110Bảng 4.1: Dữ liệu microsatellite thu được với 3 primer
Thứ tự
Tên dòng
mTcCIR 8
mTcCIR 11
mTcCIR 15
A1 A2 A1 A2 A1 A2
1
BAL 209
288
290
298
305
252
305 298 305 232 252
7 PBC 157 288
302 295 305 235 250
8
PBC 159
288
302
298
305
235
244
9 PBC 230 286
288 305 314 235 250
10
PBC 236
290
252
14 CT1 288
288 141 314 248 250
15
CT3
288
29
0
141
305
244
248
16 CT4 269
269 150 150 242 252
17
CT5
288
250
21 CT9 286
286 150 314 248 250
Bảng 4.2: Dữ liệu microsatellite thu được với 2 primer
Thứ tự Tên dòng
mTcCIR 7 mTcCIR 18
A1
A2
A1
A2
1 BAL 209 155 157 344 346
2 BAL 244 157 157 337 344
3 BR 25 153 155 331 344
4 KKM 225 153 155 331 346
5 PBC 123 155 157 331 342
6 PBC 154 153 157 342 344
7
PBC 157
155
157
333
344
16 CT4 153 157 333 335
17 CT5 153 157 333 335
18 CT6 155 157 344 344
19 CT7 153 153 342 342 111
20 CT8 153 153 342 342
21 CT9 153 153 335 342
Allele dropping
Allele dropping là những al chỉ xuất hiện 1 lần trong 3 lần lặp lại thí nghiệm.
Đó là những al xuất hiện không ổn định, có thể do nồng độ mẫu quá thấp, hoặc bị
tạp nhiễm với 1 kiểu gen khác trong quá trình thí nghiệm, hoặc do việc thêm vào
một nucleotid adenosine (A) vào đầu 3’ của đoạn DNA khuếch đại (Smith et al.,
1996), hoặc do lỗi phân tích của máy ABI 3100. Những al đó cần được ghi nhận để
loại bỏ trong những lần phân tích sau.
Trong quá trình thí nghiệm, một số mẫu được lặp lại 2-3 lần với cùng một
primer để tìm nồng độ pha loãng thích hợp và để định danh lại mẫu mã hóa. Từ đó,
chúng tôi ghi nhận được sự xuất hiện allel dropping của một số dòng như sau:
Dòng PBC 159 có 1 allele dropping với primer mTcCIR15: al 246.
Dòng PBC 154 có 1 allele dropping với primer mTcCIR15:al 244.
Dòng PBC 154 có 1 allele dropping với primer mTcCIR18:al 331.
Dòng BAL 209 có 1 allele dropping với primer mTcCIR18:al 331.
Có 6 mẫu dưới đây chỉ mới lặp lại thí nghiệm 2 lần, do đó cần lặp lại thí
Số loci sai khác cho phép là 1.
Sự chênh lệch giữa số lượng loci đưa vào phân tích và số loci giống nhau càng
cao thì kết quả phân tích mức độ đồng nhất di truyền có độ tin cậy càng cao, hay kết
quả định danh sẽ càng chính xác và ngược lại. Còn nếu số loci sai khác càng cao thì
độ tin cậy của kết quả càng thấp, việc định danh do vậy cũng không chính xác. Hình 4.5: Các chỉ tiêu để kiểm tra mức độ đồng nhất di truyền
Kết quả phân tích cho ra 10 cặp cá thể đồng nhất di truyền thỏa mãn các chỉ
tiêu trên, đồng thời cũng là kết quả nhận diện hay định danh tương ứng với 10 mẫu 113
mã hoá. Kết quả định danh có độ chính xác cao do hoàn toàn không có loci sai khác
(mismatching loci bằng 0).
Bảng 4.3: Kết quả nhận diện trong phần mềm Cervus
**** Parameters ****
Number of loci: 3
Minimum number of loci needed for match: 2
Number of mismatching loci allowed: 1
**** Genotype matches ****
The following individuals had matching genotypes in the genotype file:
ID1 Loci typed ID2 Loci typed Matching loci Mismatching loci
BAL209 3 A10 3 3 0
BR25 3 A9 3 3 0
KKM225 3 A5 3 3 0
PBC154 3 A12 3 3 0
tích trên đủ để kết luận mẫu A2 mã hóa cho dòng cacao BAL244, mẫu A3 mã hóa
cho dòng cacao PBC123, và mẫu A14 mã hóa cho dòng cacao QH441.
