Chuyªn ®Ò thùc tËp
1
LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm xã hội(BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời
khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. So với các
loại hình bảo hiểm khác, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác
biệt do bản chất của nó chi phối.
Ở nước ta, BHXH là một chính sách lớn trong hệ thống an sinh xã hội.
BHXH vừa mang tính kinh tế nhưng cũng mang tính nhân đạo của Nhà nước ta
nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước những biến cố làm giảm
hoặc mất thu nhập. Mục tiêu của Nhà nước là mở rộng đối tượng tham gia
BHXH cho mọi người dân nhưng hiện nay mục tiêu đó chưa được thực hiện vì
nhiều nguyên nhân. Trong công tác BHXH nói riêng còn có nhiều tồn tại cần
được giải quyết.
BHXH cấp huyện là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý
BHXH Việt Nam, là cơ sở đầu tiên để thực hiện công tác BHXH. Thực hiện tốt
hoạt động ở BHXH cấp huyện thì mới đảm bảo cho việc thực hiện của cả hệ
thống. BHXH thành phố Vinh lă cơ quan BHXH cấp huyện trực thuộc sự quản
lý dọc của BHXH tỉnh Nghệ An. Trong thời gian 4 tháng thực tập tại BHXH
thành phố Vinh, em đã thu nhận được được một số kiến thức thực tế về công tác
BHXH và em đã tiến hành thực hiện chuyên đề thực tập về đề tài: “Thực trạng và
một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động của BHXH thành phố Vinh” nhằm xem xét
và nghiên cứu thực trạng hoạt động của BHXH TP Vinh trong giai đoạn (1995-
2002) để đóng góp một số giải pháp cho BHXH TP Vinh.
Bài viết được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về BHXH
- Chương 2: Thực trạng thực hiện BHXH trên địa bàn thành phố Vinh
- Chương 3: Phương hướng hoạt động và những biện pháp chủ yếu
nhằm thực hiện tốt hoạt động của BHXH TP Vinh.
vụ bị suy giảm v v Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết
trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn
xuất hiện thêm một số nhu cầu mới mhư: cần được khám và điều trị khi ốm đau;
tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng v v Bởi vậy,
muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và
thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau
trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà
nước v v Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ
biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải
cam kết bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định đẻ họ trang
trải những nhu cầu cần thiết khi ốm đau, tai nạn, thai sản Trong thực tế, nhiều
khi các trưòng hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi trả một đồng
nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ một lúc phải bỏ ra trong một
lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn.Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát
sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu
tranh này diền ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống
kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu
thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc
các giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng
được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm
thuê .Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung
trên phạm vi quốc gia. Qũy này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi
cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến
cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của
người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ
Chuyªn ®Ò thùc tËp
3
ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của
người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục
tiêu này đã được tổ chức quốc tế ILO cụ thể hoá như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu
cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
Chuyªn ®Ò thùc tËp
4
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu
đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
3. Chức năng của Bảo Hiểm Xã Hội
BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội của
Đảng và Nhà nước ta, BHXH có những chức năng chủ yếu sau:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia
BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất
việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho
cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi
lao động theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả
năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, người lao động cũng sẽ
được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần
thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định. Đây là chức năng
cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức
hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia
BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả người sử dụng lao
động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để
trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập.
4. Tính chất của Bảo Hiểm Xã Hội
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội
của nó thể hiện rất rõ. Quỹ BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm quốc nội
được xã hội tổ chức quản lí, bảo tồn và phân phối lại cho người lao động. Thực
chất quỹ BHXH là một phần trong tổng sản phẩm quốc nội, trong đó người lao
động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ nhưng khi gặp rủi ro được cả cộng đồng
trợ giúp để vượt qua khó khăn, hoạn nạn. Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra
được sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính
từ đó góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động, tạo
thêm được nhiều điều kiện thúc đẩy sản xuất có hiệu quả, tạo thêm được nhiều
công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dịch vụ xã hội
phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hoá Hoạt động BHXH không vì
mục tiêu lợi nhận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của
nền kinh tế, góp phần ổn định và tiến bộ xã hội. BHXH mang tính chất nhân
đạo, nhân văn, dùng tiền đóng góp khi còn trẻ khoẻ để dùng vào lúc tuổi già, đau
yếu. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia
BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiện bảo hiểm cho mọi người lao
động và gia đình họ, kể cả khi họ đang còn trong độ tuổi lao động.
Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh
tế – xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH
cũng ngày càng cao.
II . NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BHXH
1. Khái niệm về BHXH
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung
nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo
an toàn xã hội.
người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ. Điều này có nghĩa là họ
phải bỏ ra một khoản chi phí cho ngưòi lao động, nhưng thực tế chi phí này
nhanh chóng được cơ quan bảo hiểm hoàn trả lại.
Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là ngưòi lao động trong trường
hợp họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp,
hưu trí. Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối
tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội lại là thân nhân của người lao động như:
bố, mẹ, con, vợ ( chồng).
3. Phạm vi bảo hiểm xã hội
Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của tổ chức lao động
quốc tế ILO phạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:
- Chăm sóc y tế
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp thất nghiệp
Chuyªn ®Ò thùc tËp
7
- Trợ cấp tuổi già
- Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Trợ cấp gia đình
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp khi tàn phế
- Trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ
thực hiện kiến nghị đó ở mức độ kác nhau.
ở nước ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm
5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất .
4. Quỹ bảo hiểm xã hội
thì họ không được quỹ này chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có đủ thời gian dự
bị.
- Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiết
kiệm bắt buộc của xã hội và người lao động dành cho ốm đau, hưu trí. Đó cũng
là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng.
4.3. Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách
Nhà nước.
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động góp.
- Người lao động góp.
- Nhà nước góp và hỗ trợ thêm.
- Các nguồn thu khác( như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do
đầu tư phần nhàn rỗi )
Q
t
BH
= Đ
LĐ
+ Đ
SDLĐ
+ Đ
NN
+ T
ĐT
+ T
TT
+T
K
mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ– thợ. Về phía người lao động, sự đóng góp một
phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của
chính mình,vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Chuyªn ®Ò thùc tËp
9
Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì
thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể
thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Trước hết các luật lệ của Nhà
nước về BHXH là những chuẩn mực pháp lí mà cả người lao động và người sử
dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh vực
BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức khác
nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH,
mà còn trở thành chỗ dựa để đảm báo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn
định.
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
nguồn nêu trên.
Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH có khác nhau.
Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sủ dụng lao
động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào
mức lương cá nhânvà quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai
lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân
đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc để xác định mức đóng góp.
Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động
phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế
và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao
động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy
định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí Quản lí
- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó mới xác định mức hưởng.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng,
rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.
- Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật nhưng xác định phí BHXH lại
khá phức tạp vì nó liên quan cả đến người lao động, người sử dụng lao động và
nhà nước. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều
kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH
vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự
phòng. Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH
và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất.
Phí BHXH được xác định theo công thức:
P = f1+f2+f3
Trong đó : P : Phí BHXH
f1: phí thuần túy trợ cấp BHXH
f2 :phí dự phòng
f3: phí quản lí
Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối với
các chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời gian
ngắn ( thường là một năm ) như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ Vì vậy,
số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với chế độ
BHXH dài hạn như : hưu trí, trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động
hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v v quá trình đóng và quá trình hưởng BHXH
tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Cho nên
sự cân bằng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trải trong cả thời kì
dài. Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có
dự trữ đủ lớn.
Chuyªn ®Ò thùc tËp
11
C
ĐT
: chi đầu tư
C
K
: chi khác
Khoản chi thứ hai trong BHXH là chi cho việc quản lí nghiệp vụ BHXH.
Đây là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi bảo hiểm xã hội nhưng nó cũng là
một khoản chi ngày càng tăng. Bởi vì các chế độ BHXH ngày càng được mở
rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động, do đó đội ngũ cán
bộ phục vụ BHXH ngày càng nhiều dẫn đến chi lương cán bộ ngày càng lớn.
Mặt khác, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về điều kiện làm việc ngày
càng tăng. Vì vậy, chi phí cho việc xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, trang
thiết bị văn phòng ngày càng tăng lên.
Mục đích thứ ba của quỹ BHXH là chi dự trữ. Thực chất đây là quá trình
tích luỹ trong quá trình sử dụng bảo hiểm xã hội. Định kì hàng tháng (quý,
năm) cơ quan bảo hiểm xã hội tiến hành giữ lại một phần quỹ của mình để thành
lập nên quỹ dự trữ BHXH. Quỹ này chỉ được sử dụng trong trường hợp nhu cầu
chi trả lớn dẫn đến thâm hụt quỹ bảo hiểm xã hội hoặc lúc đồng tiền mất giá.
