Luận văn : NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG CHUYỂN NẠP GEN CỦA HAI GIỐNG BÔNG VẢI SSR60F VÀ COKER 312 BẰNG VI KHUẨN Agrobacterium tumefaciens part 4 - Pdf 19


31
Khả năng chuyển nạp đoạn DNA của Agrobacterium vào trong tế bào cây
cung cấp một công cụ mạnh cho công nghệ sinh học thực vật và do đó chuyển nạp
gene qua trung gian vi khuẩn Agrobacterium là một trong những kỹ thuật đƣợc sử
dụng phổ biến trong chuyển nạp gene cây trồng. Trong thời gian ban đầu, phƣơng
pháp này bị hạn chế chỉ thực hiện trên cây hai lá mầm do tin rằng Agrobacterium chỉ
có thể nhiễm vào cây hái lá mầm. Sau này, ngƣời ta tìm ra rằng mặc dù Agrobacterium
chỉ tạo khối u trên cây hai lá mầm nhƣng nó có thể nhiễm vào cây một lá mầm và
không tạo khối u. (Ziemienowicz, 2001).

Hình 2.5. Mô hình chuyển nạp T-DNA từ tế bào vi khuẩn vào tế bào cây
(nguồn Zhu và ctv., 2000).

32
CHƢƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Vật liệu
Giống bông vải: hạt của giống bông vải Coker 312 (đối chứng), SSR60F đƣợc
thu từ nhà lƣới của Bộ Môn Công Nghệ Sinh Học, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu
Long. Hạt của các giống bông vải này phải đảm bảo là các hạt tự thụ.
Mẫu cấy: Trụ hạ diệp của cây mầm 5-7 ngày tuổi.
Dụng cụ, hóa chất, nguồn vi khuẩn và hóa chất: Các dụng cụ và hóa chất
chuẩn bị cho nuôi cấy mô, chuyển nạp gen và xét nghiệm sinh học của phòng thí
nghiệm Công Nghệ Gen, Bộ Môn Công Nghệ Sinh Học, Viện Lúa Đồng Bằng Sông
Cửu Long (phụ lục).

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
Địa điểm: Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại phòng thí nghiệm Công Nghệ Gen,
Bộ Môn Công Nghệ Sinh Học, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, Cờ Đỏ, Tp. Cần

33
rửa nhiều lần với nƣớc cất vô trùng (5lần) và ngâm qua đêm trong nƣớc cất vô trùng.
Ngày hôm sau, hạt đƣợc lấy ra rửa hai lần với nƣớc cất tiệt trùng, sau đó khử trùng tiếp
bằng HgCl
2
0,1% (w/v) trong 2 lần, mỗi lần khử trùng 5 phút. Giữa hai lần khử trùng
bằng thủy ngân, hạt đƣợc rửa 3 lần bằng nứơc cất vô trùng. Sau khi khử trùng, hạt
đƣợc bóc bỏ vỏ và cấy vào môi trƣờng nảy mầm MSG (phụ lục 4). Mẫu đƣợc nuôi cấy
trong tủ cấy (Sanyo MLR35OH, Nhật) ở nhiệt độ 29
0
C dƣới ánh sáng huỳnh quang, độ
ẩm tƣơng đối bằng 50%. Từ cây mầm 5-7 ngày tuổi (hình 3.1) đã đƣợc chuẩn bị ở
bƣớc trên, trụ hạ diệp đƣợc cắt cẩn thận (khoảng 5 mm) và đƣợc dùng làm vật liệu cho
các thí nghiệm chuyển nạp gen.

Hình 3.1. Cây mầm trên môi trƣờng nảy mầm. A: hạt mầm sau
xử khử trùng đƣợc cấy lên môi trƣờng nảy mầm, B: Cây Coker
312 5 ngày tuổi

3.3.1.2. Nguồn Plasmid
Plasmid pManCa (Hoa và Bong, 2003) mang gen pmi (phosphomannose
isomerase) giúp tế bào thực vật biến dƣỡng đƣờng mannose và gen chỉ thị gus trong
chủng vi khuẩn A. tumefaciens LBA4404 (Hoekema và ctv ,1984) đƣợc sử dụng trong
nghiên cứu này ( hình 3.2).

34

Hình 3.2. Sơ đồ vectơ pManCa mang gen pmi

3.3.1.3. Chuẩn bị vi khuẩn

nhƣng có vài thay đổi.
Mẫu trụ hạ diệp đƣợc cắt thành nhiều đoạn dài khoảng 5 mm. Các khúc cắt này
đƣợc ngâm trong dung dịch vi khuẩn pha loãng (OD
600
= 0,6) trong 20 phút (thay vì 5
phút), sau đó đem lắc chung dịch vi khuẩn và mẫu trụ hạ diệp trên máy lắc với tốc độ

35
50 rpm trong 10 phút. Sau đó, dịch vi khuẩn đƣợc loại bỏ, mẫu trụ hạ diệp đƣợc làm
khô trên giấy thấm tiệt trùng. Khi các mẫu trụ hạ diệp khô sẽ đƣợc cấy chuyển sang
các đĩa Petri chứa môi trƣờng lây nhiễm (thay vì đặt mẫu lên giấy lọc trong đĩa petri
chƣa 50 ml môi trƣờng) MSCo (phụ lục 5). Các đĩa mẫu này đƣợc giữ trong tủ nuôi
cấy mô thực vật ở 21
0
C, với điều kiện chiếu sáng liên tục trong 3 ngày.

