Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Luận văn
Đề tài: " Chế độ pháp lý và thực tiễn về
việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín
dụng tại chi nhánh ngân hàng No&
PTNT Láng Hạ. "
1
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới
(WTO), khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước với nhau cũng như các
ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài là rất gay gắt. Để hội nhập và phát
triển bền vững các ngân hàng nói chung và chi nhánh Láng Hạ nói riêng cần chủ
động tích cực chuẩn bị điều kiện tham gia thị trường tài chính quốc tế thông qua
hoạt động phát hành cổ phiếu, xây dựng chiến lược phát triển quan hệ ngân hàng,
nhất là hệ thống thông tin quản lý, hệ thống giao dịch điện tử Hoạt động tín dụng
vẫn là một trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại; cũng giống
như các hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín dụng có thời gian hoàn vốn dài,
liên quan đến các điều kiện kinh tế diễn biến trong tương lai nên độ rủi ro rất cao.
Hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng là hợp đồng tín dụng, mặc dù hợp đồng tín
dụng đã được sử dụng rất lâu nhưng do nền kinh tế thị trường luôn có sự thay đổi
nên các văn bản ban hành ra để điều chỉnh hợp đồng tín dụng không còn phù hợp
nữa. Và hợp đồng tín dụng là một chủng loại của hợp đồng kinh tế. Do đó, hợp
đồng tín dụng vẫn còn nhiều vướng mắc như: chủ thể có thẩm quyền ký kết, vấn đề
bảo đảm tiền vay, phân biệt hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay Hoàn
thiện việc ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng là cần thiết để nâng cao hiệu quả
hoạt động của hệ thống Ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng. Vì vậy, tôi đã
chọn đề tài: Chế độ pháp lý và thực tiễn về việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín
mang những đặc điểm của hợp đồng vay tài sản nói chung. Đặc điểm này thể hiện ở
chỗ hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng đơn vụ theo quy định tại khoản 2-
điều 405 Bộ luật dân sự. Điều đó có nghĩa là trong hợp đồng tín dụng ngân hàng chỉ
có bên tín dụng mới có quyền yêu cầu và bên khách hàng có nghĩa vụ phải trả đầy
3
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đủ số nợ tín dụng khi đến hạn và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, do hoạt động ngân hàng có những điểm đặc thù so với các hoạt động
kinh doanh khác nên hợp đồng tín dụng ngân hàng cũng có những đặc điểm riêng.
Ngoài những đặc điểm chung của mọi loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một
số dấu hiệu đặc trưng sau đây để phân biệt với các chủng loại hợp đồng khác trong
giao lưu dân sự và thương mại.
1.2.1. Về chủ thể hợp đồng tín dụng
Một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ các điều
kiện luật định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là
doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thoả mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy
định như luật tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp, luật ngân hàng…và các văn bản
quy phạm pháp luật. Đây cũng là điểm khác cơ bản giữa hợp đồng tín dụng với hợp
đồng vay khác. Tổ chức tín dụng có thể yêu cầu khách hàng vay vốn trong hợp
đồng tín dụng phải thoả mãn một số điều kiện nhất định về tư cách pháp lý và khả
năng tài chính như: khách hàng vay phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực
hành vi dân sự và phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật và phải
có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
1.2.2. Đối tượng của hợp đồng tín dụng
Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số
tiền xác định và phải được các bên thoả thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng; ngoài
ra còn có các giấy tờ có giá như quyền sử dụng đất, các tài sản khác như nhà ở…
vay tài sản phát sinh trong giao dịch dân sự, do người cho vay dùng tài sản của
chính mình để cho vay nên khi rủi ro xảy ra thì chỉ người cho vay phải gánh chịu
hậu quả. Rủi ro này không làm ảnh đến những người khác và xã hội như đối với
hợp đồng tín dụng. Đặc trưng này đã tạo ra cho hợp đồng tín dụng có những nét đặc
thù như điều kiện chặt chẽ về chủ thể, về hình thức hợp đồng, về các biện pháp bảo
lãnh.
1.2.4. Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng
Trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân)
của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng
minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên
5
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với
mình.
1.2.5. Hợp đồng tín dụng là hợp đồng luôn nhằm mục đích thu lợi nhuận
Khác với hợp đồng vay tài sản yếu tố lãi suất không phải là yếu tố bắt buộc,
mà phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên. Trong hợp đồng tín dụng tổ chức tín
dụng thu lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp cho những chi phí cho các
hoạt động của mình như: trả lãi tiền gửi, trả lương cho nhân viên… mà còn nhằm
bảo đảm cho những hoạt động đặc trưng mang tính rủi ro cao của mình, bù đắp cho
các rủi ro luôn xảy ra đối với tổ chức tín dụng. Như vậy, việc thu lợi nhuận không
chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng, mà còn xuất phát lợi ích của người gửi
tiền và lợi ích của xã hội.
1.2.6. Hợp đồng tín dụng chỉ được ký kết dưới hình thức văn bản
Hợp đồng tín dụng đòi hỏi văn phạm trong việc soạn thảo hợp đồng phải dứt
khoát, rõ ràng, ngắn gọn, đủ ý và ngôn ngữ phải chính xác, cụ thể. Hình thức văn
bảo đảm.
1.3.2. Căn cứ vào bản chất hợp đồng có thể chia thành
Mặc dù luật các tổ chức tín dụng không trực tiếo quy định cơ sở để phân
định, nhưng theo các quy định của pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 thì căn cứ
vào chủ thể ký kết và mục đích của các chủ thể khi giao kết hợp đồng, hợp đồng tín
dụng ngân hàng có thể tồn tại dưới hai hình thức:
+ Hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế: là hợp đồng tín dụng giao kết giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng là chủ thể kinh doanh như: doanh nghiệp, hộ kinh
doanh cá thể, người làm công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hộ gia đình…và
việc giao kết hợp đồng tín dụng nhằm mục đích kinh doanh.
+Hợp đồng tín dụng là hợp đồng dân sự: là những hợp đồng tín dụng được giao
kết giữa tổ chức tín dụng với khách hàng mà không phải là chủ thể kinh doanh hoặc
là chủ thể kinh doanh nhưng việc giao kết hợp đồng tín dụng không nhằm mục đích
kinh doanh như: tiêu dùng, học tập…
Việc phân loại như trên chỉ có ý nghĩa để xác định cơ sở pháp lý thích hợp
cho việc giao kết hợp đồng và xác định thẩm quyền và thủ tục giải quyết các tranh
chấp xảy ra từ quan hệ hợp đồng tín dụng.
1.3.3. Căn cứ vào thời hạn cho vay có thể chia thành
7
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Hợp đồng tín dụng ngắn hạn: là những hợp đồng tín dụng mà thời hạn cho vay
dưới 12 tháng.
+ Hợp đồng tín dụng dài hạn: là những hợp đồng tín dụng có thời hạn cho vay từ
1 năm trở lên.
2. Nội dung của hợp đồng tín dụng
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có
đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và không vi
Các bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì; sản xuất mặt
hàng nào vào hợp đồng tín dụng. Việc thoả thuận điều khoản này trong hợp đồng tín
dụng được xem như một giải pháp đảm bảo sự an toàn về vốn cho người đầu tư là
các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp bên vay sử dụng vốn một cách tuỳ tiện
vào các mục đích phiêu lưu, mạo hiểm. Để bảo đảm lợi ích của cả hai bên và đảm
bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng một cách hiệu quả, các bên có thể thoả
thuận về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ và điều kiện sử dụng
vốn đã thay đổi.
2.3. Phương thức thanh toán tiền vay
Đây là điều kiện quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và
lãi cho vay. Do đó, các bên cần phải thoả thuận rõ ràng số tiền vay được trả theo
phương thức nào như: trả toàn bộ một lần, theo từng kỳ hạn hay hoàn trả dần…
2.4. Điều khoản về đối tượng hợp đồng
Trong điều khoản này các bên phải thoả thuận về số tiền vay, lãi suất cho
vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn.
2.5. Thời hạn vay
Thời hạn vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận
tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã được thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Các bên phải ghi rõ trong
hợp đồng tín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả sau. Nếu có thể gia
hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng này trong hợp đồng tín
dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thoả thuận sau trong quá trình thực hiện
hợp đồng tín dụng. Kỳ hạn trả nợ là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã
được thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời
gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ tiền vay cho tổ chức tín dụng.
2.6. Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
9
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
9
10
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đối với chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng là cá nhân thì năng lực hành vi
dân sự của chủ thể này được hiểu là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình
thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự.
Đối với chủ thể của hợp đồng tín dụng là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
thì năng lực hành vi dân sự của những chủ thể này được hiểu là khả năng thực hiện
các quyền, nghĩa vụ pháp lý thông qua người đại diện hợp pháp cho các chủ thể đó.
- Mục đích và nội dung của hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của
pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Với điều kiện này nhằm mục đích bảo vệ lợi
ích chung và trật tự công cộng, tránh sự xâm hại của các bên tham gia hợp đồng chỉ
vì lợi ích riêng của họ. Nội dung của hợp đồng tín dụng được coi là hợp pháp khi
các điều khoản của hợp đồng tín dụng không vi phạm các điều cấm mà pháp luật đã
quy định hoặc không trái với quy tắc và giá trị đạo đức đã được xã hội thừa nhận.
- Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình
đẳng, tự do: một hợp đồng tín dụng được coi là không có sự đồng thuận khi sự thoả
thuận đó giữa các bên bị các khiếm khuyết như sự nhầm lẫn, sự lừa dối, lừa gạt…
khi giao kết hợp đồng. Nhưng các khiếm khuyết này phải có ảnh hưởng mang tính
quyết định đến ý chí giao kết hợp đồng của các bên thì mới được coi là sự kiện pháp
lý làm cho hợp đồng tín dụng vô hiệu.
- Hình thức của hợp đồng tín dụng phù hợp với các quy định của pháp luật
ngân hàng: Điều kiện này được quy định trong các văn bản pháp luật về ngân hàng
nhằm mục đích ngăn ngừa các rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn cho hoạt động
kinh doanh tiền tệ của các tổ chức tín dụng. Theo quy định của pháp luật hiện hành,
hợp đồng tín dụng phải được giao kết bằng văn bản thì mới có hiệu lực pháp lý ràng
buộc giữa các bên.
Về nguyên tắc khi khoản vay được bảo đảm bằng tài sản thì hợp đồng bảo
vay (giải ngân) là một nghĩa vụ hợp đồng của bên cho vay và nếu họ không thực
hiện đúng nghĩa vụ này thì về nguyên tắc họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối
với việc vi phạm hợp đồng tín dụng.
3.2.3. Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng và các hậu quả pháp lý của sự vô hiệu
Một giao dịch hợp đồng tín dụng sẽ đương nhiên vô hiệu hoặc có thể bị coi
là vô hiệu khi giao dịch đó không thoả mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực do
pháp luật quy định. Do việc vi phạm các điều kiện có hiệu lực có thể phương hại
12
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đến lợi ích chung của xã hội hoặc lợi ích riêng của các bên giao dịch nên sự tuyên
bố hợp đồng tín dụng vô hiệu cũng cần phải được cân nhắc.
- Hợp đồng tín dụng vô hiệu toàn bộ: Hợp đồng tín dụng được các bên ký kết
nhưng mục đích, nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo
đức xã hội, hoặc hợp đồng tín dụng được xác lập một cách giả tạo để che dấu một
giao dịch khác. Hợp đồng bị vô hiệu, các bên không có cơ hội khắc phục các thiếu
sót để làm cho hợp đồng tín dụng có hiệu lực trở lại.
- Hoặc hợp đồng tín dụng vô hiệu một phần: những hợp đồng tín dụng được
các bên ký kết chỉ vi phạm các điều kiện thủ tục như: thiếu dấu của pháp nhân,
không ghi đầy đủ các yếu tố liên quan đến tư cách của các bên; hình thức của hợp
đồng không phù hợp với quy định của pháp luật…Trong trường hợp này các bên có
thể khắc phục những nguyên nhân làm cho hợp đồng tín dụng vô hiệu; để trên cơ sở
đó khiến cho hợp đồng tín dụng có hiệu lực trở lại. Nếu quá thời hạn cho phép mà
các bên không khắc phục được những nguyên nhân làm cho hợp đồng vô hiệu thì
bên có quyền lợi bị xâm hại có quyền yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng tín dụng vô
hiệu.
Hậu quả pháp lý do hợp đồng tín dụng vô hiệu:
- Không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với các bên ngay từ thời
+ Nhập khẩu hàng hoá để tạo vốn, thu mua hàng hoá xuất khẩu.
+ Chi trả chi phí về vận tải, bảo hiểm và các dịch vụ khác.
+ Thanh toán nợ vay tín dụng thương mại của các doanh nghiệp đã được ngân
hàng ngoại thương cấp bảo lãnh nhưng doanh nghiệp chưa có hoặc chưa đủ tiền để
thanh toán cho nước ngoài.
- Mỗi lần vay vốn, bên xin vay cùng ngân hàng ngoại thương ký kết hợp đồng
tín dụng ngoại tệ theo các điều khoản đã được hai bên thống nhất. Trình tự ký kết
hợp đồng tín dụng ngoại tệ thực hiện theo chế định ký kết hợp đồng kinh tế. Hợp
đồng tín dụng ngoại tệ thường bao gồm các nội dung sau: ngày, tháng, năm ký kết;
căn cứ ký kết, lần cho vay, bên đi vay; đối tượng hợp đồng, mục đích sử dụng vốn
vay; thời hạn trả nợ; …Theo hợp đồng, doanh nghiệp có thể trả nợ vay trước hạn;
nếu doanh nghiệp không có ngoại tệ để trả, ngân hàng cho vay có thể thu nợ bằng
đồng Việt Nam tương đương theo giá bán ngoại tệ và thực hiện hạch toán thông qua
tài khoản mua bán ngoại tệ.
14
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
II. Chế độ pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng
1. Giao kết hợp đồng tín dụng
Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp
vụ- pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định.
1.1. Nguyên tắc giao kết
1.1.1. Hợp đồng tín dụng là loại hợp đồng dân sự nên các bên khi giao kết phải
tuân thủ các nguyên tắc sau
a. Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ tư cách chủ thể đều có
quyền tham gia giao kết, nếu họ muốn mà không ai có quyền ngăn cản. Bằng ý chí
tự do của mình, các chủ thể có quyền giao kết do pháp luật quy định. Nhưng tự do
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền
và nghĩa vụ. Điều này thể hiện ở chỗ khi đàm phán để giao hợp đồng các bên đều có
quyền đưa ra những yêu cầu của mình và đều có quyền chấp nhận hay không chấp
nhận yêu cầu của bên kia mà không bên nào có quyền ép buộc bên nào. Trong quan
hệ hợp đồng kinh tế quyền và nghĩa vụ của các chủ thể phải tương xứng với nhau.
Bên nào cũng có quyền và có nghĩa vụ, đều phải chịu trách nhiệm với nhau về việc
thực hiện nghĩa vụ của mình.
c. Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản.
Khi tham gia quan hệ hợp đồng các bên phải trực tiếp chịu trách nhiệm tài
sản với nhau. Các bên có thể dùng tài sản của mình để cầm cố, thế chấp hoặc nhờ
người khác bảo lãnh bằng tài sản để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng. Nguyên tắc
này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế của các bên trong quan
hệ hợp đồng.
d. Nguyên tắc không trái pháp luật.
Các điều khoản mà các bên tham gia ký kết hợp đồng phải thoả thuận phù
hợp với pháp luật. Nếu các bên thoả thuận trái pháp luật thì những thoả thuận đó sẽ
không có giá trị (vô hiệu). Khi ký kết hợp đồng phải căn cứ vào chức năng hoạt
động kinh tế của mình và tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh của bên cùng ký,
nếu không hợp đồng của các bên ký kết sẽ vô hiệu. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan
trọng trong việc bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh doanh, buộc các
chủ thể kinh doanh chỉ được phép hoạt động trong phạm vi đăng ký kinh doanh.