Sơ đồ1: Nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH Đóng góp từ Đóng góp từ
chủ sử dụng lao động người tham gia BHXH
Chuyªn ®Ò thùc tËp
- Xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan khi có kiểm
tra, thanh tra về BHXH của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. * Quyền hạn:
- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ
của BHXH .
Chuyªn ®Ò thùc tËp
13
- Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan BHXH có
hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.
b. Người lao động
* Trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.
- Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH.
- Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ về BHXH theo đúng quy định.
* Quyền hạn:
- Được nhận sổ bảo hiểm xã hội.
- Được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ
điều kiện hưởng BHXH theo quy định tại Điều lệ BHXH.
- Khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao
động hoặc tổ chức BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH.
c. Cơ quan bảo hiểm xã hội
* Trách nhiệm:
- Tổ chức thu, quản lí, sử dụng quỹ BHXH đúng quy định.
- Thực hiện các chế độ BHXH đúng quy định tại Điều lệ BHXH.
- Tổ chức việc trả lương hưu và trợ cấp BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện.
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về bảo hiểm xã hội.
Bhxh tỉnh, thành phố sở LĐTBXH tỉnh, t.phố Bhxh quận, huyện phòng lđtbxh quận, huyện
Ghi chú:
đại diện của bhxh ở cơ sở : Quan hệ trực tiếp ngành dọc
( chi nhánh bhxh xã, phường) : Quan hệ ngành ngang
Hội đồng quản lí BHXH Việt Nam là cơ quan quản lí cao nhất của BHXH
Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến
địa phương, gồm có:
ở Trương ương : Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương( gọi chung là tỉnh) là BHXH
tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam.
Ở các quận, huyện, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh( gọi chung là huyện)
là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.
Chính phủ
BỘ LĐTB VÀ XH
BHXHVN
Chuyªn ®Ò thùc tËp
15
Bảo hiểm xã hội Việt Nam do Tổng giám đốc quản lí và điều hành thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Thực hiện việc báo cáo định kì về thu, chi và các hoạt động về BHXH cho
Bộ lao động - thương binh và xã hội và Bộ tài chính.
- Bảo hiểm xã hội Việt Nam được quan hệ trực tiếp với cá cơ quan Nhà
nước và các đoàn thể nhân dân ở Trung ương và địa phương, với các bên tham
Chuyªn ®Ò thùc tËp
16
gia BHXH để giải quyết các vấn đề có liên quan đến BHXH theo quy định của
Bộ Luật lao động, Điều lệ BHXH.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được Thủ Tướng Chính phủ giao cho.
Cơ cấu tổ chức bộ máy giúp Tổng giám đốc BHXH Việt Nam như sau:
- Ban quản lí chế độ chính sách BHXH
- Ban quản lí thu BHXH.
- Ban quản lí chi BHXH.
- Ban kiểm tra – pháp chế.
- Ban kế hoạch—tài chính.
- Ban tổ chức cán bộ.
- Văn phòng.
- Trung tâm thông tin- khoa học.
Nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế của các đơn vị nói trên do Tổng giám đốc
quy định.
Việc bổ nhiệm, miễm nhiệm chức vụ lãnh đạo của các tổ chức nói trên do
Tổng giám đốc quyết định.
Bảo hiểm xã hội tỉnh thực hiện các nhiệm vụ về BHXH trên địa bàn tỉnh
theo quy định của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội
tỉnh do một giám đốc quản lí và điều hành. Giúp việc giám đốc có 1 – 2 phó
giám đốc. Giám đốc, phó giám đốc BHXH tỉnh do Tổng giám đốc BHXH Việt
Nam bổ nhiệm và miễm nhiệm.
Nhiệm vụ, quyền hạn, biên chế các phòng chuyên môn nghiệp vụ nói trên
nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ để giúp
đỡ lẫn nhau. ở Anh năm 1973 đã thành lập hội “bằng hữu” để giúp đỡ các hội
viên khi bị ốm đau, tai nạn nghề nghiệp.
Năm 1883, nước Phổ ( Cộng hoà liên bang Đức ngày nay) đã ban hành luật
bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới, đánh dấu sự ra đời của BHXH. Bảo
hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền của con người và được xã hội
thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc ( 10/12/1948) đã nghi: “
Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH”.