Bảng 4.4: Kết quả nhận diện các mẫu mã hóa
Giống lấy mẫu
Mẫu mã hóa
Giống nhận diện
Đánh giá kết quả
BAL 244
PBC 123
QH 22
KKM22
PBC 236
QH 1213
PBC 159
BR 25
BAL 209
PBC 157
PBC 154
PBC 230
QH 441
A2
A3
A4
A5
A6
A7
Chính xác
Chính xác
Sai khác 1 al
Việc định danh này không sử dụng sự hỗ trợ của việc nhận diện kiểu hình
nhưng trên thực tế việc định danh luôn có sự hỗ trợ bằng cách nhận diện kiểu hình
dựa vào kinh nghiệm (như nhận diện qua hình dạng, màu sắc của hoa, quả) nên sẽ
đơn giản và thuận tiện hơn. 115
Nhưng lợi thế của phương pháp định danh bằng microsatellite là có thể áp
dụng từ giai đoạn cây con còn đang được ươm trong nhà lưới, chưa có hoa hay quả
để giúp cho việc nhận diện bằng kiểu hình. Uu điểm của việc định danh từ giai đoạn
cây con là giúp loại bỏ kịp thời những cây bị nhầm lẫn giống trước khi đem ra vườn
trồng.
4.5. So sánh dữ liệu microsatellite
Khi so sánh dữ liệu microsatellite của 3 giống cacao NA33, AMAZ15/15,
PA107 tại vườn sưu tập giống cacao, Đại Học Nông Lâm, với dữ liệu tương ứng
của chúng trên ngân hàng cacao thế giới ICGD chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt
ở ít nhất 2 primer (được trình bày ở 3 bảng 4.4, 4.5 và 4.6).
Như vậy 3 giống cacao NA33, AMAZ15/15, PA107 trong bộ sưu tập giống
cacao của Đại Học Nông Lâm và Ngân hàng cacao thế giới ICGD không giống
nhau, có thể do nguồn gốc lai tạo khác nhau.
Tuy nhiên, kết quả này cũng cho thấy phương pháp và kỹ thuật phân tích của
chúng tôi đúng với phương pháp phân tích microsatellite của ngân hàng cacao thế
giới. Điều này sẽ hỗ trợ cho việc so sánh sự đa dạng di truyền giữa các giống cacao
tại Đại Học Nông Lâm với các giống cacao trên thế giới dựa trên dữ liệu về
Microsatellite.
Bảng 4.5: Dữ liệu microsatellite của giống NA33
Primer 8
288 292 289 293
Al dị hợp Al dị hợp
Primer15
244 254 245 257
Al dị hợp Al dị hợp
Primer 18
333 346 340 340
Al dị hợp Al đồng hợp
Bảng 4.7: Dữ liệu microsatellite của giống PA107
PA107-ICGD
PA107
Kết quả
thí nghiệm
Kết quả trong cơ sở
dữ liệu ICGD
Primer 8
244 244 242 242
Al đồng hợp Al đồng hợp
Primer18
337 346 337 347
Al dị hợp Al dị hợp
4.6.Kết quả phân tích multiplex PCR
Một trong các lợi thế của kỹ thuật microsatellite thực hiện trên máy giải trình
QH
4
41
mTcCIR8
mTcCIR8
mTcCIR15
mTcCIR11
mTcCIR15
mTcCIR11 118
Hình 4.6:So sánh kết quả của 2 mẫu multiplex PCR giống nhau ở primer
mTcCIR8
Hình 4.7:Kết quả phân tích mẫu CT3 bằng phương pháp kết hợp 3 sản phẩm PCR
riêng biệt với 3 primer mTcCIR7, mTcCIR15 và mTcCIR11.
4.7. Kết quả phân tích tính đa dạng di truyền
Với dữ liệu microsatellite của 21 dòng cacao khảo sát nằm trong 6 quần thể:
CT, PBC, BAL, QH, BR và KKM, chúng tôi dùng phần mềm Genetix để xử lý dữ
liệu microsatellite của từng cá thể trong quần thể, từ đó mô tả được quan hệ di
truyền gần hoặc xa giữa các quần thể, cũng như giữa các cá thể trong quần thể dựa
trên khoảng cách giữa chúng trên biểu đồ. Kết quả phân tích như sau:
Các quần thể có quan hệ di truyền gần nhau:
Quần thể QH và quần thể BAL.
Quẩn thể BR, KKM và PBC.
Các quần thể có quan hệ di truyền xa nhau: