Luận văn : ỨNG DỤNG KỸ THUẬT HÓA MÔ MIỄN DỊCH (IMMUNOHISTOCHEMISTRY) TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐỐM TRẮNG (White Spot Disease – WSD) TRÊN TÔM SÚ part 2 - Pdf 19

19 2.2.2.12. Triệu chứng, bệnh tích
Tôm bệnh có biểu hiện bỏ ăn, lờ đờ, kém hoạt động, thường có khuynh hướng
cặp mé bờ, sau đó chết và chìm xuống đáy (Takahashi và ctv, 1994; Wang và ctv,
1998). Bên trong vỏ giáp xuất hiện những đốm trắng đường kính từ 0,5 – 2 mm, xuất
hiện đầu tiên ở vỏ giáp và đốt bụng thứ V, VI. Những đốm này chính là sự tích tụ
calcite (Wang và ctv, 1996b), sự tạo thành chúng cần các tế bào biểu bì cutin bị nhiễm
virus nặng (Chang và ctv, 1998) và sự bao bọc các sợi trong tế bào chất và các kênh
trong biểu bì (Wang và ctv, 1999). Đốm trắng thường xuất hiện cùng với sự đổi màu
thành tái hay đỏ hồng (Nakano và ctv, 1994). Tuy nhiên, những biểu hiện như xuất
hiện đốm trắng và đổi màu cũng có thể xảy ra do điều kiện môi trường hay bệnh vi
khuẩn (Charatchakool và ctv, 1995). Gan tụy trương, có màu trắng hoặc hơi vàng.
Tôm bệnh có dấu hiệu trương nhân trong tế bào bị nhiễm do tích tụ hạt virus (Chou và
ctv, 1996; trích bởi Trần Thị Hoàng Dung).
Tỉ lệ tôm chết lên đến 80 – 100% trong vòng 7 – 10 ngày (Nakano và ctv,
1994).

Hình 2.7. Tôm nhiễm WSSV và tế bào nhiễm WSSV. (Vlak., 2002)
(A) Tôm bị nhiễm WSSV.
(B) Tế bào bị nhiễm WSSV trong mang của tôm sông.
2.2.2.13. Biện pháp phòng và trị bệnh :
Hiện nay chưa có biện pháp điều trị hữu hiệu bệnh đốm trắng trên tôm nên
phòng là chủ yếu. Biện pháp phòng trừ tổng hợp được dùng rộng rãi trên thế giới.
 Lựa chọn post-larvae khỏe mạnh không mang mầm bệnh (mô
học, PCR, sốc formalin).
20  Chẩn đoán chính xác, kịp thời, lập chương trình kiểm soát dịch


 Để khẳng định chẩn đoán và xác định tình trạng nhiễm WSSV
của nguồn tôm bố mẹ và con giống nên dùng kĩ thuật PCR (Hőstein,
2000). Các kỹ thuật PCR đã được phát triển gồm 1-step, 2-step PCR
(Lo và ctv, 1996), one-tube nested PCR (Lo và ctv, 1998).
Ngoài ra cũng có thể chẩn đoán bằng:
 Transmission eletron microscopy (TEM). Mặc dù WSSV có thể
phát hiện được bằng phương pháp này nhưng kĩ thuật này chủ yếu dùng
trong chẩn đoán khẳng định (Lightner, 1996)
 In situ DNA hybridisation (cho phép xác định WSSV khi không
có những dấu hiệu mô bệnh học – Chang và ctv, 1996): Xử lý và cố
định mô theo phương pháp mô học truyền thống, lai và phát hiện virus
WSSV bằng probe có đánh dấu, quan sát dưới kính hiển vi.
 Western blot analysis (Nadala và ctv, 1997).
 Dot blot (Nadala and Loh, 2000).
Ngoài những phương pháp xác định WSSV dựa trên vật liệu di truyền, các xét
nghiệm dựa trên miễn dịch cũng được sử dụng, một trong số đó là phương pháp hóa
mô miễn dịch. Từ khi kháng thể đơn dòng nhận diện epitope trên vỏ virus hay trên
capsid được sản xuất thành công và xuất hiện test kit hóa mô miễn dịch thương phẩm
sử dụng kháng thể đơn dòng, kĩ thuật này càng phát huy được thế mạnh của nó về độ
chính xác, độ nhạy và hiệu quả trong chẩn đoán mầm bệnh virus đốm trắng trên tôm.
Trong khoá luận này, dựa vào những điều kiện sẵn có, chúng tôi tiến hành ứng dụng
hoá mô miễn dịch để chẩn đoán bệnh đốm trắng trên tôm sú
2.4. Sơ lƣợc về hoá mô miễn dịch (Immunohistochemmistry)
2.4.1. Lịch sử phát triển
Coons và cộng sự (1941) là những người đầu tiên đánh dấu kháng thể bằng chất
nhuộm huỳnh quang và dùng chúng để xác định vị trí kháng nguyên trên mặt cắt mô.
Kĩ thuật hoá mô miễn dịch ngày càng phát triển, một số enzyme đã được dùng để đánh
dấu kháng thể như peroxidase (Nakane và Pierce, 1966) và alkaline phosphatase
(Mason và Sammons, 1978). Keo vàng được phát hiện bởi Faulk và Taylor (1971) và
2.4.4. Kháng thể (antibody)
Theo Boenisch và ctv (2002) kháng thể thuộc nhóm protein gọi là globulin
miễn dịch (immunoglobulin – Ig). Globulin miễn dịch gồm 5 nhóm chính, được xếp
theo thứ tự giảm dần trong huyết thanh: IgG, IgA, IgM, IgD và IgE. Trong đó, IgG và
IgM thường được dùng trong hóa mô miễn dịch.
Có hai loại kháng thể (Hình 2.8)

A B
Hình 2.8. Kháng thể đa dòng và kháng thể đơn dòng (Boenisch và ctv, 2002).
A: Kháng thể đa dòng gắn với các epitope khác nhau trên kháng nguyên
B: Kháng thể đơn dòng phản ứng với một epitope đặc hiệu trên kháng nguyên
 Kháng thể đa dòng (polyclonal antibodies): Được tạo ra bởi
những tế bào plasma khác nhau nên thường không đồng nhất về hóa
miễn dịch, chúng phản ứng với những epitopes khác nhau trên kháng
nguyên đã kích thích tạo ra chúng. Động vật đáp ứng miễn dịch và tạo
ra kháng huyết thanh bao gồm nhiều loại kháng thể đặc hiệu và không
đặc hiệu. Kháng thể đa dòng dễ sản xuất hơn kháng thể đơn dòng
nhưng có khuyết điểm là ngay cả sau khi tinh sạch, kháng thể đa dòng
vẫn có thể chứa những kháng thể phản ứng không đặc hiệu với kháng
nguyên
24  Kháng thể đơn dòng (monoclonal antibody): Được tạo ra từ một
dòng tế bào plasma nên đồng nhất về hoá miễn dịch, chúng phản ứng
với một epitope nhất định trên kháng nguyên đã kích thích tạo ra
chúng. Ưu điểm của kháng thể đơn dòng là độ đồng nhất cao, rất tinh
khiết và đặc hiệu.

lượng kháng thể đơn dòng cần chuẩn độ ở pH 6,0 và 8,6 và không có
NaCl. Độ pha loãng cao nhất và pH duy trì phản ứng miễn dịch mạnh
nhất được gọi là độ pha loãng tối ưu (Boenisch và ctv, 2002).
 Thời gian ủ: thường trái ngược với độ chuẩn của kháng thể, độ
chuẩn càng cao thì thời gian ủ để có kết quả tối ưu càng ngắn. Tuy
nhiên trên thực tế thường thì người ta đưa ra một thời gian ủ thích hợp
trước khi xác định độ pha loãng tối ưu. Nồng độ kháng thể đặc hiệu
càng cao thì thời gian ủ càng ngắn (Boenisch và ctv, 2002).
 Nhiệt độ ủ: Trạng thái cân bằng trong phản ứng kháng nguyên –
kháng thể đạt được nhanh ở 37
0
C. Với nhiệt độ ủ khá cao ta có thể rút
ngắn thời gian ủ và tăng độ pha loãng kháng thể. Tuy nhiên không thể
biết được là nhiệt độ chỉ thúc đẩy phản ứng đặc hiệu kháng nguyên –
kháng thể hay kích ứng tất cả những phản ứng nền.
Để phát triển kĩ thuật hóa mô miễn dịch chẩn đoán mầm bệnh virus đốm trắng
trên tôm sú trong điều kiện phòng thí nghiệm ở Việt Nam chúng tôi chọn thử nghiệm
một chỉ tiêu quan trọng quyết định kết quả nhuộm là độ pha loãng kháng thể và 1 yếu
tố phụ là nồng độ DAB.
2.4.5. Các phƣơng pháp nhuộm
Có nhiều phương pháp hoá mô miễn dịch có thể dùng để định vị kháng nguyên.
việc lựa chọn phương pháp thích hợp dựa trên các thông số như loại mẫu vật và độ
nhạy yêu cầu (IHC world, 2005).

26

Kháng thể 1

Kháng thể 2 Kháng thể 3

Biotin
(Strept)avidin Chú thích
C
D
E

F
27 B. Gián tiếp hai bước (two-step indirect method): Đầu tiên cho một kháng thể
sơ cấp kết hợp với kháng nguyên, sau đó bổ sung một kháng thể thứ cấp đánh dấu
enzyme kháng lại kháng thể sơ cấp (bây giờ là kháng nguyên), và cuối cùng bổ sung
cơ chất tạo màu. Phương pháp này linh hoạt hơn phương pháp trực tiếp vì nhiều loại
kháng thể sơ cấp khác nhau từ cùng một loài có thể được sử dụng với cùng kháng thể
thứ cấp cộng hợp. Quy trình này cũng nhạy hơn nhuộm trực tiếp vì nhiều kháng thể

peroxidase và 2 kháng thể, phức hợp APAAP gồm 2 phân tử alkaline phosphatase và 1
kháng thể (Hình 2.8.D) (Boenisch và ctv, 2002).
E. Kỹ thuật (strept)avidin-biotin: Hầu hết những phương pháp nhuộm ngày nay
đều dựa trên ái lực lớn giữa (strept)avidin (Streptomyces avidinii ) và avidin (trứng gà)
với biotin. Kỹ thuật này có độ nhạy và khả năng khuyếch đại rất cao. Thành phần cơ
bản gồm kháng thể sơ cấp kháng kháng nguyên, kháng thể thứ cấp có gắn biotin kháng
kháng thể sơ cấp, phức hợp enzyme-(strept)avidin-biotin (kỹ thuật avidin-biotin
complex – ABC) hay streptavidin có đánh dấu enzyme (kỹ thuật labelled streptavidin-
biotin – LSAB), và cuối cùng là dung dịch cơ chất. Enzyme đánh dấu thường được sử
dụng nhất là horseradish peroxidase và alkaline phosphatase. Phương pháp LSAB
nhạy hơn phương pháp ABC (Hình 2.8.E, F) (Boenisch và ctv, 2002).
Để đáp ứng mục tiêu là chẩn đoán mầm bệnh virus đốm trắng trên tôm sú, trong
điều kiện của phòng thí nghiệm, chúng tôi sử dụng phương pháp ABC với kháng thể
thứ cấp gắn biotin, phức hợp streptavidin-biotinylated horseradish peroxidase và cơ
chất là 3,3-diaminobenzidine tetrahydrochloride (DAB).
2.4.6. Ứng dụng phƣơng pháp trong chẩn đoán mầm bệnh trên động vật nuôi
thủy sản
Kể từ khi ra đời phương pháp IHC đã chứng tỏ tính ưu việt trong chẩn đoán
bệnh, các thí nghiệm khẳng định trong nhân y (chẩn đoán bệnh ung thư vú, ung thư
phổi) (Hayat, 2004), thú y và trong thủy sản hay ứng dụng trên lĩnh vực nghiên cứu cơ
bản về hệ miễn dịch (dùng IHC để phát hiện kháng thể kháng Enteromyxum
scophthalmi (Myxozoa) trong cá bơn Scophthalmus maximus L. (Sitja-Bobadilla và
ctv, 2005)
Đối với thủy sản, xác định nhanh mầm bệnh quyết định tính hiệu quả trong
kiểm soát bệnh. Phát hiện mầm bệnh không những quan trọng với cá nhiễm bệnh mà
còn với môi trường (giữa thời kì thu hoạch và tái xuống giống) và như là một hệ thống
29 cảnh báo sớm. Ứng dụng probe kháng thể và probe/primer DNA đã có những ảnh

30 PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
A. Thời gian thực hiện đề tài: 3/2005 – 8/2005.
B. Địa điểm thực hiện:
Phòng Mô Học - Trung Tâm Quốc Gia Quan Trắc Cảnh Báo Môi Trường và
Phòng Ngừa Dịch Bệnh Thuỷ Sản Khu Vực Nam Bộ - Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng
Thuỷ Sản II (116 Nguyễn Đình Chiểu – Q.1 – Thành phố Hồ Chí Minh).
3.2. Vật liệu
3.2.1. Mẫu xét nghiệm:
- 10 mẫu tôm sú thương phẩm thu từ các ao nuôi tại tỉnh Cà Mau và tỉnh
Sóc Trăng (nội dung 1).
Bảng 3.1. Các mẫu thử nghiệm cho nội dung 1
Kí hiệu
Nơi thu
Loại mẫu
Ngày thu
45D
45P
101
53
103
97
50
98
453
99
Sóc Trăng

- 25 mẫu tôm sú post-larvae chọn ngẫu nhiên từ 200 mẫu thu từ các trại
giống ở khu vực miền Trung (Đà Nẳng, Phan Rang, Bình Định), miền Nam
(Vũng Tàu, Cà Mau). 30 mẫu tôm sú thương phẩm chọn ngẫu nhiên từ 200 mẫu
31 thu ở các ao nuôi tại Cà Mau, Sóc Trăng, Kiên Giang, Vũng Tàu, Trà Vinh
trong đó thử nghiệm PCR trên 20 mẫu, thử nghiệm IHC và Mô học trên cả 30
mẫu (nội dung 2).
Bảng 3.2. Các mẫu thử nghiệm cho nội dung 2
Tôm post-larvae
Tôm thương phẩm
Kí hiệu
Nơi thu
Ngày thu
Kí hiệu
Nơi thu
Ngày thu
7683
7787
7661
7781
7536
7786
7718
7769
7768
7764
7684
7691

Phan Rang
Phan Rang
Phan Rang
Phan Rang
Cà Ná
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau

2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
2/7/2005
14/2/2005
15/2/2005
15/2/2005
25/2/2005
18/2/2005
18/2/2005

179
181
182
185
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Kiên Giang
Sóc Trăng
Sóc Trăng
Sóc Trăng
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Cà Mau
Trà Vinh
Trà Vinh
Kiên Giang
Kiên Giang
Kiên Giang
Vũng Tàu

18/2/2005
1/3/2005
1/3/2005
1/3/2005
32 3.2.2. Vật liệu nhuộm IHC:
- Kháng thể sơ cấp: Kháng thể đơn dòng 8B7 của chuột kháng protein
WSSV VP28 (WSSV - 8B7 mAb) (4 C) - công ty Diagxotics
- Kháng thể thứ cấp: Kháng thể của cừu có gắn biotin kháng kháng thể
chuột (kháng thể sơ cấp) (Anti-mouse Ig biotinylated species-specific whole
antibody) (4 C) - công ty Amersham Biosciences UK.
- Huyết thanh cừu (Normal sheep serum) (4 C) - Công ty CalBioChem.
- Streptavidine-biotinylated horseradish peroxidase complex (HRP) (4 C)
- Công ty Amersham Biosciences UK.
- 3,3'-diaminobenzidine tetrahydrochloride (DAB) (-20 C ).
- Sodium azide, H
2
O
2
30% (4 C).
3.2.3. Thiết bị và dụng cụ
- Máy xử lý mẫu tự động
- Máy cắt microtome
- Bàn ấm cố định mẫu trên lam kính
- Bộ phận làm lạnh mẫu

được bố trí trên 3 lam, mỗi lam thử nghiệm với 1 nồng độ.
 Độ nhạy và tính đặc hiệu của mAb ở các nồng độ pha loãng khác
nhau (0,5X; 1X; 1,5X và 2X). Thí nghiệm trên 10 mẫu, mỗi mẫu sau khi
cố định trong paraffin được bố trí trên 4 lam, mỗi lam thử nghiệm với 1
nồng độ.
Kết quả được ghi nhận trên 3 đặc tính của mẫu sau khi nhuộm: Cường độ cảm
nhiễm, cường độ bắt màu và độ sắc nét.
Ghi chú: 1X: Nồng độ đề nghị của Đại học Gent.
34 Bảng 3.3. Bố trí thí nghiệm cho nội dung 1
Yếu tố thử
nghiệm
Nồng độ DAB
Nồng độ mAb
1X
1,5X
2X
0,5X
1X
1,5X
2X
Kí hiệu mẫu
45D
45D
45D
45D
45D
45D

97
97
97
97
50
50
50
50
98
98
98
98
453
453
453
453
99
99
99
99

B. Với nội dung 2: So sánh phương pháp IHC về độ ổn định, độ nhạy, độ chính xác và
hiệu quả với phương pháp mô học truyền thống và PCR qua bố trí thử nghiệm khả
năng phát hiện mầm bệnh WSSV trên 25 mẫu tôm post-larvae và 30 mẫu tôm thương
phẩm. Mỗi mẫu được chia thành 2 phần, một phần cố định trong cồn dùng cho PCR,
phần còn lại cố định trong dung dịch Davidson cho Mô học và IHC (sau khi cố định
trong paraffin, mỗi mẫu được cắt và bố trí trên 2 lam, một cho IHC và 1 cho Mô học).
Kết quả được ghi nhận dựa trên tỉ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm của
mẫu sau khi xét nghiệm.


97
97
7661
7661
7661
98
98
7781
7781
7781
99
99
7536
7536
7536
336
336
7786
7786
7786
341
341
7718
7718
7718
342
342
7769
7769
7769

7722
7722
7722
57
57
57
7725
7725
7725
49
49
49
2682
2682
2682
94
94
94
2741
2741
2741
136
136
136
2708
2708
2708
134
134
134

2746
2746
2746
153
153
153
7755
7755
7755
156
156
156

178
178
178
179
179
179
181
181
181
182
182
182
185
185
185
36

gan tụy và vùng xung quanh gan tụy, lượng thuốc dùng từ 0,1 – 10 ml (thay đổi
tùy kích thước tôm), sau đó cho vào lọ chứa dung dịch Davidson. Ngâm mẫu từ
24 – 72 giờ. Hoặc có thể cắt đầu tôm, tách vỏ, lấy phần mang và gan tụy, để
vào mảnh vải mùng nhỏ, cho vào cassette, đóng nắp và bỏ vào dung dịch
Davidson, ngâm như với tôm post-larvae.
Tỷ lệ chất cố định: mẫu =10:1
Bước 2: Xử lý mẫu.
Rửa nước 1 – 2 giờ dưới vòi nước chảy. Sau đó xử lý theo quy trình như
hình 3.2. Quy trình này được thực hiện bằng máy.
Tổng thời gian xử lý mẫu là 12,5 giờ.

