Nghiên cứu một số đặc điểm giải phẫu bệnh của ung thư biểu mô dạ dày - Pdf 36

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD) là bệnh ác tính hay gặp. Theo dữ liệu
GLOBOCAN năm 2012, trên toàn thế giới có 925.000 trường hợp mới mắc
UTDD (chiếm 6,8% tổng số ), đứng hàng thứ năm sau ung thư phổi, vú, đại
trực tràng, tuyến tiền liệt. Trong đó có 723.000 trường hợp tử vong, đứng hàng
thứ ba ở cả hai giới . Hơn 70% UTDD xuất hiện ở các nước đang phát triển,
Việt Nam thuộc khu vực nguy cơ UTDD trung bình cao, với tỉ lệ mắc chuẩn
theo tuổi là 21,8/100.000 ở nam và 10,0/100.000 ở nữ [2].
Có nhiều yếu tố nguy cơ UTDD như thói quen ăn uống, các tổn thương
tiền ung thư, polyp dạ dày, viêm loét dạ dày mạn tính, vai trò gây bệnh của vi
khuẩn Helicobacter pylori (HP)… [3],[4],[5]. Trong đó H.pylori được Tổ
chức Y tế Thế giới (TCYTTG) xếp vào tác nhân gây ung thư nhóm I [4] . Hầu
hết bệnh nhân UTDD được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di
căn, điều trị chủ yếu là chăm sóc giảm nhẹ và hóa trị, với thời gian sống thêm
toàn bộ trung bình hiếm khi quá 12 tháng và thời gian sống thêm 5 năm là
dưới 7% [6]. Mặc dù đã có nhiều phác đồ hóa trị được thử nghiệm trong các
nghiên cứu ngẫu nhiên, nhưng chưa có một phác đồ chuẩn nào được chấp
nhận và cũng không chắc chắn lựa chọn một phác đồ hóa trị nào [7].
Về mặt giải phẫu bệnh đại thể, trên thế giới có nhiều cách phân loại
UTDD tùy theo tác giả và yêu cầu muốn đạt được. Phân loại nội soi hoặc
phân loại đại thể của UTDD được thành lập bởi Hiệp hội Ung thư Dạ dày
Nhật Bản, hiện nay đã được chấp nhận trên toàn thế giới và được cộng nhận
tại hội nghị quốc tế ở Paris năm 2002. Trong phân loại này UTDD sớm được
chia thành 3 típ đại thể [8].
Về mô bệnh học (MBH), vì tính không đồng nhất và phức tạp trong đặc
điểm hình thái của UTBM dạ dày, cho nên có nhiều hệ thống phân loại mô bệnh


2

Nhiều nghiên cứu cho thấy nhóm nguy cơ môi trường quan trọng nhất là
chế độ ăn uống, hút thuốc lá và nhiễm H. pylori.
Chế độ ăn uống có nhiều nitrate như các loại cá, thịt chế biến sẵn, các loại
thức ăn xông khói, ướp muối, sẽ làm tăng nguy cơ UTDD. Ăn ít rau và trái
cây cũng làm tăng nguy cơ UTDD [3].
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ UTDD lên 1,53 lần và cao hơn ở nam
giới .
H. pylori được tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) xếp vào tác nhân gây ung
thư nhóm I [4]. Có khá nhiều bằng chứng dịch tễ về mối liên quan giữa nhiễm
H. pylori với UTDD, đặc biệt là UTDD không thuộc tâm vị. Nhiễm H. pylori
làm tăng nguy cơ UTDD không thuộc tâm vị xấp xỉ 6 lần. Người ta ước tính
H. pylori là nguyên nhân của khoảng 63% các trường hợp UTDD không