Ngày 4/6/1952, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã kí công ước Giơnevơ (102)
về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” đã khẳng định tất yếu các nước phải
tiến hành BHXH cho người lao động và gia đình họ. Theo công ước 102 tháng
6 năm 1952 tại Giơnevơ của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) phạm vi của
BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:
- Chăm sóc y tế
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp thất nghiệp
- Trợ cấp tuổi già
- Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Trợ cấp gia đình
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp khi tàn phế
- Trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Chuyªn ®Ò thùc tËp
18
Nhưng trên thực tế không phải nước nào cũng thực hiện được toàn bộ 9
chế độ trên và không phải nước nào cũng có phạm vi, đối tượng, nguồn hình
thành quỹ giống nhau. Có nghĩa là việc thực hiện BHXH ở những nước khác
nhau thì khác nhau, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước và và hoàn cảnh cụ
chức và lực lượng vũ trang, bảo hiểm xã hội Việt Nam thực sự đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động cũng như tổ chức quản lý.
Các văn bản trên đã quy định cụ thể các chế độ bảo hiểm xã hội được áp
dụng qua các giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước.
Chuyªn ®Ò thùc tËp
19
Về hệ thống tổ chức quản lí:
- Trước năm 1995 do hai nghành quản lí. Ngành Lao động Thương binh Xã
hội quản lí việc thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất, còn liên đoàn lao động Việt
Nam quản lí chi trả chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, nghỉ ngơi. Từ năm
1995 đến nay Chính phủ đã cho phép sát nhập bộ phận làm công tác BHXH ở
hai ngành lại thành tổ chức mới đó là BHXH Việt Nam, là cơ quan trực thuộc
Chính phủ có hệ thống dọc ở cấp tỉnh và huyện ở các địa phương. Về nguồn tài
chính hình thành quỹ BHXH chia làm hai giai đoạn:
- Thời kì 1962- 1993: trong giai đoạn này, quỹ BHXH được hính thành từ
nguồn thu tiền đóng BHXH với quy định chỉ có người sử dụng lao động đóng và
tỉ lệ đóng là 4,7% quỹ lương, trong đó :1% do ngành lao động Thương binh xã
hội và Bộ tài chính quản lí để chi trả các chế độ hưu trí, tử tuất; 3,7% do Tổng
Liên Đoàn Lao động quản lí để chi trả các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động. Đén năm 1987 được nâng lên 15%, trong đó 8% do nghành lao
động TBXH quản lí, 2% để lại đơn vị để trợ cấp khó khăn đột xuất, 5% do Tổng
Liên đoàn lao động Việt Nam quản lí.
Đặc điểm nổi bật là trước năm 1987 tỷ lệ đóng góp thấp, số người hưởng
chế độ BHXH ít song tỷ trọng ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho mục tiêu này lớn.
Sau năm 1987 tỷ lệ này được nâng lên song số người hưởng tăng lên, đặc biệt từ
năm 1990 với việc thực hiện các Quyết định 176/ HĐBT và 111/CP của Chính
phủ về giảm biên chế khu vực nhà nước nên số người hưởng BHXH tăng đòi hỏi
ngân sách Nhà nước phải chi bù rất lớn.
phủ cho phép.
Tiền sinh lời được sử dụng như sau:
- Trích 50% trong 5 năm để bổ sung vốn đầu tư từ xây dựng cơ sở vật chất
toàn hệ thống.
- Trích 2 quỹ khen thưởng và phúc lợi bằng 3 tháng lương thực tế toàn
ngành.
-Phần còn lại bổ sung vào quỹ BHXH.
IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA BHXH VỚI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH
KINH TẾ.
1. Mối quan hệ giữa BHXH với chính sách xã hội
Chính sách xã hội là một vấn đề rộng lớn, được cụ thể hoá và thể chế
hoá bằng pháp luật, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói
chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích cao nhất là thoả mãn
những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân
dân chính sách xã hội bao trùm lên mọi cuộc sống của con người. Trong hệ
thống các chính sách xã hội thì BHXH là một chính sách quan trọng. Chính sách
BHXH và các chính sách xã hội khác có mối quan hệ biện chứng với nhau, các
chính sách này hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết các vấn đề xã hội. Thực hiện tốt các
chính sách xã hội sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách BHXH và ngược lại thực
hiện tốt chính sách BHXH sẽ góp phần thực hiện tốt các chính sách xã hội khác.