Hình 3.2. Sơ đồ xử lý mẫu
Bước 3: Đúc mẫu
Đặt mẫu nằm sát đáy khuôn chứa nến có tỉ lệ parafin: sáp ong = 1:5, đậy
cassette lên khuôn để khi nến đông lại và dính vào cassette. Quá trình này cần
có bàn nóng và bình rót nến.
Đặt khuôn lên bề mặt bộ phận làm lạnh, đợi đến khi khuôn mẫu lạnh,
tách khối paraffin ra khỏi khuôn và đặt lên bề mặt làm lạnh sao cho mặt cắt
lạnh cứng lại.
Bước 4: Cắt mẫu: Cắt khối paraffin chứa mẫu bằng máy cắt microtome, kích
thước mỗi lát cắt là 5 μl.
Bước 5: Chuyển lát cắt vào nồi nước ấm 40
0
C, dùng lam dương vớt lát cắt.
Cồn 70%
30 phút
Cồn 95% (1)
30 phút

Ethanol 70% 1 lần 5 phút/lần
Ethanol 50% 1 lần 5 phút/lần
Nhúng trong Tris buffer pH 7,6 + NaCl 1 lần trong 5 phút.
Bước3: Ngăn hoạt động của enzyme peroxidase nội bào: Pha dung dịch gồm
sodium azide (10%), Tris - NaCl, H
2
O
2
theo tỉ lệ 25 : 221 : 4. Lượng dung dịch
cần pha phụ thuộc vào lượng lam muốn nhuộm (80μl hỗn hợp/lam). Dùng
micropipette hút dung dịch và trải đều lên trên mặt mẫu.
Ủ mẫu 30 phút ở nhiệt độ phòng.
Rửa 3 lần với Tris buffer pH 7,6 + NaCl (5 phút/lần).
Bước 4: Ủ với kháng thể thứ nhất: Pha kháng thể 8B7 mAb (kháng WSSV
VP28) với huyết thanh cừu 10%(100 μl huyết thanh cừu + 900 μl tris buffer pH
7,6) theo tỉ lệ 1:30. Lượng dung dịch cần pha và cách sử dụng tương tự bước 3.
Ủ mẫu 1 giờ ở 37
0
C .
Rửa 3 lần với Tris buffer pH 7,6 + NaCl (3 phút/ lần).
Bước 5: Ủ với kháng thể thứ hai: Pha kháng thể thứ hai (kháng thể của cừu có
gắn biotin kháng lại kháng thể 1 từ chuột) với huyết thanh cừu 10% (100 μl
huyết thanh cừu + 900 μl tris buffer pH 7,6) theo tỉ lệ 1:200. Lượng dung dịch
cần pha và cách sử dụng tương tự bước 3.
Ủ mẫu trong 1 giờ ở 37
0
C.
Rửa 3 lần với Tris buffer pH 7,6 + NaCl (3 phút/lần)
39


