BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VŨ THÀNH TRUNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU
CỦA ĐỘNG MẠCH THÂN TẠNG VÀ ĐỘNG MẠCH
GAN NGOÀI GAN Ở NGƯỜI VIỆT NAM
LUẬN VĂN TỐT NGIỆP THẠC SỸ Y HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ Y HỌC
Chuyên ngành: Giải phẫu
Mã số: 62.72.01.10
Hướng dẫn khoa học: TS Trần Sinh Vương
HÀ NỘI, 2010
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành cuốn luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của các phòng, ban, bộ môn, các thầy, các anh, chị, các bạn đồng nghiệp, và gia
đình.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Vũ Thành Trung
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………………
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU…………………………… 1
1.1.Giải phẫu động mạch thân tạng…………………….…………… 1
1.1.1 Nguyên ủy, đường đi…………………………………………. 1
1.1.2 Liên quan…… ………………………………………………. 3
1.1.3 Sự phân nhánh…… …………………………………………. 3
1.1.4 Lược sử nghiên cứu giải phẫu động mạch thân tạng……… 5
1.2. Giải phẫu động mạch gan………………………………………… 9
1.2.1. Nguyên ủy, đường đi, liên quan………………………………… 9
1.2.2. Phân nhánh……………………………………………………… 9
1.2.3. Lược sử nghiên cứu giải phẫu động mạch gan………………… 13
1.3. Một số nghiên cứu ứng dụng của động mạch thân tạng………… 21
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP……………………. 23
2.1. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………. 23
2.1.1. Mẫu nghiên cứu……………………………………………… 23
2.1.2 Cách chọn mẫu……………………………………………… 23
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu…………………………………………. 23
2.2. Phương pháp nghiên cứu………………………………………… 24
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu………………………………………… 24
2.2.2 Các kỹ thuật nghiên cứu giải phẫu ………………………….
26
2.3 Các phương tiện, vật liệu phục vụ nghiên cứu…………… ……… 27
2.4. Xử lý số liệu……………………………………………………… 27
ĐM: động mạch.
ĐMCB: động mạch chủ bụng.
ĐMGC: động mạch gan chung.
ĐMGP: động mạch gan phải.
ĐMGR: động mạch gan riêng.
ĐMGT: động mạch gan trái.
ĐMT: động mạch tỳ.
ĐMTT: động mạch thân tạng.
ĐM MTTT: động mạch mạc treo tràng trên.
ĐMVT: động mạch vị trái.
TM: tĩnh mạch
ĐẶT VẤN ĐỀ
Động mạch thân tạng ( coeliac trunk) là nhánh bên lớn nhất của động
mạch chủ bụng cấp máu cho hầu hết các tạng ở tầng trên mạc treo đại tràng
ngang, những tạng quan trọng của hệ tiêu hóa ( gan, phần lớn tụy, dạ dày )
và hệ tuần hoàn ( tỳ ). Các biến đổi giải phẫu của động mạch thân tạng rất đa
dạng và xuất hiện với tần số tương đối lớn. Sự lạc chỗ của nguyên ủy động
mạch thân tạng có thể dẫn tới một số bệnh lý liên quan của các tạng mà nó
nuôi dưỡng . . .Các động mạch cấp máu cho gan có thể từ động mạch thân
tạng nhưng cũng có thể đến từ các nguồn mạch khác (động mạch mạc treo
tràng trên, động mạch chủ bụng, động mạch vị trái…). Các biến đổi giải
phẫu về động mạch của gan ảnh hưởng lớn tới sự an toàn của cuộc phẫu
thuật về gan [33]. Khẩu kính động mạch có vai trò quan trọng đối với phẫu
thuật ghép gan. Động mạch có kích thước nhỏ thường dễ gây tắc mạch [13].
Với tầm quan trọng như vậy, sự hiểu biết về các biến đổi giải phẫu của động
mạch này và các kích thước của nó thực sự có ý nghĩa trong chẩn đoán và
điều trị một số bệnh lý có liên quan.
1.1 Giải phẫu động mạch thân tạng.
1.1.1 Nguyên ủy, đường đi: Động mạch thân tạng (coeliac trunk ) là một thân
động mạch ngắn, chiều dài khoảng 1,25 cm [1],[9], có nguyên ủy từ mặt trước
của động mạch chủ bụng, ngay dưới lỗ động mạch chủ của cơ hoành, ngang mức
đĩa gian đốt sống D12 và L1, đi gần như theo chiều ngang ra phía trước rồi chia
thành ba ngành cùng là động mạch vị trái (left gastric artery), động mạch gan
chung(common hepatic artery), và động mạch tỳ(splenic artery), đôi khi còn cho
ra một động mạch hoành dưới [9].
Hình1.1. Động mạch thân tạng , theo Gray 18 [21].
Đm thân tạng
Đm chủ bụng
2
- Động mạch thân tạng thường tách độc lập từ động mạch chủ bụng,
trường hợp hiếm gặp, nó tách ra từ thân chung với động mạch mạc treo tràng
trên [7],[9].
