TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN CHÍ LÂM
ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ-KỸ THUẬT
CỦA HAI MÔ HÌNH LÚA-TÔM CÀNG XANH-CÁ
KẾT HỢP VÀ TÔM SÚ NUÔI TRONG MÙA MƯA
Ở TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
3.2 Bố trí thử nghiệm.................................................................................12
3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu.....................................................14
3.4 Phương pháp điều tra...........................................................................15
3.5 Xử lý số liệu........................................................................................15
Chương IV: Kết quả thảo luận........................................................................16
4.1 Khía cạnh kinh tế và kỹ thuật của hai mô hình lúa-cá và tôm sú........16
4.1.1 Về khía cạnh kỹ thuật...................................................................16
4.1.2 Về khía cạnh kinh tế.....................................................................20
4.2 Sự tăng trưởng của tôm, cá nuôi ở hai mô hình thử nghiệm...............23
4.3 Hiệu quả kinh tế của hai mô hình thử nghiệm.....................................25
Chương V: Kết luận và đề xuất....................................................................29
5.1 Kết luận................................................................................................29
5.2 Đề xuất.................................................................................................29
Tài liệu tham khảo........................................................................................30
Phụ lục..........................................................................................................35
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
iv
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích nuôi tôm càng xanh ở các Tỉnh ĐBSCL trong năm
2005 và kế hoạch phát triển năm 2006 ...........................................................5
Bảng 2.2: Mật độ và tỷ lệ sống tôm nuôi trong mô hình tôm-lúa luân
canh ở ĐBSCL ...............................................................................................9
Bảng 4.1: Kinh nghiệm canh tác theo hai mô hình lúa-cá kết hợp và
tôm sú nuôi trong mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2005 ...................16
Bảng 4.2: Mức độ thành công của hai mô hình lúa-cá kết hợp và tôm sú
nuôi trong mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2005 ...............................16
Bảng 4.3: Diện tích, độ sâu và tỷ lệ mương bao của hai mô hình lúa-cá
kết hợp và tôm sú nuôi trong mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm
Hình 2.4b: Sản lượng nuôi tôm của Tỉnh Sóc Trăng qua các năm.................11
Hình 3.1a: Sơ đồ bố trí thí nghiệm NT tôm sú nuôi trong mùa mưa..............13
Hình 3.1b: Sơ đồ bố trí thí nghiệm NT lúa, tôm càng xanh và cá kết hợp ....13
Hình 3.2: Sơ đồ khu vực nghiên cứu...............................................................13
Hình 4.1: Tỷ lệ thu nhập từ lúa và cá trong mô hình lúa-cá kết hợp ở Mỹ
Xuyên, Sóc Trăng năm 2005...........................................................................21
Hình 4.2: Tỷ lệ các chi phí sản xuất trong mô hình lúa-cá kết hợp ở Mỹ
Xuyên, Sóc Trăng năm 2005...........................................................................21
Hình 4.3: Tỷ lệ các chi phí sản xuất trong mô hình tôm sú nuôi trong mùa
mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2005.........................................................22
Hình 4.4: Tăng trưởng của tôm càng xanh nuôi trong ruộng lúa ở Mỹ
Xuyên, Sóc Trăng năm 2006...........................................................................23
Hình 4.5: Tăng trưởng của tôm sú nuôi trong mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc
Trăng năm 2006...............................................................................................25
Hình 4.6: Tỷ lệ các chi phí sản xuất ở nghiệm thức lúa, tôm càng xanh và
cá kết hợp ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2006................................................26
Hình 4.7: Tỷ lệ thu nhập ở nghiệm thức lúa, tôm càng xanh và cá kết hợp
ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2006.................................................................27
Hình 4.8: Tỷ lệ các chi phí sản xuất ở nghiệm thức tôm sú nuôi trong
mùa mưa ở Mỹ Xuyên, Sóc Trăng năm 2006.................................................27
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long
ctv Cộng tác viên
nuôi trong mùa mưa được thả với mật độ 2 con/m
2
(2.250m
2
/lô thử nghiệm) đã
được thực hiện.
Kết quả điều tra cho thấy, mùa vụ nuôi tôm sú từ tháng 7-11 (DL), mật độ là
4-5 con/m
2
, thức ăn công nghiệp được sử dụng chủ yếu. Tỷ lệ sống và năng
suất bình quân đạt 55% và 415 kg/ha/vụ. Lợi nhuận là 11.170.000 đồng/ha/vụ.