Xylene 1 – 2 lần 5 phút/lần.
Bước 10: Dán lamel với Baume Canada.
Lam sau khi lấy ra khỏi xylene để khô trong vài phút, nhỏ một giọt keo
Baume Canada ngay trên tiêu bản mẫu, đặt lamel lên lam kính, tránh hiện tượng
có bọt khí bên trong.
40 Giai đoạn 3: Đọc kết quả. Cách đọc tiêu bản xác định thể ẩn và ghi nhận kết quả như
sau:
 Xem kết quả bằng kính hiển vi quang học ở vật kính 10x, 40x,
100x. Tế bào nhiễm WSSV có thể vùi dạng Crowdry A đặc trưng với
nhân trương to, sau đó hạch nhân trương to hơn, chiếm hết nhân, bắt
màu nâu.
 Các kết quả được khảo sát dựa trên:
+ Tỷ lệ cảm nhiễm là số tôm bệnh trên tổng số tôm kiểm tra.
+ Cường độ cảm nhiễm là % tế bào nhiễm virus.
+ Cường độ bắt màu là % tế bào nhiễm bắt màu nâu (vì ngoài
màu nâu, tế bào nhiễm còn có thể bắt màu nâu nhạt hay vàng).
+ Độ sắc nét là % tế bào nhiễm bắt màu sắc nét.
 Kết quả xét nghiệm được mã hoá thành kí hiệu và giá trị có ý
nghĩa về mặt toán học (Bảng 3.1).
Bảng 3.5. Bảng mã hoá kết quả

Nội dung
Số liệu Cường độ
Kí hiệu
mã hoá cảm nhiễm
- 0
0% 0% 0%

1X
1,5X
2X
1X
1,5X
2X
1X
1,5X
2X
45P
+
+
+
-
-
+/-
-
-
+/-
45D
+/-
+
+
-
+
++
-
+/-
+/-
101

- Nồng độ 1X: Tất cả các tế bào bắt màu DAB đều có màu vàng nhạt hay nâu rất
nhạt, một số tế bào bắt màu DAB rất mờ không thể xác định rõ có phải là tế bào nhiễm
virus hay không, vì vậy mà cường độ cảm nhiễm của 4/5 mẫu thấp hơn 2 nồng độ còn
lại. Nhân tế bào bắt màu DAB không có hình dạng đặc trưng của tế bào nhiễm virus.
 Ở vật kính 10x: Phải quan sát rất kĩ mới nhận ra màu nhuộm.
 Ở vật kính 40x: Có thể nhận thấy màu vàng nhạt ở một số tế bào
nhưng tất cả các tế bào bắt màu đều không có hình dạng đặc trưng của
tế bào nhiễm virus (nhân không tròn và trương to), không sắc nét.
 Ở vật kính 100x: Một số tế bào có nhân trương to và khá tròn
nhưng không sắc nét. Hình dạng nhân tạo thành bởi những chấm màu
vàng hay nâu nhạt khá rời rạc.
42 - Nồng độ 1,5X: Lượng tế bào bắt màu DAB có màu nâu tăng lên đáng kể so với
nồng độ 1X, một số tế bào còn có màu nâu đậm. Hình dạng đặc trưng của nhân tế bào
nhiễm virus thể hiện rõ ở nhiều tế bào. Vì vậy có thể xác định thêm một số tế bào
nhiễm.
 Ở vật kính 10x: Có thể nhận thấy rõ màu nhuộm khác biệt so với
màu nền.
 Ở vật kính 40x: Phần lớn tế bào bắt màu DAB đều có màu nâu
hay nâu nhạt. Hình dạng nhân khá rõ ràng và sắc nét.
 Ở vật kính 100x: Nhân tế bào trương to, tròn, rõ nét.
- Nồng độ 2X: Gần như tất cả các tế bào bắt màu DAB đều có màu nâu hay nâu
đậm, một số tế bào có màu nâu rất đậm, gần như đen, phần lớn tế bào có nhân rất đặc
trưng của tế bào nhiễm WSSV, trương to và tròn.
 Ở vật kính 10x: Màu nhuộm thể hiện rất rõ, có thể xác định ngay
tế bào nhiễm.
 Ở vật kính 40x: Nhân tế bào bắt màu nâu rõ nét. Nhiều tế bào có
hình dạng đặc trưng của tế bào nhiễm WSSV
B1 B2 B3
C1 C2 C3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status