Luận văn : ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HỆ THỐNG LỌC TUẦN HOÀN TRONG SẢN XUẤT GIỐNG TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii) TOÀN ĐỰC part 2 potx - Pdf 19

2.8. Vấn đề chăm sóc, quản lý
Hầu hết các vấn đề phát sinh trong nhà giống đều do nguyên nhân quản lý kém
(New và Shigolka, 2000).
2.8.1. Cho ăn
Một khía cạnh không kém phần quan trọng trong sản xuất giống tôm càng xanh
đó là kỹ thuật cho ăn (New và Valenti, 2000) bởi vì thức ăn đóng vai trò quan trọng
quyết định đến tỷ lệ sống, biến thái cũng như môi trường nước ương (Trần Thị Thanh
Hiền và ctv, 2003). Có 2 loại thức ăn được dùng, đó là nauplius Artemia và thức ăn
chế biến (New và Shingolka, 1985).
Thức ăn chế biến có nhiều công thức phối chế rất khác nhau, nhưng chủ yếu
gồm các loại nguyên liệu sau: thịt tôm, thị mực, trứng cá, dầu cá, các vitamine và
khoáng chất (New và Shingolka, 1985). Việc cho ăn nên đảm bảo đầy đủ để tránh ấu
trùng đói, chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau. Tuy nhiên nếu thừa nhiều thức ăn (nhất là thức ăn
chế biến) sẽ làm nước bể ương bị dơ, làm cơ sở cho mầm bệnh tấn công (New và
Shingolka, 1985).
2.8.2. Vệ sinh
Đảm bảo bệ sinh tốt sẽ góp phần ngăn ngừa dịch bệnh (New và Valenti, 2000).
Nước thay được xử lý kém hay vệ sinh kém là nguyên nhân xuất hiện nấm
(Zoothanium), ký sinh (Epistylis), hydroid (thuỷ tức) có ảnh hưởng bất lợi tới ấu
trùng. (New và Valenti, 2000).
Theo như đề xuất của New và Shingolka (1985) thì mỗi bể nên có dụng cụ vệ
sinh riêng. Các bể nên được vệ sinh, khử trùng giữa hai chu kỳ ương theo quy trình.
Cọ rữa bể, xử lý bằng 1,5 ppm chrorine. Phun 250 ppm formaline, phơi dưới ánh nắng
mặt trời rồi rữa lại. Nếu không thực hiện tốt việc vệ sinh sẽ làm phát triển rộ các vi
sinh vật trên.
2.9. Tạo đàn tôm toàn đực bằng kỹ thuật vi phẩu
2.9.1. Ưu thế của việc sản xuất đàn toàn đực
Một trở ngại lớn trong nuôi tôm càng xanh thương phẩm là sự phân đàn khi
nuôi chung tôm đực và tôm cái. Tôm đực thường lớn nhanh hơn tôm cái trong một
quần đàn (Ra’anna và Sagi, 1986). Trở ngại này làm ảnh hưởng đáng kể đến kích cỡ
và sản lượng tôm thương phẩm (Smith và ctv, 1978; Brody và ctv, 1980; Cohen và

