8 Hình 2.5: Vƣờn cây bị tàn phá do virus tristeza (cành
chết khô và không có trái)
Hình 2.6: Cây bƣởi bị nhiễm
bệnh virus tristeza (cây lùn và
lá bị vàng) 2.2 Các loại bệnh virus và môi giới truyền bệnh trên cây thuộc họ cam quýt
2.2.1 Các loại bệnh do virus
Loài virus citrus là
loài rất nhỏ, chỉ có thể
nhân lên trong tế bào
sống, thƣờng là tế bào của
citrus nhƣng nó cũng có
thể nhân trong cơ thể của
aphid hoặc một vài loài
làm vector khác. Bệnh
virus thì không chữa
đƣợc, khi một cây nhiễm
thì nó có thể tái nhiễm
đến khi chết. Khi cây nhiễm, nó có thể là tác nhân nhiễm cho các cây khác. Bệnh virus
thƣờng không lây qua hạt. Một vài loài virus chỉ nhiễm trên một vài loài citrus. Virus
có thể nhiễm vài tháng hoặc vài năm trƣớc khi có một vài triệu chứng. Trong một vài
trƣờng hợp, triệu chứng có thể nhanh chóng đƣợc phát hiện [27].
2.2.1.1 Citrus Tristeza virus (CTV)
Virus gây bệnh này có nguồn gốc từ nhiều năm trƣớc ở Trung Quốc. Tristeza là
dạng khác nhau của cây citrus và các nòi virus khác nhau. Khi cây đƣợc ghép trên gốc
kháng thì cây có khả năng phục hồi lại sau đó [27].
2.2.1.2 Citrus tatter leaf virus ( CTLV)
CTLV đƣợc phát hiện đầu tiên 1962,
trên cây chanh Mayer thuộc Trung Quốc.
Sau đó một vài loài virus cũng đƣợc phát
hiện trên giống chanh đó ở Australia và ở
phía Nam châu Phi [27].
Bệnh do virus dạng sợi tóc và truyền
bệnh bằng côn trùng hoặc các vector khác.
Con đƣờng chủ yếu là lây qua nhân giống
và tồn tại ở chồi. Loại virus này đƣợc
truyền qua nhựa cây, có thể truyền khi cắt cành và công cụ làm vƣờn khi cắt cây bệnh
trƣớc [7].
Hầu hết các loài citrus khi nhân từ giống có chứa loài virus này không thấy
triệu chứng. Tuy nhiên, cây nhiễm đều bị lùn, chậm tăng trƣởng, lá biến dạng và nổi u
(sƣng tấy), cành non thì ngoằn ngèo. Ảnh hƣởng rõ ràng nhất là chồi vàng (khi chồi
non ghép trên gốc ghép) [27].
10 Hình 2.8: Gốc cây bị bệnh
bong vỏ gốc thân
2.2.1.3 Citrus exocortis virus (CEV)
CEV đƣợc phát hiện đầu tiên năm 1948, ở
Australia và bây giờ nó có ở khắp nơi trên thế giới.
Hình 2.9: Các môi giới truyền bệnh trên cây thuộc họ cam quýt
A: Rệp muội xanh Aphis citricola
B: Rệp muội nâu Toxoptera citricidus
C: Rệp muội đen Toxoptera aurantii A
B
C
tiết và dinh dƣỡng, nếu không thích hợp thì số có cánh sẽ nhiều hơn và di chuyển đi
nơi khác sinh sống) [3].
Trên cam quýt có ba dạng rệp chủ yếu sau và cũng là tác nhân thuyền bệnh
virus tristeza:
Rệp muội xanh Aphis citricola
Rệp muội nâu Toxoptera citricidus
Rệp muội đen Toxoptera aurantii 2.2.2.2 Rệp sáp hại cây trồng
Icerya purchasi
Margarodidae Planocuccus citri
Pseudococcidae
Planococcus citriculus
Pseudococcidae
Chloropulvinaria
aurantii
Coccidae Saissetia coffeae
Coccidae
Anonidiella aurantii
Diaspididae
Chrysonphalus
aonidium
Diaspididae
(Theo Nguyễn Mạnh Chinh, 2002).
13 Hình 2.10: Hạt bƣởi nảy mầm 14 Bó chổ cắt bằng rêu ẩm
Dùng bọc và dây buột chặt lại
Hình 2.11: Cách thực hiện chiết cành
Cách thực hiện gồm các bƣớc chủ yếu sau đây:
Chọn cành dài khoảng 15 – 30 cm, cũng có thể làm vào mùa hè lúc đó
vỏ cây còn cứng. Sau đó, cắt lột bỏ lớp một lớp vỏ và cạo bỏ lớp vỏ cứng
bên ngoài một cách nhẹ nhàng, có thể
bổ sung indolebutyric acid lên bề mặt
lát cắt (là một loại hormon tạo rễ).
2.3.1.3 Nhân giống bằng cách giâm cành
Phƣơng pháp này dựa trên khả năng hình thành rễ phụ (rễ bất định) của các
đoạn cành đã cắt rời khỏi thân mẹ (hoặc các đoạn rễ). Ngày nay, phƣơng pháp này
đƣợc ứng dụng rộng rãi nhằm nhân giống các cây công nghiệp, cây lâm nghiệp. Ở
nƣớc ta, việc nhân giống chanh bằng phƣơng pháp giâm cành rất phổ biến nhằm tạo
Nhân đƣợc nhiều cây giống.
Cây có bộ rễ ăn sâu, chống đƣợc gió bão va chạm tốt hơn so với giâm cành,
chiết cành.
Sử dụng đƣợc các đặc tính tốt của cây mẹ làm gốc ghép nhƣ chịu hạn, chịu
úng, chịu lạnh …
Cây cao có thể làm thấp xuống nhờ ghép.
Áp dụng đƣợc với những cây không hạt.
Phục tráng cho những cây già, quý hiếm.
Thay đổi đƣợc tính trạng đực khi ghép cây cái lên cây đực.
Nhƣợc điểm
Kỹ thuật ghép tiến hành phức tạp hơn giâm cành, chiết cành.
Cần phải có kiến thức nhất định về cây tiến hành ghép.
Cần phải nghiên cứu khi ghép khác họ khác loài.
Có khoảng 30 loại bệnh lây lan qua đƣờng ghép do mycoplasma, virus,
viroid, vi khuẩn. 16 Biểu bì
Nhu mô
Cƣơng mô
Libe
Tƣợng tầng
Nhu mô tủy
Thân cây hai lá mầm
Mộc
Hình 2.12: Thân cây hai lá mầm
Hai bộ phận ghép phải đƣợc áp chặt nhau để tăng khả năng kết dính, chỗ
ghép không đƣợc dơ, nóng hay bị ẩm ƣớt. 17 Cành
ghép
Gốc ghép
Cài hai lƣởi gà vào
với nhau
Dùng kẹp
kẹp lại
Cắt rời cành ghép
khỏi gốc ghép
Hình 2.13: Cách ghép áp
A : Gốc ghép
B : Tạo lƣỡi gà cho gốc ghép
C : Cành ghép cũng đƣợc tạo lƣỡi gà
D : Áp cành ghép và gốc ghép lại
E : Dùng dây quấn chặt cành ghép vào gốc
ghép.
Hình 2.14: Cách ghép cành
Muốn cho cành ghép tiếp hợp vào gốc ghép, nhất thiết phải có một bộ phận
của mô phân sinh ở cành ghép tiếp xúc tƣơng đối chặt với một bộ phận tƣợng tầng của
gốc ghép.
(c) Các phƣơng pháp ghép
Ghép áp