3.3.1.5. Thanh lọc và tái sinh mẫu lây nhiễm
Sau 3 ngày đồng nuôi cấy với vi khuẩn các mẫu trụ hạ diệp đƣợc rửa bằng nƣớc
cất tiệt trùng và kháng sinh carbenicillin để ức chế vi khuẩn Agrobacterium
tumefaciens. Sau khi rửa các mẫu trụ hạ diệp đƣợc làm khô bằng giấy thấm tiệt trùng
và chuyển sang môi trƣờng phục hồi MSRec (phụ lục 6) có bổ sung thêm 500 mg/l
carbenicillin. Các mẫu này sẽ đƣợc nuôi cấy một tuần ở 28
0
C với quang kỳ 16 giờ
sáng/ 8 giờ tối. Sau đó, các mẫu đƣợc cấy chuyền sang môi trƣờng thanh lọc MSS
(phụ lục 7) chứa glucose và mannose ở nồng độ thăm dò theo sự tăng dần nồng độ
mannose (25-35 g/l) và giảm dần nồng độ glucose (10-0 g/l). Qua 3 lần thanh lọc, mỗi
lần cách nhau 2 tuần hoặc đến khi nghiệm thức đối chứng cho thấy tất cả các mẫu nuôi
cấy đều chết.
Bảng 3.1. Nồng độ mannose và glucose qua ba lần thanh lọc

Tỷ lệ sống sót của các mẫu lây nhiễm đƣợc theo dõi qua các lần thanh lọc. Tỷ lệ
sống sót đƣợc theo dõi nhằm đánh giá hiệu quả thanh lọc của mannose cũng nhƣ cho
phép có kết luận sơ bộ về khả năng đáp ứng chuyển nạp gen của các giống.
Phần mềm sử dụng trong quá trình phân tích số liệu: Microsoft Excel
(Microsoft Office 2003).

37
Bảng 3.2. Tóm tắt quy trình chuyển nạp gen vào cây bông vải bằng vi khuẩn
Agrobactrieum tumefaciens.
Bƣớc
Nội dung thực hiện
Hình minh họa
Thời
gian
(ngày)
1. Tạo
vật
liệu
Hạt đƣợc khử trùng bằng cồn
70
0
trong 2 phút và dung dịch
HgCl
2
0,1% (w/v) trong 20
phút (2 lần), rửa lại bằng nƣớc
cất tiệt trùng 5 lần, ngâm hạt
trong nƣớc cất tiệt trùng qua
đêm, bóc bỏ vỏ, cấy hạt lên
môi trƣờng nảy mầm MSG.

Sau 7 ngày phục hồi, mẫu trụ
hạ diệp đƣợc cấy chuyển lên
môi trƣờng thanh lọc (MSS)
có mannose với nồng độ tăng
dần (2,5-3,5%, w/v) và
glucose có nồng độ giảm dần
(1%- 0%, w/v). Các mẫu đƣợc
thanh lọc qua ba lần. 42-56

38
CHƢƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Sự hình thành mô sẹo
4.1.1. Đặc điểm hình thái mô sẹo
Các khúc trụ hạ diệp (khoảng 5 mm) sau 3 ngày đồng nuôi cấy với vi khuẩn
(hình 4.1) đƣợc rửa với nƣớc và kháng sinh để ức chế vi khuẩn. Sau khi rửa, các mẫu
lây nhiễm đƣợc cấy chuyển lên môi trƣờng phục hồi MsRec. Sau 7 ngày trên môi
trƣờng phục hồi MsRec (sau 10 ngày), các mẫu lây nhiễm và mẫu đối chứng bắt đầu
hình thành mô sẹo (hình 4.2). Đặc biệt là một số mẫu lây nhiễm hình thành mô sẹo khá
sớm (sau 5 ngày trên môi trƣờng MsRec). Tuy nhiên, các mô sẹo lúc này còn nhỏ và
có màu xanh trong. Sau 7 ngày (sau 10 ngày) trên môi trƣờng phục hồi, các mẫu lây
nhiễm đƣợc cấy chuyển lên môi trƣờng thanh lọc lần 1 (MSS1). Hình 4.1. Các khúc trụ hạ diệp đồng nuôi cấy với vi khuẩn (A: Giống Coker 312,
B: Giống SSR60F)

thanh lọc lần 2, màu xanh vàng và mức độ rời của các mô sẹo chƣa rõ ràng. Sau 14
ngày (sau 38 ngày) trên môi trƣờng thanh lọc lần 2 các mô sẹo đƣợc tách nhỏ và cấy
chuyển lên môi trƣờng thanh lọc lần 3 (MSS3). Hình 4.4. Mô sẹo giống Coker 312 sau 2 tuần trên môi trƣờng thanh lọc
lần 2 (A: đối chứng, B: mẫu lây nhiễm)

Sau 14 ngày trên môi trƣờng thanh lọc lần 3 (sau 52 ngày), trong 2 thí nghiệm
đầu tiên, các mô sẹo đƣợc cấy chuyển trực tiếp lên môi trƣờng thanh lọc lần 3. Khi đó,
các mô sẹo của cả mẫu đối chứng và mẫu lây nhiễm có kích thƣớc lớn gấp khoảng 3-4
lần khối mô sẹo trên môi trƣờng thanh lọc lần 1. Các mô sẹo có xu hƣớng rời rạc và có
màu xanh vàng rõ ràng hơn so với khi trên môi trƣờng thanh lọc lần 2. Hơn nữa, trên
các mô sẹo của các mẫu lây nhiễm có xuất hiện các vùng màu xám bên cạnh các cụm
mô sẹo mới màu xanh vàng (hình 4.5 A). Các mô sẹo màu xanh vàng và màu xám này
xuất hiện sau 42- 56 ngày, nhƣng Chaudhary và ctv. (2003) đã báo cáo các mô sẹo này
xuất hiện sau 30-40 ngày.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status