Theo nhiều tác giả (Nagamine, Knight, Maggesnti và Pax, 1980) tôm càng
xanh đực đã được biệt hoá ở giai đoạn phát triển còn non. Điều này chứng tỏ tôm càng
xanh đực có mức thuộc cái cao, bao gồm sự phát triển của vòi trứng và ống dẫn trứng
(Sagi và Aflalo, 2005) khi chưa được biệt hoá đực.
Ở tôm càng xanh, theo Veith và Malecha (1983) tuyến đực gồm một sợi các tế
bào bao quanh bởi một lớp mô liên kết hình thành nên một cụm liên kết lỏng lẽo nằm
phía sau của ống dẫn tinh (Sagi và Aflalo, 2005). Theo tác giả có thể thao tác loại
tuyến đực mà không làm hư hại tuyến sinh dục này để ảnh hưởng đến sự biệt hoá giới
tính sớm của tôm càng xanh. Năm 1990, Sagi và ctv đã ghi nhận tôm càng xanh giống
loại bỏ tuyến đực đã chuyển đổi giới tính hoàn toàn thành con cái và phát triển thành
tôm cái thật sự có khả năng giao vỹ và sinh ra thế hệ con 100% đực.
2.9.3. Cơ sở tạo đàn tôm toàn đực
Nghiên cứu bộ gen trên tôm càng xanh của Malecha và ctv (1992) đã xác định
được cặp nhiễm sắc thể giới tính của tôm càng xanh đực là đồng giao tử ZZ và của
con cái là dị giao tử WZ (Sagi và Aflalo, 2005). Việc loại tuyến đực sẽ làm cho con
đực có xu hướng cái hoá và có khả năng mang trứng. Khi đó tôm cái giả (kiểu gen
ZZ) giao phối với tôm đực bình thường (kiểu gen ZZ) sẽ cho đàn toàn đực (kiểu gen
ZZ).
Ở Việt Nam, năm 2004, Nguyễn Văn Hảo và ctv đã nghiên cứu bước đầu sản
xuất đàn toàn đực bằng kỹ thụât vi phẩu, tôm đực PL 30 – 60 ngày tuổi được chọn làm
thí nghiệm, dùng kỹ thuật vi phẩu như mô tả của Sagi và Cohen (1990) để loại tuyến
đực đạt được một số kết quả bước đầu. Trong 43 quần đàn phát hiện 7 quần đàn 100%
toàn đực, 7 tôm cái giả có thể cho sản xuất toàn đực. Theo tác giả, sau vi phẩu tôm
được thả nuôi và kiểm tra đàn con F
1
. Nếu F
1
100% toàn đực thì ta kết luận vi phẩu
thành công và con cái tạo ra được gọi là cái giả.
2.10. Các qui trình nuôi tôm càng xanh trong sản xuất giống

hạt hữu cơ rơi vào hệ lọc cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh cho hệ thống (New và
Shingolka, 1985).
2.11.2. Các quá trình sinh hóa xảy ra trong lọc sinh học
2.11.2.1. Quá trình khoáng hoá
Là giai đoạn đầu tiên của quá trình lọc sinh hoc, các chất thải chứa nitơ được
các vi khuẩn dị dưỡng hấp thụ và chuyển thành ammonia đơn giản.
Sự khoáng hoá bằt đầu bằng việc phân giải các hợp chất protein và acid nucleic
để tạo nên các acid amine và bazơ hữu cơ có chứa nitơ. Tiếp đó quá trình khoáng hoá
sẽ khử amine bởi các vi khuẩn, trong đó một nhóm amino sẽ tách ra để hình thành
ammonia.
2.11.2.2. Quá trình nitrate hoá
Gây nuôi vi
khuẩn
Nitrosomonas
Nitribacter
Nước lợ
12‰ đã qua
xử lý HỆ THỐNG BỂ ƯƠNG

Post larvae
Ngọt hóa
0‰ Ấu
trùng


kiềm. Nhóm vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter là các nhóm chính của những vi
khuẩn tự dưỡng thực hiện sự nitrate hóa ở cả môi trường nước ngọt, nước lợ, nước
mặn. Phương trình của sự nitrate hóa như sau :
NH
4
+
+ OH
-
+
2
3
O
2
= H
+
+ NO
2
-
+ H
2
0 (1)
NO
2
-
+
2
1
O
2
= NO

một quần thể sinh vật. Màng nhầy này có vai trò chuyển NH
4
+


NO
2
-
thành NO
3
-

theo sơ đồ ở hình 2.6.

Hình 2.6. Quá trình nitrate hoá ở màng nhầy sinh học
Kết quả của quá trình nitrate hoá sẽ acid hoá môi trường vì sự hình thành H
+

(xem phương trình 1 và sơ đồ màng nhầy), vì vậy để ổn định pH môi trường, thường
phải cung cấp vật liệu cho bể lọc các đá san hô, đá vôi tạo ra được Alkalinity (HCO
3
-
)
để trung hoà H
+
:
H
+
+ HCO
3

O
2
H
2
O
CO
2

H
2
O
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.5. Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện tại “Trại Thực Nghiêm Nuôi Thuỷ Sản Thủ Đức”-
Phòng Sinh Học Thực Nghiệm (658 Kha Vạn Cân, Thủ Đức). Và “Trung Tâm Quan
Trắc Môi Trường và Dịch Bệnh Thuỷ Sản” trực thuộc Viện Nghiên Cứu và Nuôi
Trồng Thuỷ Sản II (116 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1)
3.6. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ 7/3/2005 – 7/8/2005.
3.7. Vật liệu
3.7.1. Nguồn nước
Sử dụng nguồn nước lấy từ giếng khoan và nguồn nước máy làm nguồn nước
ngọt, nước biển được mang về từ Vũng Tàu. Hai nguồn nước này được xử lý và pha
trộn để có độ mặn 12‰.
3.7.2. Ấu trùng
Tôm mẹ mang trứng có nguồn gốc từ tôm đực đã được vi phẩu loại tuyến đực
có khả năng mang trứng để sản xuất đàn ấu trùng dùng cho các thí nghiệm. Các tôm
mẹ mang trứng xám được bắt từ bể nuôi tôm bố mẹ vào trong nhà giống để ấp. Ấu
trùng nở ra sau 1 – 2 ngày được bố trí cho vào bể ương.
3.7.3. Nhà giống

- Các loại hoá chất dung cho việc vệ sinh và xử lý nước hàng ngày: formol,
Chlorine, thuốc kháng sinh,…
- Kính hiển vi soi nổi với độ phóng đại quang học từ 10 – 100 lần
- Đĩa Petri nhựa và thuỷ tinh
- Môi trường TCBS
- Đèn cồn, que cấy
- Tủ ấm 37
0
C
- Cồn 70
0
và 99
0
,5
- Lọ nhựa để thu mẫu nước
3.8. Phương pháp nghiên cứu và bố trí thí nghiệm
Việc bố trí thí nghiệm được thực hiện trên hệ tuần hoàn với 20 bể ương trong
hệ thống. Chúng tôi thực hiện thí nghiệm để đánh giá hiệu quả của hệ lọc.
3.8.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm có 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 5 bể ương.
 Nghiệm thức 1: mật độ dưới 50 ấu trùng/lít
 Nghiệm thức 2: mật độ 50 – 100 ấu trùng/lít
 Nghiệm thức 3: mật độ trên 100 ấu trùng/lít
Thông qua kết quả có được của thí nghiệm trên cộng với khoả sát thêm của
chúng tôi trên 7 bể ương khác, chúng tôi tiến hành đánh giá biến động môi trường
nước ương dựa vào mật độ thả ấu trùng: <50 ấu trùng/lít, từ 50 – 100 ấu trùng/lít và
trên 100 ấu trùng/lít. Trong mỗi mật độ ương chúng tôi tiến hành phân nhóm các bể có
tỷ lệ sống khác nhau. Mỗi mật độ được phân thành 2 nhóm. Nhóm có tỷ lệ sống thấp
và nhóm có tỷ lệ sống cao.
Kết quả phân nhóm các nghiệm thức dựa vào tỷ lệ sống của thí nghiệm này

Vibrio

t
ổng số

Sự phát triển của ấu trùng
tôm
- Biến thái của ấu
trùng
- Tỷ lệ sống

Môi trường bể ương
- Nhiệt độ
- pH
- NH
3
-N
Đánh giá môi trường
đầu vào và đầu ra
của hệ lọc

Ảnh hưởng của môi
trường và tỷ lệ sống
lên biến thái của ấu
trùng
Đánh giá biến động
môi trường bể ương
Hiệu quả của hệ thống
sản xuất giống bằng
phương pháp lọc tuần

