1LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, với tốc độ tăng trưởng cao và ổn
định của nền kinh tế, Trung Quốc đã vượt qua ba trụ cột kinh tế
chính đang phục hồi chậm chạp đó là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu về
tốc độ tăng trưởng kinh tế. Vai trò của Trung Quốc trên trường
quốc tế ngày càng tăng nhanh, nhất là trên lĩnh vực thương mại. Sự
thành công đó một phần là nhờ vào việc hoạch định và điều hành
các chính sách của chính phủ Trung Quốc khá sát với tình hình đất
nước và trên thế giới.
Chính sách tỷ giá, đương nhiên không phải là một ngoại lệ.
Với chính sách tỷ giá hiện nay của mình, Trung Quốc đang dần trở
thành nguồn cung cấp hàng hoá cho toàn thế giới. Điều này đã
khiến cho các nền kinh tế lớn lo ngại và trở thành đề tài chính
trong các cuộc thương thảo về thương mại hiện nay. Vậy để tìm
hiểu sâu hơn về những vấn đề trên em đã lựa chọn đề tài:
"Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của nó tới
thương mại Trung Quốc và một số nước".
Nội dung của đề án này gồm những phần chính sau:
1. Lý luận chung về tỷ giá hối đoái, chính sách tỷ giá hối đoái
và tác động của nó tới thương mại.
Giáo trình triển vọng thay đổi chính sách tỷ giá
của trung quốc và tác động có thể ảnh hưởng
đến việt nam
mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các quốc gia khác nhau. Nó là
một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch
vụ phát sinh trực tiếp từ quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia. Về cơ
bản, phân tích vấn đề tỷ giá cần tập trung chú trọng vào hai vấn đề
cơ bản sau: các nhân tố tác động đến sự biến động của tỷ giá hối
đoái và các chế độ tỷ giá hối đoái.
1.1.1.1 Các nhân tố tác động tới tỷ giá hối đoái.
Ngày nay, tỷ giá hối đoái biến động rất thường xuyên và thất
thường. Sự tăng hay giảm của tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng rất
nhiều nhân tố khác nhau, trong đó ta chia hai dạng : đó là nhân tố
cơ bản làm thay đổi tỷ giá dài hạn và nhân tố ngắn hạn.
Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá dài hạn:
Xét trong dài hạn có 4 nhân tố chủ yếu tác động tới quan hệ
cung cầu ngoại tệ. Đó là: mức giá cả tương đối, chính sách bảo hộ,
sở thích của người tiêu dùng và năng suất lao động.
Mức giá cả tương đối
Khi mức giá cả hàng hoá, dịch vụ trong nước tăng so với
mức giá cả của hàng hoá - dịch vụ nước ngoài, các hãng sản xuất
hàng xuất khẩu nói riêng, các hãng sản xuất của một nước nói
chung có xu hướng thu hẹp quy mô sản xuất do chi phí đầu vào
tăng. Do đó xuất khẩu giảm, cung ngoại tệ giảm, đồng thời cầu về
hàng nội tệ giảm xuống và cầu về hàng hoá nước ngoài tăng lên,
cầu ngoại tệ tăng lên. 4
Đồ thị
D1,D2: đường cầu ngoại tệ E(VND/USD) S2
S1,S2: đường cung ngoại tệ E2 S1
E2
D2 D1 Q Sở thích người tiêu dùng
Thực tế trên thị trường nói chung và trong thương mại quốc
tế nói riêng cho thấy ngay cả khi hàng hoá trong nước và nước
ngoài đã có những đặc điểm giống nhau như về giá cả, chất lượng,
hình thức thì chúng vẫn không có khả năng thay thế hoàn toàn
cho nhau chỉ vì người tiêu dùng có sở thích khác nhau
Ví dụ :
E(VND/USD)
S1 6
E1
E2
D2 D1
Q
Khi người dân thích dùng hàng nội hơn, cầu về hàng nội
Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá ngắn hạn
Xét trong ngắn hạn có một số nhân tố chủ yếu tác động. Đó là:
Mức chênh lệnh lạm phát, lãi suất giữa các quốc gia; những dự
đoán về tỷ giá hối đoái.
Mức chênh lệnh lạm phát giữa các quốc gia
Nếu như mức độ lạm phát giữa hai nước khác nhau, trong
điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, sẽ dẫn đến giá cả hàng
hoá ở hai nước đó có những biến động khác nhau, làm cho ngang
giá sức mua của hai đồng tiền đó bị phá vỡ, làm thay đổi tỷ giá hối
đoái.
Ảnh hưởng của mức chênh lệch lạm phát đến tỷ giá hối đoái
có thể được minh họa ở đồ thị sau: 8 Giả sử Việt Nam có tỷ lệ lạm E(USD/VND) S2
phát cao hơn Mỹ. Thì tăng nhu cầu về S1
USD, cung USD giảm, làm cho đồng
VND gi
ảm giá.
D2
này có liên quan chặt chẽ đến những dự đoán về biến động tỷ lệ
lạm phát, lãi suất và thu nhập giữa các quốc gia.
Giả sử rất nhiều người tham gia vào thị trường ngoại hối đều
cho rằng đồng USD sẽ giảm giá trong thời gian tới, trong điều kiện
các nhân tố khác không thay đổi. Điều này dẫn đến cung về USD
sẽ tăng lên vì nhiều người muốn bán chúng. Đồng thời, cầu về
USD sẽ giảm xuống 10
Ảnh hưởng này được minh hoạ bằng đồ thị:
E(USD/VND)
S1
S2
.
D1
D2
Q
Ngoài ra tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố
khác như khủng bố, thiên tai đình công, các quyết sách lớn cảu nhà
nước Điều này có thể giải thích sự thay đổi đột ngột, thất thường
của tỷ giá mà không theo quy luật nào.
Như vậy, trong điều kiện hiện nay, tỷ giá hối đoái chịu sự tác
động của rất nhiều yếu tố. Việc xác định đúng và kịp thời các nhân
tố này là cơ sở quan trọng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái cho phù
ngoại hối, từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những
mục tiêu cần thiết. Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái gồm hai 12
vấn đề lớn: một là vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và hai là
vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
1.1.2.1 Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái.
Chính sách tỷ giá hối đoái là một bộ phận của hệ thống chính
sách tài chính, tiền tệ, thực hiện các mục tiêu cuối cùng của nền
kinh tế. Trong nền kinh tế mở, mục tiêu của việc hoạch định chính
sách nói chung, chính sách tài chính, tiền tệ và chính sách tỷ giá
nói riêng là nhằm đạt được các cân đối bên trong và cân đối bên
ngoài của nền kinh tế.
Cân bằng nội đạt được khi các nguồn lực kinh tế của một
quốc được sử dụng đầy đủ với mức giá ổn định. Việc sử dụng
không thiếu hoặc quá nguồn lực dẫn đến lãng phí không đem lại
hiệu quả cao. Ngoài ra còn làm cho mức giá chung bị biến động,
giá trị thực tế của đồng tiền không ổn định, dẫn đến giảm hiệu quả
của nền kinh tế. Sự không ổn định của giá cả còn có tác động làm
thay đổi hoặc tăng tính rủi ro cao của các món nợ.
Vì vậy, với mục tiêu tránh tình trạng mất ổn định của giá cả
và ngăn chăn sự dao động lớn trong tổng sản phẩm, chính sách tỷ
giá đã tránh cho nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát hoặc giảm
phát kéo dài và đảm bảo việc cung ứng tiền không quá nhanh hoặc
quá chậm.
Khác với cân bằng nội, cân bằng ngoại đạt được lại dựa vào
trạng thái của cán cân tài khoản vãng lai. Một sự thâm hụt tài