ĐM
ch
ủ bụng
Dây chằng cung
giữa của cơ
TM đơn
TM bán đơn
ĐM thân tạng
3
1.1.3 Sự phân nhánh của động mạch thân tạng.
Theo mô tả của các sách giáo khoa giải phẫu [1],[2],[5],[7],[20],[21], động
mạch thân tạng thường tách thành ba nhánh là động mạch vị trái, động mạch tỳ
và động mạch gan chung.
Động mạch vị trái (left gastric artery) là nhánh nhỏ nhất trong ba nhánh
của động mạch thân tạng, chạy chếch lên trên, sang trái đến phía sau tâm vị. Ở
đây nó tách ra các nhánh thực quản, động mạch này cho nhánh tiếp nối với các
động mạch thực quản củ
a động mạch chủ ngực, những nhánh khác cung cấp máu
cho một phần tâm vị, tiếp nối với các nhánh của động mạch tỳ. Sau đó nó chạy
từ trái sang phải, dọc theo bờ cong nhỏ của dạ dày đến môn vị, giữa hai lá của
mạc nối nhỏ, nó tách ra các nhánh cho các thành của dạ dày và tiếp nối với động
mạch vị phải.
được gọi là động mạch tụy lớn. Những nhánh tụy tiếp nối với các nhánh tụy của
động mạch vị tá tràng và động mạch mạc treo tràng trên.
Các động mạch vị ngắn (short gastric arteries) bao gồm 5-7 nhánh nhỏ,
tách ra gần chỗ tận hết của động mạch tỳ. Các động mạch này đi từ trái sang
phả
i, giữa các lớp của các dây chằng vị tỳ, và được phân phối đến bờ cong lớn
của dạ dày, tiếp nối với các nhánh của động mạch vị trái và động mạch vị mạc
nối trái.
Động mạch vị mạc nối trái (left gastroepiploic artery) là nhánh bên lớn
nhất của động mạch tỳ, chạy từ trái sang phải với khoảng cách bằng chiều rộng
của một ngón tay hoặc hơ
n từ từ cong lớn của dạ dày, giữa các lớp của mạc nối
lớn, và tiếp nối với động mạch vị mạc nối phải . Trên đường đi của mình nó phân
phối một số ngành cho thành dạ dày; nhánh khác xuống để cấp máu cho mạc nối
lớn và tiếp nối với các nhánh của động mạch đại tràng giữa.
5
gan chung và động mạch tỳ. Động mạch thân tạng tách ra, ngoài ba nhánh trên,
một động mạch vị tá tràng trong 6,74%, một thân chung vị tá tràng đại tràng
trong 2,25%, một thân chung vị tỳ trong 1,12%, một thân chung của động mạch
gan chung và động mạch tỳ
trong 2,25%,
Nhánh tận đầu tiên của động mạch thân tạng là động mạch vị trái trong
67,90%, động mạch tỳ 2,47%, cả hai trong 7,41%, cả 3 động mạch trong 22,22%
, nhánh cuối cùng của động mạch thân tạng hay gặp nhất là động mạch gan
chung 19,12%, động mạch tỳ 5,88%, cả hai 48,53%, và cả ba trong 22,22 %.
Luís Augusto da Silveira và cộng sự ( 2009) [25] nghiên cứu trên 21 xác
ngâm formalin cho 6 cách phân nhánh của động mạch thân tạng như sau:
Loại 1: động mạch thân tạng tách ra ba nhánh là động mạch vị trái, động
t
ỳ và động mạch gan chung. Động mạch gan chung tách ra động mạch gan riêng,
động mạch vị phải và động mạch vị tá tràng.
Loại 2: Một động mạch đại tràng giữa tách ra từ động mạch thân tạng
cùng với động mạch vị trái, động tỳ và động mạch gan chung. Liên quan đến
biến đổi này, động mạch vị phải có nguồn gốc từ động mạch vị tá tràng.
7
Loại 3: Nguồn gốc của động mạch vị trái từ động mạch chủ bụng và động
mạch thân tạng chỉ tách ra động mạch gan chung và động mạch tỳ. Động mạch
dạ dày phải bắt nguồn từ động mạch vị tá tràng.
Loại 4: Động mạch gan phải bắt nguồn từ động mạch mạc treo tràng trên.
Hai động mạch gan trái đã được tìm thấy, cả hai
đều có nguyên ủy từ động mạch
gan chung. Động mạch túi mật có nguồn gốc từ động mạch vị tá tràng.
Loại 5: Hai thân động mạch riêng rẽ tách ra từ động mạch chủ bụng: một
thân chung của động mạch vị trái và động mạch tỳ, một thân chung giữa động
mạch gan chung và động mạch mạch treo tràng trên.
trên 1,25%.
- Thân chung động mạch thân tạng- động mạch mạc treo tràng trên: 1,25%.
+ chính thức: 1 trường hợp.
+ Không hoàn chỉnh: 4 trường hợp: không có ĐM vị trái.
- Động mạch vị trái:
+ Thường tách từ động mạch thân tạng, dài 2-5 cm, kích thước trung
bình 3mm.