Riêng đối với mô hình lúa-cá kết hợp, mùa vụ từ tháng 6-12 (DL). Năng suất
lúa và cá đạt lần lượt là 4,7 tấn/ha/vụ và 136 kg/ha/vụ. Lợi nhuận bình quân là
7.242.000 đồng/ha/vụ, tỷ suất lợi nhuận đạt 1,97, cao hơn so với nuôi tôm sú
trong mùa mưa (0,5).
Kết quả thử nghiệm cho thấy, trọng lượng bình quân của tôm càng xanh và cá
(NT 1) và tôm sú (NT 2) lần lượt là 13,7 g/con (sau 130 ngày nuôi), 58,9 g/con
(cá mè trắng), 60,2 g/con (cá mè vinh) và 66,7 g/con (cá trôi) sau 100 ngày nuôi và
53,3 g/con (sau 115 ngày nuôi). Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của tôm càng xanh
là 0,1 g/ngày, cá từ 0,44-0,58 g/ngày (NT 1) và tôm sú là 0,46 g/ngày (NT 2). Tỷ
lệ sống của tôm sú, tôm càng xanh và cá đạt lần lượt là 7,9% và 1,5%, 6% (cá
trôi) đến 93% (mè vinh). Năng suất đạt 21,5 kg/ha (tôm càng xanh) và 80 kg/ha
(cá) và 15,6% (tôm sú). Lợi nhuận là 4.439.000 đồng/ha/vụ (NT 1) và lỗ 240.000
đồng/ha/vụ (NT 2). Tỷ suất lợi nhuận của NT 1 (0,7) cao hơn so với NT 2 (-0,1).
Nhìn chung, mô hình lúa-cá kết hợp nên được khuyến cáo cho nông dân áp
dụng trong mùa mưa ở vùng nhiễm mặn theo mùa của tỉnh Sóc Trăng. Ngoài
ra, một số đề xuất cho sự phát triển của mô hình cũng được đề cặp trong
nghiên cứu này.
tế và môi trường. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung đánh giá và so
sánh khía cạnh kinh tế của mô hình lúa-tôm càng xanh kết hợp và nuôi tôm sú
trong mùa mưa (không trồng lúa).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2
Nội dung nghiên cứu
i. Khảo sát hiện trạng và đánh giá khía cạnh kinh tế-kỹ thuật của hai mô
hình lúa-cá và tôm sú nuôi trong mùa mưa ở tỉnh Sóc Trăng;
ii. Đánh giá sự tăng trưởng của tôm, cá nuôi trong hai mô hình này;
iii. Phân tích hiệu quả kinh tế của hai mô hình thí nghiệm.
Những hạn chế của đề tài:
i. Do không tìm được 4 hộ nông dân để hợp tác nghiên cứu nên các lô thí
nghiệm được bố trí theo cách ngăn làm 2 lô bằng mê bồ ở mỗi ruộng
của nông hộ. Điều này có lẽ cũng ảnh hưởng đến kết quả của thí
nghiệm.
ii. Do không tìm được tôm càng xanh giống lớn (2-3 cm) vào thời điểm
chính vụ trồng lúa nên việc bố trí thí nghiệm trể (tháng 9) hơn so với dự
kiến. Điều này hạn chế thời gian sinh trưởng của tôm càng xanh.
Sản lượng tôm càng xanh nuôi trên thế giới đạt 5.246 tấn vào năm 1984 và
17.608 tấn vào năm 1989, tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới đạt
119.000 tấn, với tổng giá trị 410 triệu USD vào năm 2000 và phát triển với
tốc độ nhanh. Châu Á là nơi có sản lượng tôm càng xanh lớn nhất, chiếm gần
95% tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới (FAO, 2002). Năm 2003, chỉ
riêng Trung Quốc sản xuất 300.000 tấn tôm càng xanh (Miao, 2003 - trích
dẫn từ Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004).
Mô hình nuôi kết hợp tôm càng xanh với cá hay lúa đã phát triển ở nhiều nước
trên thế giới. Ở Ấn Độ nuôi kết hợp tôm càng xanh với lúa thả nuôi với mật độ
14.000-45.000 tôm bột/ha (nuôi đơn tôm càng xanh) cho sản lượng 95-1.300
kg/ha, và thả mật độ 10.000-20.000 tôm bột/ha (nuôi ghép với cá Chép) cho
sản lượng 70-500 kg/ha (Kurup và Ranject, 2002 - trích dẫn bởi Bùi Như Ý,
2004). Còn ở Thái Lan nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa sử dụng giống
nhân tạo PL
60
kích thước 4,5-4,8 cm/con, mật độ thả 1,25 con/m
2
, kết quả tỉ lệ
sống đạt 80 %, năng suất 130 kg/ha (Janssen và Natavudh-Bhayavan, 1998 –
trích dẫn bởi Nguyễn Thành Phước, 2001). Ở Bangladesh nuôi tôm càng xanh
trong ruộng lúa bằng giống tự nhiên do thủy triều đưa vào năng suất tôm cá
thu được từ 280-450 kg/ha (Haroom và Karim, 1998 - trích dẫn bởi Đoàn Văn
Vũ, 2004). Ở Israel nuôi ghép tôm càng xanh với cá rô phi và cá chép với mật
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4
độ 0,5-1,5 con/m
2
cho năng suất 220- 780 kg/ha/vụ, trọng lượng tôm đạt 45-90
g/con (Cohen, 1984 được trích dẫn bởi Phạm Minh Truyền, 2003). Còn ở
Philippines canh tác theo mô hình này năng suất đạt 150-180 kg/ha/vụ
2.1.2 Trong nước
2.1.2.1 Tôm càng xanh
Việt Nam là một trong 13 nước có tôm càng xanh phân bố tự nhiên với sản
lượng lớn hơn một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Chúng phân bố chủ
yếu ở Nam Bộ, tập trung ở lưu vực sông Hậu, sông Tiền (Dương Tấn Lộc,
2001).
Do nguồn giống tôm càng xanh tự nhiên ngày càng cạn kiệt nên việc phát triển
nghề nuôi tôm càng xanh giống nhân tạo là một xu hướng tất yếu. ĐBSCL
được coi là vùng có diện tích nuôi tôm càng xanh lớn nhất nước. Trong năm
2002, tổng diện tích và sản lượng tôm nuôi đạt 10.000 ha và 1.400 tấn. Diện
tích và sản lượng tôm càng xanh tiếp tục gia tăng và đạt con số 5.680 ha và
2.760 tấn trong năm 2005 (Lê Xuân Sinh và ctv., 2006 - trích dẫn bởi Trương
Hoàng Minh, 2006). Theo số liệu gần đây, sản lượng tôm càng xanh nuôi của
cả nước ước đạt 6.400 tấn, trong đó các tỉnh Nam Bộ chiếm 6.012 tấn trong
năm 2005 (Báo con tôm số 121 - tháng 2/2006).
Theo kế hoạch của Bộ Thủy sản (2006), diện tích nuôi tôm càng xanh của cả
nước sẽ đạt 32.000 ha và sản lượng tương ứng đạt 60.000 tấn vào khoảng 2010.
Riêng các tỉnh ĐBSCL, diện tích nuôi trong năm 2005 và kế hoạch 2006 được
thống kê trong Bảng 2.1.
Bảng 2.1: Diện tích nuôi tôm càng xanh ở các tỉnh ĐBSCL trong năm 2005 và
kế hoạch phát triển năm 2006.
Tỉnh Đơn vị 2005 Kế hoạch 2006
Long An ha 422 500
Tiền Giang ha 38 -
Vĩnh Long ha 500 -
Đồng Tháp ha 250 500
An Giang ha 588 927
Cần Thơ ha 291 500
Bến Tre ha 2000 2100
(Nguồn: www.mekongfish.net.vn)
ruộng lúa bằng giống nhân tạo, cỡ giống dài 3-5 cm/con, mật độ thả 1-2
con/m
2
, năng suất tôm nuôi đạt 90-157 kg/ha/vụ (Trần Tấn Huy, 2002). Theo
Phạm Minh Truyền (2003), mô hình nuôi tôm càng xanh kết hợp trồng lúa ở
Trà Vinh, với mật độ 2 và 3 con/m
2
đạt năng suất tương ứng là 150 kg/ha/vụ
và 163 kg/ha/vụ sau 6 tháng nuôi. Trọng lượng và tỷ lệ sống tôm bình quân
tương ứng là 53,6 g/con và 14,1% (ở 2 con/m
2
), 46,3 g/con và 12,4% (ở 3
con/m
2
). Ngoài ra, theo báo cáo của Nguyễn Văn Hạnh (2001), tôm càng xanh
trong ruộng lúa ở Trà Vinh với mật độ 2,5-5 con/m
2
cho năng suất từ 42-375
kg/ha, với tỷ lệ sống từ 7,5-60%. Báo cáo gần đây cũng cho thấy tiềm năng
của tôm càng xanh nuôi theo các mô hình khác nhau cũng cho năng suất khả
quan. Theo Lê Quốc Việt (2005), năng suất tôm càng xanh nuôi trong ruộng
lúa và mương vườn ở tỉnh Vĩnh Long tương ứng đạt 150-350 kg/ha/vụ (mật độ
1-4 con/m
2
) và 300-537 kg/ha/vụ.
Về khía cạnh kinh tế, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng việc nuôi cá, tôm kết hợp
với lúa mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với độc canh cây lúa. Theo
nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phương và ctv. (1999) - được trích dẫn bởi
Trương Hoàng Minh (2006), năng suất cá bình quân trong mô hình lúa cá trong
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
0
100000
200000
300000
400000
500000
600000
Diện tích (ha)
1991199419992000200120022003
Việt Nam
ĐBSCL
0
20,000
40,000
60,000
80,000
100,000
120,000
140,000
160,000
180,000
200,000
Sản lượng (tấn)
1991199419992000200120022003
Việt Nam
ĐBSCL
Hình 2.1b. Sản lượng tôm nuôi của
ĐBSCL và Việt Nam, 2003 Riêng đối với mô hình tôm-lúa luân canh, đây là mô hình canh tác đã được
đánh giá là bền vững về khía cạnh kinh tế và môi trường (ACIAR, 2003).
Theo Trương Hoàng Minh và ctv. (2003), chất lượng nước trong ruộng nuôi
tôm (ở mô hình tôm-lúa luân canh) hoàn toàn phù hợp cho sinh trưởng và phát
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
ha
Soc TrangBac LieuCa MauLong AnKien Giang
Provinces
1999
2000
2001
Hình 2.3. Sự phát triển mô hình tôm-lúa luân canh ở các
Tỉnh ven biển ĐBSCL
23%
11%
9%
6%
nhưng chưa thành công đồng đều. Tỷ lệ sống bình quân của tôm
sú rất thấp từ 14,5-22,1% ở Mỹ Xuyên và Giá Rai chỉ 1,3-4,25%, nguyên nhân
là do chất lượng tôm giống kém và dịch đốm trắng gây chết tôm hàng loạt.
Ngoài ra, theo báo cáo của Thiều Lư (2001), tỷ lệ sống của tôm nuôi trong mô
hình tôm-lúa luân canh ở các tỉnh ĐBSCL giảm theo sự gia tăng mật độ nuôi
(Bảng 2.2).
Bảng 2.2: Mật độ và tỷ lệ sống tôm nuôi trong mô hình tôm-lúa luân canh ở
ĐBSCL (Thiều Lư, 2001)
Huyện Năng suất (kg/ha/năm) Tỷ lệ sống (%)
Mật độ
< 3 m
-2
3-6 m
-2
> 6 m
-2
< 3 m
-2
3-6 m
-2
> 6 m
-2
Mỹ Xuyên
(Sóc Trăng)
295 427 458 31.1 22.4 16.0
Giá Rai
(Bạc Liêu)
272 270 140 23.6 15.8 10.4
Phước Long
tấn, nhưng đến năm 2002 thì diện tích nuôi tôm sú là 34.160 ha, đạt sản lượng
16.100 tấn (Sở Thủy Sản Sóc Trăng, 2002). Đến năm 2005 diện tích nuôi thủy
sản là 55.199ha, trong đó diện tích nuôi tôm sú chính vụ là 43.311 ha (lấp vụ
8.792 ha), tổng sản lượng thu được từ nuôi và khai thác là 52.151 tấn, trong đó
tôm 37.200 tấn chiếm 71,3% (Hình 2.4a và b). Từ kết quả này cho thấy diện
tích và sản lượng nuôi thủy sản của Tỉnh trong năm 2005 tăng tương đối
nhanh gấp 1,9 lần diện tích và 6,5 lần sản lượng của năm 1998. Kim ngạch
xuất khẩu của Tỉnh cũng tăng lên và đạt 320 triệu USD (Sở Thủy Sản Sóc
Trăng, 2005).
Hình 2.4a. Diện tích nuôi tôm
của tỉnh Sóc Trăng qua các năm
Hình 2.4b. Sản lượng nuôi tôm của
tỉnh Sóc Trăng qua các năm
22.599
34.16
43.311
0
5
10
15
20
25
30
35