4

thuộc tâm vị trên toàn thế giới [15]. Tại Việt Nam, Lê Trung Thọ nhận thấy
H. pylori là một trong nhiều nguyên nhân gây viêm dạ dày mạn tính. Mức độ
hoạt động của viêm dạ dày mạn tính và tỉ lệ nhiễm H. pylori có tương quan
thuận với nhau [16].
Nhiễm virus Epstein-Barr (EBV) được cho là liên quan đến một số bệnh
ác tính, đặc biệt là UTBM vùng mũi họng. Một nghiên cứu ở Hàn Quốc cho
thấy có bằng chứng của virus Epstein-Barr hiện diện trong các tế bào u ở
12/89 (chiếm 13%) bệnh nhân bị ung thư biểu mô dạ dày (UTBMDD) [17].
UTDD liên quan đến EBV có đặc điểm bệnh học lâm sàng riêng, chủ yếu ở
nam giới, thường ở tâm vị hoặc miệng nối dạ dày, thâm nhiễm lympho bào,
có tiên lượng tốt hơn và hầu hết là típ lan tỏa .
Tình trạng kinh tế xã hội thấp nguy cơ bị UTDD không thuộc tâm vị xấp
xỉ gấp 2 lần . Ngược lại, UTDD tâm vị liên quan đến tầng lớp có tình trạng
kinh tế xã hội cao hơn [21].

nguy cơ UTBM típ ruột lên 2-6 lần [28]. Thiếu máu ác tính cũng được cho là
liên quan đến tăng nguy cơ các u carcinoid dạ dày, có thể là do mất tế bào
chính làm giảm acid dịch vị trong thời gian dài dẫn đến quá sản tế bào ưa bạc
(argyrophilic) để bù trừ [29].
1.2. GIẢI PHẪU BỆNH UNG THƯ DẠ DÀY

1.2.1. Vị trí
UTDD có thể gặp ở bất cứ vị trí nào của dạ dày nhưng hay gặp nhất là
vùng hang môn vị (60-70%), sau đó là vùng bờ cong nhỏ (BCN) (18-30%),
các vùng khác ít gặp hơn như bờ cong lớn (BCL) khoảng 3%, đáy vị 12%,
tâm vị 9,5%, ung thư toàn bộ dạ dày chiếm từ 8-10% [30].
Hiện nay, có khuynh hướng chia UTDD thành 2 loại là ung thư tâm vị và
ung thư không thuộc tâm vị vì dịch tễ, bệnh nguyên, mô bệnh học, điều trị và
tiên lượng của UTDD từ hai vị trí này khác nhau rất rõ .


6

Ung thư tâm vị là ung thư trong khoảng 1cm trên đến 2cm dưới đường
nối thực quản dạ dày. UTDD không thuộc tâm vị gồm ung thư ở đáy vị, thân
vị, bờ cong lớn, bờ cong nhỏ, hang vị và môn vị.
UTDD không thuộc tâm vị thường gặp hơn ở những khu vực có tỉ lệ
mắc UTDD cao, ngược lại ung thư tâm vị thường gặp ở khu vực có tỉ lệ mắc
UTDD thấp. Tại các nước phát triển, ung thư tâm vị đã tăng đáng kể trong 50
năm qua [33]. Tại một số nước Châu Á có điều kiện kinh tế phát triển, tỉ lệ
ung thư tâm vị cũng đang tăng. Deans ghi nhận tại Singapore ung thư tâm vị
tăng từ 6,3% lên 16,2% trong vòng 35 năm [31]. Tiên lượng ung thư tâm vị
thường xấu hơn UTDD không thuộc tâm vị. Thời gian sống thêm trung bình
của ung thư tâm vị sau phẫu thuật triệt để là 26 tháng, thấp hơn có ý nghĩa so
với 69 tháng trong UTDD không thuộc tâm vị (P < 0,001) [31].

UTDD muộn, một vài hệ thống phân loại đã được đề nghị. Trong đó phân loại
đại thể UTDD muộn được sử dụng rộng rãi nhất là phân loại Bormann, chia
các UTDD muộn thành bốn típ [9]:


8

Típ 1 Dạng polyp: Các u dạng polyp có giới hạn rõ
Típ 2 Dạng nấm: Các u dạng nấm kèm thâm nhiễm rõ ở giữa
Típ 3 Loét: Các u loét kèm thâm nhiễm ở bờ loét
Típ 4 Thâm nhiễm: Các u thâm nhiễm lan tỏa
Trong các nghiên cứu lớn, tỉ lệ phần trăm các típ là 7% típ 1; 36% típ
2; 25% típ 3 và 26% típ 4 [9]. Típ đại thể phổ biến nhất là típ u dạng nấm
(típ 2), thường ở hang vị bờ cong nhỏ. Trái lại típ dạng polyp (típ 1) và típ
loét (típ 3) lại thường ở bờ cong lớn thân vị.

Hình 1.2: Các típ đại thể UTDD theo phân loại của Bormann [9]
1.2.3. Đặc điểm vi thể của ung thư dạ dày
1.2.3.1. Đặc điểm vi thể của ung thư dạ dày sớm
Về mô học, phần lớn UTDD sớm là UTBM tuyến ống, biệt hóa rõ. Hầu
hết các tổn thương là típ ruột với típ ống (93%) và típ nhú (1%) chiếm ưu thế
[9]. UTBM nhầy chiếm khoảng 1% các UTDD sớm. UTBM tế bào nhẫn và
UTBM tuyến kém biệt hóa chiếm 5% và 30% các trường hợp và thường là típ
phẳng lõm hoặc típ loét (típ IIc hoặc III) [9]. Viêm dạ dày teo nặng kèm dị
sản ruột lan tỏa và u tuyến tồn tại trước đó thường gặp trên nền UTBM tuyến.
Có khoảng 10% các trường hợp viêm teo niêm mạc dạ dày mạn tính sẽ phát
triển thành UTBMDD sau khoảng 15 năm [9].


9

Típ lan tỏa chiếm khoảng 30-40% UTDD và thường gặp ở những người
trẻ hơn [36-38]. Típ này là các u kém biệt hóa, thường phát triển như những tế
bào đơn lẻ hoặc tập trung thành các đám nhỏ, có xu hướng thâm nhiễm vào
thành dạ dày hơn.Típ lan tỏa thường không tạo tuyến mà phân tán trong các
lớp thành dạ dày thành những tế bào riêng lẻ hay đám tế bào ( Cluster) tạo
nên kiểu phát triển “ xâm nhập”. Mô đệm xơ hóa nhiều làm thành dạ dày dày
rõ lên. Trong typ lan tỏa, có tế bào chế nhầy nhiều đẩy nhân lệch tâm tạo hình
ảnh giống chiếc nhẫn nên Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra típ UTBM tế bào
nhẫn. Cũng giống như típ ruột, nhiễm H. pylori cũng được xem là có liên
quan đến UTDD típ lan tỏa (sơ đồ 1.1) [39]. Tuy nhiên, các tổn thương tiền
ung thư liên quan đến H. pylori là đặc trưng hơn cho típ ruột [38]. Ngoài ra,
một nhóm UTDD típ lan tỏa liên quan đến đột biến trong gen ức chế u
CDH1(gen mã hóa cho E-cadHERin), một phân tử tác động giữa các tế bào
[40]. E-cadHERin điều hòa sự tăng sinh của tế bào, đặc biệt là thông qua các
phản ứng của nó với β-catenin. Một số đột biến và mất gen CDH1 đã được
xác định trong một số UTDD típ lan tỏa, nhưng không gặp trong UTDD típ
ruột [38], [40-41]. Nhiễm EBV làm tăng nguy cơ UTDD, gặp trong 7-20%


11

UTDD và thường hiện diện trong típ lan tỏa hơn. Típ lan tỏa thường có tiên
lượng xấu hơn típ ruột. Trong khi tỉ lệ mắc UTDD típ ruột ở các nước phương
Tây đã giảm trong một vài thập kỷ qua, nhưng tỉ lệ mắc UTDD típ lan tỏa vẫn
không thay đổi [37-42].
-Típ hỗn hợp
Gồm các khối u không thể phân loại hoặc có đặc điểm của cả hai típ ruột
và lan tỏa được xếp vào típ “hỗn hợp”.
Phân loại UTDD của Lauren được các nhà dịch tễ học chấp nhận do : típ
ruột thường gặp ở hang vị luôn kết hợp với dị sản ruột và biểu hiện liên quan

Típ mô học
Tân sản nội biểu mô- u tuyến
Ung thư biểu mô tuyến
Típ ruột
Típ lan tỏa
Ung thư biểu mô tuyến nhú
Ung thư biểu mô tuyến ống nhỏ
Ung thư biểu mô tuyến nhầy
Ung thư biểu mô tế bào nhẫn
Ung thư biểu mô tuyến vảy
Ung thư biểu mô tế bào vảy
Ung thư biểu mô tế bào nhỏ
Ung thư biểu mô không biệt hóa
Các loại khác
Carcinoid ( u nội tiết biệt hóa cao )

Mã số bệnh
8140/0
8140/3
8140/3
8144/3
8260/3
8211/3
8480/3
8490/3
8560/3
8070/3
8041/3
8020/3
8240/3

8211/3

UTBMT nhầy

8480/3

UTBM kém kết dính (bao gồm cả UTBM TB nhẫn và
các biến thể khác)

8490/3

Hỗn hợp UTBM tuyến

8255/3

UTBM tuyến vảy

8560/3

UTBM kèm mô đệm dạng lympho (UTBM tủy)

8512/3

UTBM dạng gan

8576/3

UTBM TB vảy

8070/3

có kích thước khác nhau, lòng tuyến có thể giãn rộng thành nang. Mức độ
không điển hình của nhân thay đổi từ độ thấp cho đến độ cao.
UTBM tuyến nhú là một biến thể mô học hay gặp khác trong
UTBMDD sớm. Típ này thường gặp ở những người già hơn, thường di căn
gan và hạch lympho. Trong các khối u thể nhú, có những nếp gấp trong nhú
và tuyến nổi bật với các tế bào UTBM hình lập phương đến hình trụ cao lát
trong những dải tổ chức kẽ hẹp, tạo thành hình ảnh cành cây. Về mô học,
được đặc trưng bởi các cấu trúc dạng ngón tay với lõi xơ-mạch ở giữa, các
nhú này có thể mảnh và phủ bởi một lớp tế bào biểu mô hình trụ hoặc vuông,
nhân ở cực đáy và thường tiết chất nhầy thành những giọt nhỏ.
UTBM tuyến nhầy chiếm khoảng 10% UTBMDD. Típ này được đặc
trưng bởi các bể nhầy ở ngoại bào, chiếm ít nhất 50% thể tích u, có thể nhìn
thấy bằng mắt thường. Các tuyến thường giãn thành nang trong lòng chứa
dịch nhầy và có thể phá vỡ tràn vào tổ chức kẽ tạo thành bể chất nhầy. Các tế
bào u có thể tạo thành cấu trúc tuyến hoặc các đám tế bào không đều, kèm rải
rác các tế bào nhẫn như đang bơi trong các bể nhầy.
UTBM tế bào nhẫn và các UTBM kém kết dính khác thường bao
gồm một hỗn hợp các tế bào nhẫn và không phải các tế bào nhẫn. UTBM tế
bào nhẫn là UTBM tuyến có các thành phần tế bào nhẫn nổi trội, chứa chất
nhày nội bào ( ít nhất 50% thể tích u) . Tế bào u này dường như xuất phát từ
các khe không bị dị sản hoặc các tế bào vùng cổ tuyến chế nhầy tăng sinh


15

thành các tế bào đơn lẻ hoặc thành cụm nhỏ. Loại chất nhầy và lượng chất
nhầy nội bào đa dạng, có thể gặp 4 loại tế bào u :
+ Tế bào nhẫn chứa chất nhầy acid.
+ Tế bào nhẫn chứa các hạt chế tiết, chứa chất nhầy acid hoặc trung tính.
+ Tế bào nhẫn với các hạt ưa acid, chứa chất nhầy trung tính

đặc biệt sau các nghiên cứu cho rằng Bortezomib (một chất ức chế protein) có
thể làm giảm EBV kinase bằng cách hoạt hóa protein tiêu hủy EBV hiện diện
trong các tế bào u bị nhiễm, từ đó làm các tế bào u bị nhiễm EBV dễ bị tiêu
diệt bởi các tác nhân khác [48]. Một nhóm các UTBMDD có mô đệm giàu
lympho bào khác là các UTBM có sự không ổn định cao của vi vệ tinh
(microsatellite), gây ra bởi sự thay đổi DNA sửa chữa không khớp, thường là
hMLH1 hoặc hMSH2, hiếm khi là hMSH6 [49]. Số lượng các tế bào lympho
thâm nhiễm u, trong khi cao hơn có ý nghĩa ở những ung thư không có sự
không ổn định cao của vi vệ tinh (microsatellite), nhưng lại thấp hơn trong
UTBM có EBV dương tính [49]. Nhóm UTBM này thường là típ ruột trong
phân loại của Lauren và thường gặp ở những người già hơn, có giai đoạn
pTNM thấp hơn và có nguy cơ di căn hạch lympho thấp.
UTBM tuyến dạng gan được mô tả lần đầu tiên như là một típ UTBM
dạ dày tiết AFP vào năm 1985 bởi Ishikura và cộng sự. Ung thư biểu mô
tuyến (UTBMT) dạng gan chiếm khoảng 0,38-0,73% các trường hợp UTDD.
Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 64,5 tuổi (từ 49-78). UTBMT dạng gan
được đặc trưng bởi hình ảnh mô học biệt hóa dạng gan và tạo ra các protein
đặc hiệu của gan bao gồm AFP được xác định trên hóa mô miễn dịch
(HMMD). Tuy nhiên, không phải tất cả các UTBMT dạng gan đều tiết protein
đặc hiệu của gan. Xấp xỉ khoảng 54% UTBMT dạng gan có bộc lộ AFP trên
HMMD và 63% bệnh nhân UTBMT dạng gan có mức AFP huyết thanh cao.
Ngoài ra, có một số típ UTBM khác như UTBMT ống/nhú, UTBM tủy kém
biệt hóa và UTBMT nguyên bào ruột, cũng có thể tiết AFP. Về vi thể, biến


17

thể này chứa các vùng biệt hóa dạng gan cho thấy cấu trúc giống mô gan như
dạng mảng hoặc bè với các mạch máu giống như xoang mạch và các cấu trúc
giống như vi quản mật. U này bao gồm các tế bào hình lập phương hoặc hình

(Tumor), tình trạng di căn hạch vùng (Node), di căn xa (Metastasis) và gọi là
hệ thống đánh giá TNM (bảng 1.2) [52]. Giai đoạn T dựa vào mức độ xâm lấn
sâu của khối u chứ không phải dựa vào kích thước khối u (sơ đồ 1.2). Giai
đoạn hạch bạch huyết dựa trên số hạch lympho di căn chứ không phải là cự ly
gần của các hạch bạch huyết đối với khối u nguyên phát (giống như trong
phân loại TNM của AJCC/UICC sử dụng trước đó năm 1997).
Bảng 1.3: Hệ thống đánh giá TNM của AJCC 2010 [52]
U nguyên phát (T):
TX
T0
Tis
T1
T1a
T1b
T2
T3
T4
T4a
T4b

Không đánh giá được u nguyên phát
Không có u nguyên phát
UTBM tại chỗ
U xâm nhập lớp đệm, cơ niêm, hoặc dưới niêm mạc
U xâm nhập lớp đệm hoặc lớp cơ niêm
U xâm nhập lớp dưới niêm mạc
U xâm nhập tới lớp cơ
U xâm nhập mô liên kết dưới thanh mạc mà không xâm
nhập phúc mạc tạng hoặc các cấu trúc gần kề
U xâm nhập thanh mạc (phúc mạc tạng) hoặc cấu trúc gần kề


Giai đoạn IIIA

Giai đoạn IIIB
Giai đoạn IIIC

Giai đoạn IV

Di căn 7-15 hạch vùng
Di căn trên 16 hạch vùng
Không có di căn xa
Di căn xa
Tis
T1
T2
T1
T3
T2
T1
T4a
T3
T2
T1
T4a
T3
T2
T4b
T4b
T4a
T3

M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M1


20

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ biểu diễn giai đoạn khối u (Tumor) [52]
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ UTDD :

Trên thế giới và tại Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu về đặc điểm giải
phẫu bệnh của UTDD với các kết quả khá tương đồng.
-Về đặc điểm đại thể:

84,1
79,9
73,2
93,3
95,7

Theo phân loại Bormman, nghiên cứu của Lê Viết Nho [11], Phạm
Minh Anh [10], Nguyễn Ngọc Hùng [55], Nguyễn Văn Thành [56], với dạng
loét chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là dạng nấm. Aizawa (2013) nghiên cứu
trên 1006 mẫu UTDD thấy típ 2 (típ nấm) và típ 3 (típ loét) chiếm tỷ lệ cao
hơn các típ khác [57].
-Về đặc điểm các typ mô bệnh học theo phân loại của TCYTTG 2010 :
Nghiên cứu của một số tác giả trong và ngoài nước đều cho kết quả khá
tương đồng với ung thư biểu mô tuyến típ ống chiếm tỷ lệ cao nhất. Tại
Việt Nam, theo Trương Thị Hoàng Lan (2013), típ ung thư biểu mô tuyến
chiếm tỷ lệ cao nhất (53,5%), sau đó là típ UTBM tế bào nhẫn (24,4%),
UTBM nhầy và UTBM không biệt hóa chiếm tỷ lệ thấp (11,6% và 10,5%)
[12]. Phạm Minh Anh (2013) nghiên cứu mô bệnh học trên 81 mẫu UTBM
dạ dày cũng nhận thấy típ ống nhỏ chiếm tỷ lệ cao nhất (66,7%), tiếp theo


21

là típ nhầy (14,8%), típ tế bào nhẫn (12,4%) và thấp nhất là típ tuyến vảy
(1,2%) [10].
Kataoka và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 213 bệnh nhân UTDD cũng
xác định típ ống là típ mô học hay gặp nhất, chiếm 43,2%, típ kém kết dính
thấp hơn ít, chiếm 41,3%, các típ khác chiếm tỷ lệ thấp hơn [58]. Aizawa
(2014) nghiên cứu UTDD với cỡ mẫu khá lớn (n = 1006) cũng cho kết quả
tương tự với UTBM tuyến ống chiếm tỷ lệ cao nhất (46,9%), tiếp theo là típ

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu :
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu (15 bệnh nhân
UTDD ), tiến cứu ( 36 bệnh nhân UTDD) và chọn mẫu có chủ đích .
2.2.2. Các bước tiến hành
- Các bệnh nhân mổ cắt dạ dày vì ung thư được phân loại đại thể theo
Hiệp hội Ung thư Dạ dày Nhật Bản cho UTDD sớm và theo Bormann cho
UTDD muộn. Bệnh phẩm khối u dạ dày sau mổ được cắt các mảnh ở vùng


23

rìa khối u và ở vùng trung tâm với kích thước mảnh cắt 2x4cm, dày từ 3
đến 5mm, các mảnh bệnh phẩm được cố định trong dung dịch formol đệm
trung tính 10% (thời gian cố định 24-48 tiếng), chuyển trên máy MEDITE , đúc
trong paraffin, cắt, nhuộm Hematoxylin-Eosin (HE) và Periodic Acid Schiff
(PAS) tại Bộ môn Giải phẫu bệnh trường Đại học Y Hà Nội. Bệnh nhân có kết
quả mô bệnh học thường quy là UTBMDD và có đầy đủ tiêu chuẩn chọn bệnh
cũng như không có tiêu chuẩn loại trừ sẽ được chọn vào nghiên cứu.
- Nghiên cứu hồ sơ bệnh án các bệnh nhân được lựa chọn vào nghiên
cứu thu thập các dữ liệu về đặc điểm lâm sàng như: tuổi, giới, giai đoạn bệnh.
2.2.3. Thông tin lâm sàng
Tuổi phân thành các nhóm: dưới 30, từ 30 đến 39, từ 40 đến 49, từ 50
đến 59, từ 60 đến 69, trên 70.
Giới: nam và nữ.
2.2.4. Đánh giá kết quả mô bệnh học thường quy
Tiêu bản nhuộm HE và PAS được đánh giá độc lập dưới KHV quang
học bởi học viên và bác sỹ chuyên khoa giải phẫu bệnh có kinh nghiệm. Hội
chẩn các trường hợp khó. Đánh giá theo các tiêu chí:

theo AJCC 2010 [52]: Bảng 1.3 trang 18-19.
2.2.5. Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh phẩm cắt dạ dày

Nhận xét đại thể,
Xét nghiệm MBH thường quy
UTBM dạ dày
Phân loại MBH theo WHO 2010

Thu thập thông tin lâm sàng

Thu thập và xử lý số liệu

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu


25

2.2.6. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Thông tin được thu thập theo bệnh án nghiên cứu (phụ lục kèm theo).
Tất cả các dữ liệu được nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm Microsoft
office excel 2007.
Giá trị các chỉ số được trình bày dưới dạng trung bình (± độ lệch chuẩn).
2.2.7. Đạo đức nghiên cứu
-

Đề cương nghiên cứu cần được thông qua bởi Hội đồng chấm đề

cương của Bộ môn Giải phẫu bệnh- trường Đại học Y Hà Nội trước khi tiến
hành nghiên cứu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status