3.8.2.2. Cách vận hành hệ thống tuần hoàn
Nước được tuần hoàn từ bể ương qua hệ lọc làm sạch rồi cấp trở lại cho bể
ương.
Ấu trùng nhỏ hơn 5 ngày tuổi, bể không chạy tuần hoàn, thay nước 20%/ngày.
Sau 5 ngày tiến hành cho chạy tuần hoàn, thời gian chạy tuần hoàn khoảng 9 –
10 giờ sáng đến 3 – 4 giờ chiều (khoảng 45 giờ). Kết thúc chạy tuần hoàn khi tiến
hành làm vệ sinh bể ương.
3.8.3. Qui trình ương ấu trùng
L1
L2
L4
L3
NV
NR
Sm
Ozon
Th
Hệ thống bể ương

19
12
18 17 16 20
13 14 15 11
10

1
9 8 7 6
2 3 4 5
Hệ thống lọc
3.8.3.1. Chế độ dinh dưỡng

-N)
 Vị trí lấy mẫu: nước trong bể ương, nước đầu vào và đầu ra hệ
lọc.
 Thời gian lấy mẫu: 2 giờ chiều
 Số lần lấy mẫu: 3 lần/tuần
 Dụng cụ phân tích: bộ test Zera cho kiểm tra NH
4
-
/NH
3
với bảng
so màu.
d. Nitrite (NO
2
-N)
 Vị trí lấy mẫu: nước trong bể ương, nước đầu vào và đầu ra hệ lọc.
 Thời gian lấy mẫu: 2 giờ chiều
 Số lần lấy mẫu: 3 lần/tuần.
 Dụng cụ phân tích: bộ test Zera cho kiểm tra NO
3
-
/NO
2
với bảng so
màu.
e. Vibrio tổng số
 Vị trí lấy mẫu: nước trong bể ương, nước đầu ra hệ lọc.
 Thời gian lấy mẫu: 1giờ 30 sau khi nước được tuần hoàn trở lại bể
khoảng 3 giờ.
 Số lần lấy mẫu: 2 lần/tuần vào thứ hai và thứ năm hàng tuần cho

hoàn trong ương ấu trùng tôm càng xanh toàn đực
4.5.1. Độ pH nước đầu vào và đầu ra hệ lọc
So sánh chỉ số pH nước đầu vào và nước đầu ra của hệ lọc là khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p = 0,032 < 0,05).
Độ pH trung bình giữa nước đầu vào và nước đầu ra của hệ lọc lần lượt là 8,09
± 0,13; 8,05 ± 0,13.
Độ pH nước ra (là nước cấp trực tiếp vào bể nuôi) nằm trong ngưỡng thích hợp
của ấu trùng, theo đề xuất của New và Shingolka (1985) pH thích hợp cho tôm từ 7,0-
8,5.
Độ pH trung bình của nước đầu vào cao hơn nước đầu ra là do nước vào hệ lọc
là nước thải từ bể nuôi. Một số quá trình xảy ra trong bể ương như sự hoạt động của
ấu trùng, Artemia và chủ yếu là lượng thức ăn thừa và cặn ở đáy bể phân huỹ đã ảnh
hưởng đến pH trong bể ương (New và Valenti, 2000).
4.5.2. Biến động NH
3
-N đầu vào và đầu ra hệ lọc
0.2
0.1
0.2
0
0.05
0.1
0.15
0.2
0.25
Nước đầu
vào hệ lọc
Nước đầu ra
hệ lọc
Nước bể

-N trong bể cao hơn ngưỡng thích hợp, theo một số
tác giả New (2002) và Lee  Wickins (1992) lượng NH
3
-N trong ương nuôi ấu trùng
tôm càng xanh phải nhỏ hơn 0,1 mg/l.
Hệ lọc có khả năng xử lý được lượng NH
3
-N nhưng hiệu quả không cao, có thể
do vi sinh vật chuyển hóa ammonia thấp, thiếu một số chủng vi khuẩn hoặc hệ lọc đã
quá tải, sự hoạt động của Ozone kém hiệu quả. Và do đó khả năng xử lý NH
3
-N của
hệ lọc chưa xử lý hết lượng NH
3
-N để tạo một môi trường sống tốt cho ấu trùng.
4.5.3. Biến động NO
2
-N
1.93
0.044
0.32
0
0.5
1
1.5
2
2.5
Nước đầu vào hệ
lọc
Nước đầu ra hệ

-N trong bể ương.
Theo New và Shingolka (1985) thì không nên lấy nước nuôi có lượng NO
2
-N
cao hơn 0,1 mg/lít. Hàm lượng NO
2
-N trong bể ương đã cao gấp 3,2 lần (0,32/0,1)
ngưỡng của New và Shingolka (1985). Thực tế cho thấy lượng NO
2
-N trong nước ra
hệ lọc có những ngày tăng đến 0,2 mg/lít (Phụ lục) là cao hơn so với đề nghị của New
và Shingolka (1985) đối với nguồn nước cấp vào bể ương.
Thêm nữa lượng NO
2
-N trung bình của nước đầu vào hệ lọc chính là nước thải
ra từ tầng đáy của các bể ương. Với mức NO
2
-N trung bình 1,93 mg/l là rất cao và
ngưỡng trên của ấu trùng đối với NO
2
-N theo một số tác giả Aquacop (1977, 1983),
Griessinger (1986), Liao và Mayo (1972) là 0,35 mg/l. Như vậy lượng NO
2
-N trung
bình ở đáy bể ương đã cao hơn ngưỡng sinh lý của ấu trùng 5,5 lần (1,93/0,35).
Chúng ta thấy rằng nếu có cơ hội trộn lẫn lượng NO
2
-N này vào bể ương sẽ
làm cho lượng NO
2

Cfu/ml
Vibrio

Biểu đồ 3. So sánh hàm lượng Vibrio tổng số nước đầu ra hệ lọc với Vibrio tổng
số của bể ương
Qua kết quả khảo sát chất lượng Vibrio bằng cách nuôi cấy Vibrio trên môi
trường thạch TCBS. Kết quả cho thấy lượng Vibrio trong bể ương biến động rất lớn,
mật độ Vibrio trung bình trong bể là 22812 ± 24936 cfu/ml. Trong khi đó mật độ này
ở nước đầu ra hệ lọc (nước cấp vào bể) là 3314 ± 3989 cfu/ml (biểu đồ 3).
Theo tiêu chuẩn nghành (1995) của Bộ Thuỷ Sản đối với nước ương giống tôm
càng xanh thì mật độ Vibrio tổng số trong bể ương phải thấp hơn 1000 cfu/ml. Nước
đầu ra hệ lọc (là nước đầu vào bể ương) đã cao hơn tiêu chuẩn này 3,3 lần
(3314/1000).
Kết quả nghiên cứu của Hoa và ctv (2002) cho thấy ở mật độ Vibrio từ 10
5

10
7
cfu/ml ấu trùng tôm càng xanh chết 18 – 80% sau 48 giờ. Mức Vibrio trung bình
trong bể ương (22812  2,3x10
4
cfu/ml) tuy chưa đạt đến ngưỡng gây chết của Hoa
nhưng với mức Vibrio trung bình trong bể cao đả ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ
ấu trùng.
Nguyên nhân nước trong bể ương có mật độ Vibrio cao có thể là do môi trường
nước trong hệ lọc bị nhiễm Vibrio, hiệu quả của ozone cùng với sự hoạt động của
fresh protein skimmer không có khả năng diệt Vibrio được thể hiện qua chỉ tiêu Vibrio
của nước đầu ra cao.
 Nhật xét
Qua sự khảo sát biến động môi trường hệ lọc, chúng tôi có một số ghi nhận sau

chưa tốt, nhất là kỹ thuật chăm sóc và cho ăn hàng ngày. Vibrio cao trong bể ương
chứng tỏ nước bể ương bị nhiễm bẩn và nước bể ương nhiễm bẩn là do thức ăn thừa
trong bể ương.
 Kỹ thuật quản lý chưa tốt.
4.6. Biến động các chỉ tiêu môi trường chính của bể ương ở các mật độ ương
khác nhau
4.6.1. Biến động nhiệt độ
Bảng 4.1. Giá trị p của trắc nghiệm t đối với nhiệt độ sáng (trên đường chéo) và
nhiệt độ chiều (dưới đường chéo) của các nghiệm thức trong thí nghiệm 1 (
0
C)
Các nghiệm thức Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3
Nghiệm thức 1 1,25
(4)
±0,63
0,073
(30,16
(1)
±0,09;
30,34
(2)
±0,48)
0,019
(30,16
(1)
±0,09;
30,40

0,195
(31,61
(2)
±0,48;
31,79
(3)
±0,66) 1,35
(4)
±0,48
Chú thích: (1) nhiệt độ trung bình nghiệm thức 1, (2) nhiêt độ trung bình nghiệm thức
2, (3) nhiệt độ trung bình nghiệm thức 3, (4) độ lệch trung bình nhiệt độ trong ngày.
Dao động nhiệt độ các nghiệm thức được trình bày trong bảng 4.1. So sánh sự
khác biệt về nhiệt độ sáng và chiều trong các nghiệm thức cho thấy phần lớn không có
sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (p > 0,05) ngoại trừ nghiệm thức 1 và 3.
Sự không khác biệt nhiệt độ giữa các nghiệm thức là do các nghiệm thức cùng
được bố trí trong cùng một nhà giống nên ta thấy giá trị nhiệt trung bình cũng không
chênh lệch nhiều (bảng 4.1).
Thực tế cho thấy nghiệm thức 1 (mật độ ương thấp) thì việc duy trì mức nước
thấp trong bể để giảm thể tích khi cho ấu trùng ăn Artemia, tạo điều kiện cho ấu trùng
bắt mổi dễ dàng và cũng giảm chi phí Artemia nên đã làm cho mức nước trong bể
ương xa nguồn đèn tròn chiếu sáng nên đã làm cho nhiệt độ trung bình sáng nhỏ hơn
nghiệm thức 3 (30,40 so với 30,16 ở bảng 4.1).
Tuy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức 1 và 3 nhưng giá trị
nhiệt độ trung bình chênh lệch không đáng kể (30,4-30,16 = 0,24
0
C vào buổi sáng và
31,79-31,75 = 0,04

Bảng 4.2. Giá trị p của trắc nghiệm t đối với pH sáng (trên đường chéo) và pH
chiều (dưới đường chéo) của các nghiệm thức trong thí nghiệm 1
Các nghiệm thức Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3
Nghiệm thức 1
0,201
(7,93
(1)
±0,09;
7,97
(2)
±0,12)
0,857
(7,93
(1)
±0,09;
7,94
(3)
±0,12)
Nghiệm thức 2
0,259
(7,96
(1)
±0,09;
7,98
(2)
±0,09)


dao động pH trong bể ương từ 7,4-8,5 (phụ lục) là nằm trong khoảng đề nghị của
New.
4.6.3. Biến động NH
3
-N
Bảng 4.3. Giá trị p (in nghiêng) và giá trị trung bình (gạch dưới) của trắc nghiệm
t đối với NH
3
-N giữa các nghiệm thức trong thí nghiệm 2 (mg/l)
Các nghiệm thức Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3
Nghiệm thức1 0,284±0,105 0,48 0,75
Nghiệm thức 2 0,259±0,130 0,67
Nghiệm thức 3 0,274±0,125
Mức NH
3
-N tối ưu cho ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh theo New (2002),
Lee và Wickins (1992) thì không được cao hơn 0,1 mg/l. Theo thực tế cho thấy lượng
NH
3
-N trung bình của các nghiệm thức đã cao hơn mức đề nghị của 2 tác giả trên
(0,284; 0,259; 0,67 lần lượt đối với nghiệm thức 1, 2 và 3 ở bảng 4.3) và như vậy
NH
3
-N trong 3 nghiệm thức đã có ảnh hưởng tới sức khoẻ của ấu trùng thể hiện cụ thể
qua tỷ lệ sống của 3 nghiệm thức đều chưa cao (biểu đồ 5).
Mức NH
3
-N cao trong bể ương một phần do hiệu quả xứ lý yếu của hệ lọc và
khi nước ra từ hệ lọc cấp vào bể ương đã có một lượng NH
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status