Chẳng hạn như chính sách tiền lương là cơ sở để xác định mức đóng BHXH, vì
vậy mức tiền lương phải đảm bảo đủ trang trải các nhu cầu cơ bản của người lao
động và phần đóng BHXH do đó chính sách tiền lương hợp lí sẽ góp phần thực
hiện chính sách bảo hiểm xã hội .
Chính sách việc làm có liên quan đến chính sách BHXH được thể hiện khá
rõ nét, số người làm việc ngày càng nhiều và mức thu nhập ổn định sẽ tạo cho
BHXH có nguồn thu ổn định; ngược lại chính sách giảm biên chế, chính sách
giảm lao động làm việc trong các doanh nghiệp như quyết định 176/HĐBT,
Chuyªn ®Ò thùc tËp
hợp đồng lao động ngắn hạn, trang bị bảo hộ lao động không đảm bảo gây ra tai
nạn lao động- bệnh nghề nghiệp. Việc giải quyết hài hoà mối quan hệ này phụ
thuộc vào bản chất chế độ chính trị xã hội và năng lực quản lí của Nhà nước
trong việc tạo điều kiện tối ưu sự kết hợp sự phát triển kinh tế với việc thoả mãn
ngày càng cao nhu cầu của xã hội gắn liền tiến bộ xã hội với sự phát triển toàn
diện con người.
Chuyªn ®Ò thùc tËp
22Chuyªn ®Ò thùc tËp
23CHƯƠNGII THỰC TRẠNG THỰC HIỆN BHXH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ VINH ( TỪ 1995 ĐẾN 2002)
I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN
CÔNG TÁC BHXH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH.
1. Đặc điểm về tự nhiên.
Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị văn hoá của tỉnh Nghệ An,
có diện tích tự nhiên 64km
2
nhằm tạo ra nhiều cơ sở làm việc mới.
Thành phố Vinh có dân số 224.536 người, là thành phố có số dân chưa
đông so với loại đô thị. Nguồn bổ sung lao động hàng năm rất lớn, khoảng 2.000
người.
Thành phố Vinh nói riêng, Nghệ An nói chung là quê hương có truyền
thống hiếu học, đã đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài, nhiều trường hợp giữ
những vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị kinh tế ở trong nước. Tuy vậy
trong chiến tranh, Vinh là thành phố bị tàn phá nặng nề, các cơ sở sản xuất đều
bị phá huỷ, sức người sức của được huy động một cách tối đa. Hiện nay với
nguồn bổ sung lao động hàng năm lớn chủ yếu là học sinh hết học phổ thông và
diện hoàn thành nghĩa vụ quân sự về. Trình độ học vấn tay nghề còn thấp. Vấn
đề tạo công ăn việc làm để số lao động này có thu nhập nuôi sống bản thân và
thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước đang là gánh nặng đối với cấp uỷ và chính
quyền thành phố Vinh.
II. HỆ THỐNG QUẢN LÝ VÀ BỘ MÁY HOẠT ĐỘNG CỦA BHXH TP VINH.
1. Hệ thống quản lý.
BHXH Thành phố Vinh là cơ quan bảo hiểm cấp huyện do đó, theo quy
định chung của Chính phủ và BHXH Việt Nam nó chịu sự quản lý trực tiếp của
BHXH cấp tỉnh tương ứng là BHXH tỉnh Nghệ An, theo ngành dọc và của
phòng LĐ&TBXH thành phố vinh theo ngành ngang.
Hàng năm, BHXH thành phố Vinh chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ BHXH
Nghệ An về kế hoạch thu, chi BHXH cho các đối tượng tham gia. Ngược lại,
thông qua BHXH thành phố Vinh mà BHXH tỉnh Nghệ An nắm được số đối
tượng tham gia và được hưởng từ đó đề ra các chỉ tiêu cho những năm tới chính
xác hơn.
BHXH tỉnh.
- Theo dõi kết qủa đóng BHXH trên từng đơn vị, từng người lao động trong
từng tháng. Trên cơ sở đó thực hiện 3 chế độ BHXH là: ốm đau, thai sản và nghỉ
dưỡng sức.
- Đôn đốc, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị và người tham gia BHXH trên
địa bàn nộp đầy đủ, kịp thời ghi sổ xác nhận số thu BHXH cho người lao động
- Tổ chức thực hiện việc chi trả lương và trợ cấp cho các đối tượng hưởng
BHXH đảm bảo an toàn, đầy đủ, đúng hạn.
Chính phủ
BỘ LĐTB VÀ XH
BHXHVN