năm 2010 toàn ngành dệt may sẽ phải cần tới 4,8 tỷ
USD để đầu tư cho các dự án mới . Trong đó khoảng 3,8 tỷ USD sẽ
được đầu tư cho thiết bị và khoảng 1 tỷ đầu tư cho xây dựng , phần
đầu tư cho thiết bị ngành dệt sẽ là 3,41 tỷ USD và ngành dệt may là
390 triệu USD.
Đầu tư vào ngành dệt may sẽ được thực hiện theo ba giai đoạn .
trước năm 2000 phảI đầu tư 668 triệu USD từ năm 2000 đến 2005 đầu

khẩu và thoả thuận xem xét cách thức biện pháp nhằm loại bỏ hàng
rào thương mại giữa hai bên, đặc biệt là hàng rào phi thuế quan …”
hai bên đã có rất nhiều cuộc gặp gỡ trao đổi nhằm thúc đẩy thương
mại ngành dệt may
Dựa trên sự phân tích thực trạng thương mại với EU trong lĩnh vực
dệt may và Hiệp định dệt may Viềt Nam – EU giai đoạn 1998- 2000 ,
hoạt động buôn bán hàng dệt may với EU trong thời gian tới sẽ được
tăng cường theo các hướng sau :
- Mục tiêu cơ bản của ngành dệt may Việt Nam đối với thị trường
EU vẫn là : phấn đấu nâng cao sản phẩm cải tiến mẫu mã đáp ứng
được đúng thị hiếu cuẩ người tiêu dùng tạo uy tín để chiếm lĩnh thị
trường EU tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu , hạn chế việc khai
thác sản phảm bằng hình thức gia công thuần tuý , gia tăng hình
thức mua nguyên vật liệu và bán thành phẩm .
- Việc xuất khẩu vào EU những sản phẩm liệt kê tại phụ lục II(Hiệp
định dệt may Việt Nam –EU giai đoạn 1998 – 2000) được tăng
cường , nhưng phải được hạn chế tốt số lượng đươc EU ấn định
cho hàng năm . Trong việc phân bố quota xuất khẩu vào EU , các
cơ quan hữu quan của Việt Nam sẽ không phân biệt đối xử với các
công ty do các nhà đầu tư EU sở hữu một phần hay toàn bộ đang
hoạt động tại Việt Nam .
- Việc quản lý hạn ngạch xuất khẩu sang thị trường EU có những
điểm khác biệt so với các năm trước . Tổng lượng hạn ngạch do
EU ấn định sẽ được chia làm 3 phần được phân bố cho các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng dệt may sang EU làm bằng vải sản xuất
trong nước , phần còn lại sẽ cho đấu thầu nhằm giảm cơ chế xin
cho và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự vận động trong cơ
chế thị trường .
- Trong trường hợp cần thiết , Liên bộ Thương mại và Bộ công
nghiệp sẽ sử dụng trước một phần quota của năm kế tiếp ấn định

3.3.1.Tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại :

Trong các thể chế của Liên minh Châu Âu, Uỷ ban Châu Âu l
à cơ
quan phụ trách kinh tế đối ngoại . Chính vì thế muốn mở rộng quan hệ
với Eu nói chung và trong lĩnh vực dệt may nói riêng, chúng ta cần
tăng cường quan hệ với Uỷ ban Châu Âu. Mặt khác, để hoà nhập vào
thị trường EU, đIều quan trọng là chúng ta cần phảI xác định được
“cầu nối” trong quan hệ với EU. Trong tất cả các mối quan hệ giữa
chúng ta với các quốc gia thành viên của EU thì mối quan hệ Việt-
Pháp là lâu dàI và sâu sắc nhất. Với những tiềm năng kinh tế và ảnh
hưởng của Pháp trên thị trường quốc tế, thực sự là “cầu nối” Việt Nam
và EU. Pháp có ảnh hưởng lớn lạI nằm trong nhiều khối liên minh, vì
vậy, chúng ta cần có các mối quan hệ Việt- Pháp ngày càng có hiệu
quả hơn. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phảI có những chính sách riêng
đối với Pháp.
Một cầu nối khác không kém phần quan trọng là thông qua
ASEAN. Với tư cách là một thành viên đầy đủ ASEAN, chúng ta cần
khai thác những lợi ích của các phương tiện và các hoạt động hợp tác
trong khuôn khổ hợp tác EU-ASEAN. NgoàI ra, để hàng dệt may Việt
Nam có đủ sức cành tranh với các đối thủ khác thị trường EU, Việt
Nam cần xúc tiến mạnh mẽ việc gia nhập WTO, đặc biệt là khi Hiệp
định đa sợi đã được thay thế bằng Hiệp định về hàng dệt may. Để thấy
được sự cần thiết của việc gia nhập WTO đối với hoạt động xuất khẩu
hàng dệt may sang thị trường EU.
Theo MFA, các nước nhập khẩu có thể thông qua các thoả thuận
song phương hoặc trong trường hợp không đI đến thoả thuận song
phương có thể đơn phương thiết lập hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt
may đối với từng nước xuất khẩu và mức tăng của hạn ngạch thay đổi
tuỳ theo mỗi nước. Như vậy, MFA đIều tiết buôn bán hàng dệt may


3.3.2. CảI cách hệ thống để đẩy mạnh xuất khẩu.

Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu vừa qua
của Nhà nước đã tạo ra một môI trường bình đẳng giữa các doanh
nghiệp. Thuế doanh thu đánh trùng lặp nhiều lần đối với giá trị sản
phẩm. Ví dụ, doanh nghiệp may phảI chịu thuế doanh thu trên giá trị
mà doanh nghiệp phảI từ doanh nghiệp khác để sản xuất, trong khi đó,
phân xưởng may của một doanh nghiệp dệt dùng vảI của doanh nghiệp
mình thì không phảI tính thuế. Do đó, nhiều doanh nghiệp dệt đã mở
thêm phân xưởng may ngoàI mục đích tạo công ăn việc làm cho công
nhân còn vì lí do tránh bị đánh thuế trùng lặp như doanh nghiệp may.
Vì vậy chi phí sản phẩm may mặc của doanh nghiệp may cao hơn phân
xưởng may của doanh nghiệp dệt, gây ra tình trạng cạnh tranh không
bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Khi áp dụng thuế giá trị gia tăng thì
khắc phục được đIều này, chi phí sản xuất của các doanh nghiệp sẽ
giảm do nỗ lực của từng doanh nghiệp chứ không phảI do cơ chế tính
thuế.
Tuy nhiên chính sách thuế đối với sản phẩm dệt may của chúng ta
cũng còn rất nhiều bất cập. Cách đánh thuế vào nguyên liệu là một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trong kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam sang EU, tỉ lệ sản phẩm gia công chiếm
80%. Đối với doanh nghiệp may, nếu dùng vảI nội, phảI bỏ vốn ra để
mua vảI vừa phảI chịu mấy lần tính thuế ( thuế sợi, vảI mộc, vảI thành
phẩm…), còn trong phương pháp gia công, hiện nay doanh nghiệp may
dùng tất cả các nguyên liệu phụ của đối tác EU và không phảI chịu
thuế (tạm nhập, táI xuất).
Trước tình hình đó, nên miễn giảm thuế cho các sản phẩm dùng
nguyên liệu trong nước giảm thuế với vảI sản xuất bằng thiết bị mới…
NgoàI ra cần phảI xem xét lạI thời hạn 90 ngày đối với nhập nguyên

phảI có những biện pháp để thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực này.

3.3.4. Nghiên cứu triển khai và đào tạo nhân lực.

Biện pháp này chú trọng đến các hướng chính sau:
+ Chú trọng công tác đào tạo cán bộ quản lí, kĩ thuật và công nhân
lành nghề. Lập kế hoạch và triển khai việc đào tạo lạI và cập nhập
thông tin cho các cán bộ chủ chốt. Có cơ chế gắn kết Viện- Trường-
Doanh nghiệp trong nghiên cứu- đào tạo và triển khai một cách có
hiệu quả.
+ Củng cố Viện mẫu thời trang thành một cộng cụ mạnh và nghiên
cứu ứng dụng phát triển ngành. Trang bị phòng thí nghiệm cho Viện
và phân viện kinh tế- kĩ thuật dệt- may để xin nhà nước bổ sung chức
năng kiểm định quốc gia về hàng dệt may.

3.3.5. Đẩy mạnh phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm.

Như đã trình bày ở những phần trước, kim ngạch xuất khảu hàng dệt
may sang EU trong những năm qua rất khả quan, nhưng phương thức
gia công thuần tuý lạI chiếm một tỉ lệ rất lớn 80% trong kim ngạch
xuất khẩu. Mặc dù trong giai đoạn đầu phương thưvs này đac giảI
quyết một số lượng lao động lớn, giúp doanh nghiệp dệt may Việt
Nam bước đầu tập dượt tìm hiểu về thi trường EU, đưa về cho đất
nước một số lượng ngoạI tệ ít ỏi, nhưng đổi lạI uy tín sản phẩm (giá
cả, sức mua, tâm lí tiêu dùng, sự biến đổi sở thích…) ta không nắm
được. Phương thức này cũng hạn chế sự năng đọng của các doanh
nghiệp dệt may kinh doanh theo kiểu “ ngồi buôn” chứ không phảI
“đI buôn”. Các doanh nghiệp ngồi tạI chỗ chờ khách đến rồi chạy đI
xin hạn ngạch tương đối phổ biến ở các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam.
KẾT LUẬN

Liên minh Châu Âu như đã phân tích là tổ chức duy nhất có mục
tiêu cơ bản và lâu dàI là thống nhất cả một châu lục về cả kinh tế và
chính trị dựa trên các nguyên tắc vừa linh hoạt vừa thực dụng và mang
tính quốc gia ngày càng rõ rệt. Trong hơn 40 năm qua, EU đã tồn tạI
không ngừng phát triển và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời
sống quốc tế nói chung và các nước trong khối EU nói riêng.
Trước những thành công mà EU đã đạt được trong tiến trình nhất thể
hoá kinh tế- tiền tệ về chính trị Việt Nam đang ngày càng chú trọng tới
việc đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế thương mại với EU, đặc biệt là
trong lĩnh vực dệt may
Kết quả nghiên cứu cho thấy, từ khi Hiệp định dệt may giai đoạn
1993 đến 1997 được kí kết đến nay quan hệ thương mạI Việt Nam- EU
trong lĩnh vực dệt may đã có những bước phát triển khả quan. Kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU không
ngừng tăng lên. Nhiều mặt hàng cao cấp của ngành dệt may Việt Nam
đã đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của người châu Âu “đẹp nhưng
phảI rẻ”. Ngược lạI, ngành dệt may Việt Nam cũng đã tiêu thụ một số

2010 của Tổng công ty dệt may Việt Nam.
7. Vũ Hà Quang - Hiệp định dệt may Việt Nam EU những sửa đổi mới
tạp chí Thương mại số 15/1998.
8. Đỗ Thúy Loan - Lối thoát cho hàng dệt may Việt Nam sang thị
trường phi hạn ngạch - Báo thương mại ngày 27/2/1999. MỤC LỤC

Trang
Lời mở đầu 1
Chương 1. Một vài nét về liên minh Châu Âu (EU) 2
1.1. Sự hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu 2
1.2. Chiến lược của liên minh Châu Âu đối với Châu Á 5
Chương 2. Thực trạng thương mại Việt Nam - EU trong
lĩnh vực dệt may
8
2.1. Khái quát về ngành dệt may Việt Nam 8
2.2. Cơ cấu thị trường ngành dệt may Việt Nam 9
2.3. Cơ cấu ngành dệt may Việt Nam 10
2.4. Một số đánh giá về thực trạng thương mại dệt may Việt
nam - EU
12
Chương 3. Các giải pháp thúc đẩy thương mại Việt Nam -
EU trong lĩnh vực dệt may
16
3.1. Định hướng của ngành dệt may Việt Nam 16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status