Giáo trình triển vọng thay đổi chính sách tỷ giá của trung quốc và tác động có thể ảnh hưởng đến việt nam p3 - Pdf 19



25

thức ít biến động nhưng lại có mức phá giá nhanh khi biến động,
bên cạnh đó sự phát triển của thị trường ngoại hối đã tạo nên sự
biến đổi mạnh mẽ của tỷ giá. Ra đời từ đầu những năm 1980 ở
Trung Quốc, thị trường ngoại hối phát triển rất nhanh từ sau năm
1986 dẫn tới hình thành một mạng lưới thanh toán dựa vào thị
trường . Cơ sở cho sự tồn tại thị trường này là quyền tự chủ của
các doanh nghiệp Trung Quốc cho phép các nhà xuất khẩu được
được giữ một phần ngoại hối, nhằm khuyến khích tăng khả năng
hoạt động xuất khẩu. Với sự hiện diện của thị trường này, đã làm
cho tỷ giá trao đổi từng bước được dao động tự do hơn.
Chính sách tỷ giá trong thời kỳ này đã giúp Trung Quốc đẩy
mạnh xuất khẩu, giảm thâm hụt cán cân thương mại, cán cân thanh
toán và đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế. Nếu như
năm 1978 tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt 20,64 tỷ USD
bằng 9,8% GDP, đứng thứ 27 trên thế giới về buôn bán đối ngoại
và cán cân thương mại là -15.002 triệu USD thì nhờ thương mại
phát triển đến năm 1990 cán cân thương mại là 8.646 triệu USD.
Sau những điều chỉnh thử nghiệm thành công ban đầu, chính phủ
Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh chính sách tỷ giá theo hướng đã
vạch ra.
Cho nên, đầu những năm 90 (1991- 1993), Trung Quốc chính
thức công bố áp dụng một tỷ giá thả nổi. Trong giai đoạn này, tỷ
giá trao đổi của đồng NDT thường xuyên dao động, đồng NDT hầu 26


giảm bớt tác động của sự thay đổi trong chính sách tỷ giá lên thị
trường tiền tệ, vào thời kỳ này chính phủ Trung Quốc đã ban hành
một loạt những biện pháp hỗ trợ và quản lý ngoại hối như : thực
hiện chế độ ngân hàng kết hối, xoá bỏ sự găm giữ ngoại tệ và tăng
giá ngoại hối của các công ty, xây dựng thị trường giao dịch ngoại
tệ liên ngân hàng; cải tiến cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái; xoá bỏ
kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với thu chi ngoại hối… kết hợp
với kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung ương Trung Quốc. Đối
với công ty nước ngoài, Trung Quốc yêu cầu phải có bảng cân đối
ngoại tệ hàng năm. Đối với các doanh nghiệp liên doanh với nước
ngoài phải có giấy phép đổi ngoại tệ mạnh sang NDT. Còn đối với
doanh nghiệp nhà nước, yếu cầu phải nộp 100% ngoại tệ thu được
thay vì 50% trước đây. Tuy nhiên, Trung Quốc đã có những điều
chỉnh quản lý ngoại hối lỏng hơn như: cho phép các công nước
ngoài từng bước được giao dịch, mua bán ngoại tệ mạnh, tạo điều
kiện để đồng NDT xâm nhập mạnh hơn vào thị trường tiền tệ, tài
chính thế giới…
Kết quả của điều chỉnh và phá giá mạnh đồng NDT trong
thời kỳ này của Trung Quốc đã giúp nước này không chỉ thu được
những lợi ích trong ngắn hạn, nhanh chóng đẩy mạnh xuất khẩu, 28

chiếm lĩnh nhiều thị phần quan trọng trên thị trường quốc tế, mà
còn tạo cơ sở để Trung Quốc duy trì chính sách tỷ giá ổn định
trong một thời gian dài, giảm thiểu những rủi ro hối đoái và tạo
môi trường hấp dẫn thu hút mạnh các nguồn đầu tư nước ngoài.:

Năm 1994 1995 1996 1997

đẩy xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế cao và giảm những cú sốc từ
bên ngoài (1997-nay).
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm
1997, môi trường kinh tế quốc tế đã có nhiều biến động đáng kể.
Các nước bị khủng hoảng rơi vào tình trạng suy thoái, mức sống
của người dân bị sụt giảm đáng kể. Cuộc khủng hoảng này đã làm 29

cho tốc độ tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu chậm lại.
Trung Quốc không phải là một ngoại lệ. Xuất khẩu và đầu tư nước
ngoài giảm mạnh. Vấn đề sản xuất dư thừa ngày càng trở nên trầm
trọng trong các ngành công nghiệp chế biến. Giá thị trường liên tục
giảm xuống và dần dần xuất hiện những dấu hiệu giảm phát.
Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc đã có chủ trương
không phá giá đồng NDT, tỷ giá vẫn giữ ở mức 8,3NDT/USD, với
biên độ giao đông là nhỏ. Nhờ đó mà những tác động của cuộc
khủng hoảng khu vực Châu Á đối với nền kinh tế Trung Quốc và
cả nền kinh tế thế giới đã ít nghiêm trọng hơn.
Để bảo vệ đồng NDT trước tác động của cuộc khủng hoảng
tài chính khu vực, năm 1998 Trung Quốc đã quay trở lại kiểm soát
chặt chẽ thị trường ngoại hối, giảm nguy cơ đầu cơ và găm giữ
ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại tệ. Thu nhập ngoại tệ của các doanh
nghiệp bắt buộc phải bán cho những ngân hàng đã được chỉ định
trước, việc bán ngoại tệ cũng phải có hoá đơn theo quy định mới
được rút, thậm chí các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải bán ngoại
tệ cho các ngân hàng Trung Quốc để đổi lấy một lượng NDT nhất
định sử dụng trong lãnh thổ nước này. Song song với việc quản lý
chặt chẽ thị trường ngoại hối, để giảm bớt sức ép đối với xuất khẩu
31

lạm phát thì mức tăng thực tế của đồng NDT so với các đồng tiền
này là 18,5%, 39,4%, 62,9%. Mặc dù có những quan điểm trái
ngược nhau, thực tế đã cho thấy cho tới nay việc điều chỉnh tỷ giá
và chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã tạo ra khả năng góp
phần giảm tác động trước những cú sốc từ bên ngoài và đạt được
thành tựu to lớn kể từ năm 1997.
Trong năm 2002, tổng doanh số thương mại của Trung Quốc
đạt 620,79 tỉ USD, trong đó xuất khẩu tăng 22,3%, đạt 325,57 tỉ
USD; nhập khẩu tăng 21,2%, đạt 295,22 tỉ USD. Thặng dư thương
mại đạt 30,33 tỉ so với 22,6 tỉ USD trong năm 2001. Dự trữ ngoại
tệ đạt mức cao kỷ lục là 286,4 tỉ USD. Tốc độ tăng trưởng trung
bình của nền kinh tế Trung Quốc là 8%/năm, và cao nhất trên thế
giới.
Mặt khác, đồng NDT hiện đang mạnh lên so với đồng USD.
Tuy chưa phải là đồng tiền có thể chuyển đổi hoàn toàn, nhưng nó
đang ngày càng được sử dụng nhiều ở bên ngoài biên giới Trung
Quốc, đặc biệt là dọc biên giới Trung Quốc với các nước Đông
Nam Á. Theo tính toán hiện có khoảng 30 tỷ NDT đang lưu hành
ở bên ngoài Trung Quốc, điều này chứng tỏ niềm tin của quốc tế
vào kinh tế Trung Quốc. Và đồng NDT được dự đoán là sẽ đóng
vai trò khu vực lớn hơn đồng Eruo, có thể trở thành đồng tiền dự
trữ thay thế các đồng tiền quốc tế khác ở Châu Á. 32