+ Hai trường hợp bất thường: 1 tách từ động mạch tỳ
, 1 tách từ động
mạch gan chung.
- Động mạch tỳ.
+ là một trong 3 nhánh của động mạch thân tạng, dài 8-11cm, đường
kính trung bình 5,5mm.
+ bất thường: 2 trường hợp từ động mạch chủ, 2 trường hợp từ động
mạch mạc treo tràng trên.
9
Lê Văn Cường ( 1991 ) khi nghiên cứu về các dạng và dị dạng động mạch
ở người Việt Nam trên xác phẫu tích đã mô tả sáu dạng nguyên ủy và cách phân
nhánh của động mạch thân tạng. Tuy nhiên ông chưa đưa ra được kích thước của
động mạch này.
Hình 1.6. Các dạng nguyên ủy và phân nhánh của động mạch thân tạng
theo Lê Văn Cường [3].
1.2.2 Phân nhánh.
Các nhánh của động mạch gan chung là:
- Động mạch gan riêng.
- Động mạch vị phải.
- Động mạch vị tá tràng, động mạch này tách ra động mạch vị mạc nối
phải và động mạch tá tụy trên.
Động mạch gan riêng (hepatic artery proprer) đi tiếp theo hướng của động
mạch gan chung, giữa các lớp của mạc nối nhỏ, và ở phía trước của lỗ túi mạc
nối, đến rốn gan nó chia thành hai nhánh, phải và trái, cấp máu cho các thùy
tương ứng của gan, đi kèm với các nhánh của tĩnh mạch cửa và ống gan. Nhánh
cho thùy vuông được coi như ngành tận thứ ba, gọi là ngành giữa hay ngành
11
trung gian. Nhánh này có thể tách từ nhánh phải hoặc trái với tỷ lệ gần ngang
nhau, đôi khi nó tách ra ở đúng chỗ chia đôi của động mạch gan riêng [7]. Động
mạch gan riêng, trên đường đi của mình ở bờ phải mạc nối nhỏ, liên quan với
ống mật chủ và tĩnh mạch cửa, ống mật chủ nằm bên phải động mạch, tĩnh mạch
cửa nằm phía sau.
Động mạch gan ph
ải thường bắt chéo sau ống gan chung và tách ra động
mạch túi mật. Động mạch gan phải chia thành ba nhánh đi vào gan phải là động
mạch thùy đuôi, động mạch phân thùy trước và động mạch phân thùy sau. Động
mạch gan trái cấp máu cho gan bằng ba nhánh là động mạch thùy đuôi, động
mạch phân thùy giữa và động mạch phân thùy bên. Động mạch thùy vuông có
thể tách từ động mạch gan phải hoặc động mạch gan trái, có khi tách tại chỗ chia
đôi của động mạch gan chung [7].
Động mạch vị phải ( right gastric artery ) tách ra từ động mạch gan chung,
phía trên môn vị, đi xuống đến môn vị của dạ dày, đi từ phải sang trái dọc theo
bờ cong nhỏ, tách ra các nhánh cho dạ dày, và tiếp nối với nhánh của động mạch
vị trái.
Hình 1.7. Phân nhánh của động mạch gan chung và gan
riêng, theo F. Netter [26].
ĐM thân t
ạ
n
g
ĐM thân tạn
g
ĐMvị tá t
r
àn
g
ĐM
g
an
p
hải
ĐM túi
m
ật
Các nghiên cứu về các dạng phân nhánh của động mạch gan đã được
nhiều tác giả tiến hành, bắt đầu từ Haller vào năm 1756 (biến thể trục celiac),
Tidemann năm 1822 (nhiều dị thường), Adachi nă
m 1928 và phân tích cổ điển
ĐM vị trái
ĐM vị phải
ĐM thân tạng
ĐM gan chung
ĐM vị tá tràng
ĐM tá tụy trên
ĐM vị mạc
nối phải
14
của Flint (1923) và Michels (1955). Các nghiên cứu về động mạch gan càng
được đẩy mạnh khi phẫu thuật ghép gan ra đời [28].
S. Todo và cộng sự ( 1987 ) nghiên cứu trên 211 hồ sơ của những người
cho và nhận mảnh gan ghép thấy kết quả là:
- Một động mạch cấp máu cho gan trong 136 ( 64,5% ) trường hợp.
- Động mạch gan trái tách từ ĐM vị trái 27 ( 12,8% ) trường hợp.
- Động mạch gan phải tách từ ĐM MTTT 21 ( 9,9% ) trường hợp.
- Động mạch gan chung tách từ ĐM MTTT là động mạch duy nhất cấp máu cho
gan 11 ( 5% ) trường hợp.
- Cả động mạch gan phải và trái tách từ ĐM MTTT trong 1 trường hợp [32]. Hình1.12. Các dạng động mạch cấp máu cho gan theo S. Todo và cộng sự [32].
Hiatt J ( 1994 ) nghiên cứu trên 1000 hồ sơ của những người cho và ghép
gan mô tả những biến đổi giải phẫu về nguyên ủy, phân nhánh của động mạch
gan và xếp loại theo sáu nhóm như sau [10]: