Luận văn : Áp dụng qui trình nuôi chín noãn in vitro trên heo và chó part 1 pot - Pdf 19


1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay trong lĩnh vực chăn nuôi, một thành tựu đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc
của kĩ thuật nuôi cấy tế bào sinh dục là khả năng tạo được hợp tử bên ngoài cơ thể mẹ
thông qua sự kết hợp tinh trùng và noãn trong điều kiện in vitro. Ở động vật, nguồn
phôi dồi dào có thể phục vụ cho các mục đích khác nhau như: tạo động vật chuyển
gen, khai thác nguồn tế bào mầm, nhân bản động vật, tạo đàn thú có điều kiện thí
nghiệm tương đương nhau phục vụ nghiên cứu khoa học… Nhưng dù với mục đích gì,
cũng cần phải qua khâu tạo nguồn noãn chín đồng loạt. Đó là bước căn bản trong thao
tác liên quan đến khoa học về sinh sản.
Ngày 24/04/2005, các nhà khoa học của đại học quốc gia Seoul đã thành công
khi cho sinh sản vô tính một giống chó săn Afganistan (trích báo tuổi trẻ số ra ngày
05/08/2005). Trên thế giới, công nghệ sinh học trong lĩnh vực sinh sản nói chung và
việc tạo noãn chín in vitro nói riêng rất phổ biến, nhưng ở Việt Nam vẫn còn rất hạn
hẹp. Noãn heo là nguồn noãn dồi dào và có thể giúp hoàn thiện thao tác lấy noãn và
nuôi noãn. Trên chó có một số giống quý hiếm nhưng chu kỳ sinh sản của chúng rất
dài và tỉ lệ nuôi thành công rất thấp, do đó chọn nuôi trứng trên chó rất có ý nghĩa.
Vì những lý do trên, đề tài “Áp dụng qui trình nuôi chín noãn in vitro trên heo
và chó” được tiến hành.

1.2. Mục tiêu và yêu cầu
Mục tiêu
Góp phần xây dựng hệ thống qui trình nuôi cấy phôi trong điều kiện Việt Nam.

Yêu cầu
Phân loại nang noãn trên buồng trứng heo và chó.
Áp dụng phương pháp nuôi chín noãn heo và chó.
Áp dụng phương pháp nhuộm nhiễm sắc thể và thể cực của noãn chín.

nhưng pha nang noãn thì không có relaxin. Relaxin cũng không xuất hiện trong
buồng trứng heo cái tơ.
Nang noãn thành thục thì tế bào hạt trong biểu mô tiết ra nhiều estrogen.
Estrogen làm gia súc biểu hiện động dục. Estrogen gồm estradiol và sản phẩm
hóa học của nó là estrol và estriol. Estrogen liên quan đến đặc tính sinh dục thứ

3
cấp của gia súc cái, làm âm đạo tiết nhiều dịch nhầy, sừng tử cung và ống dẫn
trứng được tăng cường dòng máu, tuyến vú phát triển, vỏ não hưng phấn.

Hình 2.1: (a) Estradiol (b) Estriol
Sau khi xuất noãn, nguyên sinh chất bên trong nang noãn tích tụ sắc tố
thể vàng. Thể vàng tiết hormon progesteron. Progesteron vào máu, ức chế phân
tiết gonadotropin từ tuyến yên và ức chế sự chín của nang noãn, kích thích sự
hoạt động của niêm mạc tử cung để trứng được thụ tinh về nơi làm tổ và phát
triển, ức chế co bóp của tử cung, giảm hormon thùy sau của tuyến yên trong
thời gian gia súc có chửa và thúc đẩy tuyến vú phát triển.

Hình 2.2: Progesteron
2.1.3. Buồng trứng heo và chó
2.1.3.1. Buồng trứng heo [6]
Buồng trứng heo hình chùm dâu, có màu hồng vân, nằm hai bên hốc
bụng. Trọng lượng buồng trứng tăng từ ngày thứ 3 đến ngày 12 sau động dục vì
thể vàng phát triển. Đường kính thể vàng đạt tối đa 11 mm vào ngày 15 và giảm
dần do thoái hóa.
Màu và cấu trúc thể vàng thay đổi theo thời gian. Thể vàng có màu đỏ
sậm vào ngày thứ 3, tím tái vào ngày 15 và màu kem hơi vàng và trắng dần vào
ngày 15 – 18. Ngày thứ 3 có cục máu đỏ sậm ở giữa thể vàng, ngày thứ 6 cục
máu được thay thế bởi mô liên kết hoặc bởi dịch hơi vàng, đến ngày 16 – 18 có
nhiều mạch máu. Lúc bắt đầu động dục của chu kỳ tiếp theo thể vàng thoái hóa,

Màng giữa gồm nhiều tế bào, được sinh ra từ tế bào nang, là lớp nuôi
dưỡng noãn. Màng giữa gọi là màng trong suốt. Màng này đảm bảo dinh dưỡng
cho noãn trong buồng trứng. Trong màng chứa enzym zonalizin – men đặc hiệu
chủng loài có tác dụng ngăn ngừa tinh trùng khác loài đi vào nhân noãn trong quá
trình thụ tinh.
Màng trong là lớp màng mỏng bao quanh phần nguyên sinh chất gọi là
màng noãn hoàng hay màng nguyên sinh chất. Màng này có tác dụng nuôi