ở Trung Quốc hiểu rằng một tỷ giá hối đoái cố định sẽ không giúp
kích thích tăng trưởng và xuất khẩu.
Do vậy Trung Quốc bắt đầu hướng tới một cơ chế tỷ giá
mềm dẻo với sự tham gia nhiều hơn của yếu tố thị trường nhưng
vẫn có sự kiểm soát của nhà nước. Tỷ giá đồng NDT vào khoảng
5,8 - 5,9 NDT/USD những năm 1990-1993. Đến cuối năm 1993,
đầu năm 1994, để kích thích xuất khẩu hơn nữa, Trung Quốc đã
quyết định chuyển tỷ giá lên 8,7 NDT/USD. Sau nhiều lần điều
chỉnh, tỷ giá này dừng ở mức khoảng 8,2 - 8,3 NDT/USD và duy
trì từ năm 1994 tới nay.
2.2 Tác động chính sách tỷ giá TQ tới thương mại một số
nước.
Tác động tới Mỹ
Từ năm 1993, Trung Quốc và Mỹ đã mở rộng quan hệ buôn
bán. Năm 2000, Mỹ chiếm 20,9% kim ngạch xuất khẩu và trở
thành đối tác quan trọng số một trong xuất khẩu hàng hoá của
Trung Quốc, xuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc sang Mỹ đạt
103,3 tỷ USD, chiếm 8,2% giá trị nhập khẩu của Mỹ. Trung Quốc
trở thành đối tác nhập khẩu lớn thứ 5 của Mỹ. Thương mại của Mỹ 34

với Trung Quốc đã tăng 50%. Tuy nhiên, trong những năm qua Mỹ
chủ yếu bị thâm hụt thương mại với Trung Quốc.
Năm 2002, thâm hụt thương mại của Mỹ vào khoảng 500 tỷ
USD thì có tới 103 tỷ USD là thâm hụt với Trung Quốc. Trong 8
tháng đầu năm 2003, xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ lên tới
120 tỷ USD, trong khi nhập khẩu tăng không đáng kể, chỉ nhích từ
13 lên 19 tỷ USD.

kỷ qua đã buộc chính phủ nước này cần can thiệp mạnh mẽ vào thị
trường ngoại hối, cố gắng duy trì đồng yên yếu để tăng trưởng xuất
khẩu nhằm khôi phục nền kinh tế. Chỉ chiếm 12% GDP của Nhật,
nhưng xuất khẩu hiện là nguồn động lực tăng trưởng duy nhất hữu
hiệu hiện nay. Ngoài ra, một đồng yên yếu còn giúp đẩy giá hàng
hoá nhập khẩu lên cao, đặc biệt là hàng hoá từ Trung Quốc, nhờ đó
trợ giúp được các nhà sản xuất trong nước và đẩy chỉ số giá cả lên
cao. Cho nên chính sách của Trung Quốc hiện nay có thể làm tổn
hại tới xuất khẩu của Nhật Bản.
Trước hết, để đối phó với thâm hụt thương mại ngày càng lớn
một phần là do thâm hụt thương mại với Trung Quốc ngày càng
tăng, chính phủ Mỹ đã theo đuổi chính sách đồng USD yếu. Điều
này đã khiến cho đồng Yên Nhật tăng giá chóng mặt so với đồng 36

USD làm cho hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản trở nên đắt đỏ
hơn, cản trở sự phục hối yếu ớt của nền kinh tế Nhật Bản. Đồng
thời với đồng NDT yếu, hàng hoá Trung Quốc tràn ngập các thị
trường và cạnh tranh mạnh mẽ với hàng hoá Nhật đặc biệt là thị
trường Mỹ và Nhật. Theo thống kế do Bộ tài chính của Nhật đưa ra
cho thấy rằng, quan hệ thương mại qua lại Mỹ-Nhật đã giảm đi đột
ngột trong 10 tháng đầu năm 2002. Mặc dù thặng dư thương mại
của Nhật giảm, nhập khẩu của họ từ Trung Quốc đã tăng lên 6,31
nghìn tỷ yên trong một năm so với 6,04 nghìn tỷ yên nhập khẩu từ
Mỹ.
Rõ ràng, cũng như Mỹ, Nhật Bản đang chịu những tác động
không nhỏ từ chính sách tỷ giá của Trung Quốc hiện nay. Họ cũng
đang kêu gọi Trung Quốc cần tăng giá đồng nhân dân tệ của mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status