5
dưỡng noãn đã thụ tinh. Giữa màng trong suốt và màng noãn hoàng có khoảng
trống dày 14 – 25 µm, pH 3 – 5, chứa dịch có nồng độ ion cao.
2.2.2. Các giai đoạn phát triển của nang noãn và noãn
Quá trình hình thành nang noãn xảy ra ở lớp vỏ buồng trứng, từ những
nang noãn nguyên thủy phân bố ở vùng ngoại biên. Ở thời kì sau thai, nang
noãn không ngừng được hình thành và phát triển từ biểu mô phôi thai.
Quá trình hình thành noãn gồm 7 bước: sinh tế bào mầm nguyên thủy
(PGC – primordial germ cells); di chuyển PGC tới tuyến sinh dục; định vị PGC
trong tuyến sinh dục; biệt hóa PGC thành noãn nguyên bào; tăng số lượng noãn
nguyên bào; bắt đầu giảm phân; dừng ở giai đoạn nhân đôi prophase I [26].
Từ PGC trở thành nang noãn được bọc bằng tế bào dẹt, nó biến thành
nang quá độ. Song song với quá trình giảm phân, nang quá độ nổi lên từ vùng
vỏ và chứa một noãn được bao quanh bởi một lớp tế bào sinh dưỡng, gọi là tiền
tế bào hạt. Tế bào sinh dưỡng miền vỏ có nguồn gốc từ tế bào biểu mô bề mặt
di chuyển ngược vào buồng trứng và tế bào hạt có nguồn gốc từ tế bào trung
thận di chuyển xuyên qua buồng trứng (Sawyer và cs, 2002) [29]. Ở cừu, noãn
quá độ có đường kính 25 – 53 µm, noãn đang biệt hóa là 17 – 22 µm và noãn
nguyên bào 13 – 17 µm, điều đó chứng tỏ tế bào mầm tăng trưởng trước, trong
và sau quá trình tạo nang noãn (Mc Natty và cs, 2000) [20].
Từ nang quá độ phát triển thành nang bậc một. Nang bậc một chỉ chứa
một lớp tế bào hạt bao quanh, giai đoạn chuyển thành nang bậc một chậm hơn


Hình 2.3 : Các giai đoạn phát triển của nang noãn [37]

2.2.3. Biến đổi đại thể của nang noãn
2.2.3.1. Nang noãn heo [6]
Đường kính trung bình của nang noãn lớn tăng dần đến ngày thứ 18 của
chu kì, đạt tối đa 9 mm. Nang noãn lớn có thể được thấy vào 18 giờ sau khi bắt
đầu động dục nhưng sau đó sự thay đổi kích thước lại biến động. Kích thước
của nang chưa đủ đánh giá vì đường kính nang khá biến động lúc xuất noãn.
Nang noãn
bậc 3
Nang bậc hai

Nang bậc hai
Nang bậc ba

7
Màu của nang noãn trưởng thành là màu hồng vỏ sò, do mạng mạch máu
nằm dưới bề mặt nang noãn. Vùng trong suốt của đỉnh nang noãn là nơi xuất
noãn. Khi xuất noãn, thành nang noãn vỡ và dịch hơi đỏ xuất hiện ở bề mặt
nang noãn. Điểm vỡ vẫn có thể thấy được vào ngày 12 sau động dục.
Động mạch xung huyết và tràn máu vào nang noãn dẫn tới noãn xuất
huyết, hiện tượng này thường xuất hiện trên heo. Khi xuất noãn, nang nhuộm
đỏ và đứt mạch máu, thành nang xẹp xuống và xuất hiện dịch đỏ trên bề mặt.

của FSH (follicle stimulating hormone) và LH (luteinizing hormone) trong
huyết thanh. FSH giữ vai trò chủ đạo cho việc khởi đầu sự hình thành xoang
nang, kích thích quá trình nguyên phân của tế bào hạt và quá trình hình thành
dịch nang. Ngoài ra, FSH tăng khả năng cảm ứng của tế bào hạt đối với LH
bằng cách tăng số lượng các thụ thể LH. Ở heo, các thụ thể LH tăng từ 300
(trong các nang bé) và lên 10.000 (trong các nang lớn trước xuất noãn). Tăng
LH chuẩn bị cho quá trình thể vàng hóa của tế bào hạt.
Trong giai đoạn tạo nang bậc hai, sự tăng kích thước, tăng số tế bào hạt
và số nang noãn tịt bị ảnh hưởng bởi lượng kích dục tố. FSH kích thích tạo cầu
nối ở tế bào hạt. LH quan trọng hơn FSH trong phát triển nang bậc hai vì qua
thụ thể LH ở tế bào bao nang, khởi động sinh tổng hợp androgen để kích thích
tạo thụ thể FSH ở tế bào hạt, do đó tăng ảnh hưởng FSH lên nang bậc hai [34].
Ở giai đoạn này, người ta cũng phát hiện GH (growth hormone) làm tăng sự
phát triển in vitro của nang bậc hai trên chuột (Liu và cs, 1998) [14].
Trong giai đoạn tạo nang xoang, nang xoang giai đoạn sớm có thụ thể
FSH ở tế bào hạt nhưng chưa phụ thuộc vào kích dục tố. Ở giai đoạn này tế bào
bao nang tăng tiết steroid, trong khi tế bào hạt mất aromatase (loại enzyme biến
đổi androgen thành estrogen). Điều này chứng tỏ rằng progesteron và androgen
mà không phải estrogen là những hormon steroid được tạo bởi nang xoang giai
đoạn sớm. Trong nang xoang giai đoạn sau, có hiện tượng giảm FSH, nang
noãn tiết nhiều estradiol và inhibin và có khả năng xuất noãn. Những nang còn
lại phát triển bất thường và trở thành nang tịt.
Trong giai đoạn nang noãn trưởng thành, tuyến yên tiết LH tối đa và
nang có khả năng xuất noãn.

9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status