16
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.3. Hợp đồng tín dụng là loại hợp đồng đặc biệt
Do chủ thể tham gia giao kết cũng như đối tượng của hợp đồng có khác biệt
so với các loại hợp đồng khác nên khi giao kết các bên tuân theo nguyên tắc riêng
như sau:
chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thoả thuận trong việc cùng nhau
làm xác lập những quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Thực chất đó là quá trình mà hai
bên thoả thuận về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng.
1.2.1. Đề nghị giao kết
Để thiết lập một quan hệ hợp đồng bao giờ cũng phải có một bên đưa ra lời
đề nghị hợp đồng và bên kia chấp nhận lời đề nghị hợp đồng đó, tức là có sự thống
nhất ý chí của các bên. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu hiện ý chí
của mình trước người khác bằng cách tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao
kết với người đó một hợp đồng. Như vậy, đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là việc
khách hàng biểu hiện ý chí của mình trước tổ chức tín dụng nơi mình muốn ký kết
(nơi mà mình muốn vay vốn) bằng cách tỏ cho tổ chức tín dụng biết ý muốn tham
gia giao kết một hợp đồng tín dụng. Để bảo đảm quyền lợi của các bên và để hợp
đồng thực hiện tốt thì các bên đưa ra những điều khoản của hợp đồng một cách cụ
thể và rõ ràng. Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng cách trao đổi,
thoả thuận trực tiếp với nhau. Các bên trực tiếp bàn bạc thoả thuận xác định các
điều khoản của hợp đồng, điều kiện của các bên. Nếu các bên thống nhất được với
nhau thì cùng nhau làm văn bản hợp đồng và cùng ký vào văn bản hợp đồng. Quan
hệ hợp đồng tín dụng hình thành kể từ thời điểm các bên ký vào văn bản và nó sẽ có
giá trị nếu nó bảo đảm các điều kiện mà pháp luật yêu cầu. Lời đề nghị mặc dù chưa
phải là một hợp đồng nhưng ít nhiều đã có tính chất ràng buộc đối với người đề
nghị.
Như vậy, đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là hành vi pháp lý do một bên
thực hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện
ý chí mong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng.
1.2.2. Hồ sơ vay vốn
Để được vay vốn bên đi vay phải gửi đến tổ chức tín dụng phục vụ mình các
kế hoạch vay vốn, các hồ sơ tài liệu liên quan đến công trình xin vay vốn. Theo
khoản 1- điều 55- luật tổ chức tín dụng, hồ sơ tín dụng gồm:
18
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
kiểm toán viên trong việc ra quyết định về khả năng chấp thuận khoản vay.
19
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ- pháp
lý do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm kiểm tra và xác định các điều kiện vay vốn,
trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không đối với khách hàng. Bản báo cáo
này phải được gửi cho người có thẩm quyền quản lý trong tổ chức tín dụng để quyết
định cho vay hoặc từ chối cho vay đối với khách hàng. Trong trường hợp từ chối
cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và phải nêu
rõ những căn cứ từ chối cho vay.
1.2.4. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là hành vi pháp lý do bên
nhận đề nghị (tổ chức tín dụng) thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức
gửi cho bên kia (bên đề nghị hợp đồng) với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết
hợp đồng tín dụng. Về phương diện lý thuyết, việc một bên chấp nhận vô điều kiện
văn bản đề nghị hợp đồng của bên kia có thể làm phát sinh một hợp đồng giữa họ
với nhau, nếu trong văn bản đề nghị đã hội đủ các điều khoản cốt yếu của chủng
loại hợp đồng mà họ mong muốn giao kết. Tuy nhiên đối với hợp đồng tín dụng, do
loại giao dịch này vốn có ảnh hưởng sâu sắc và mang tính dây chuyền đối với cả hệ
thống kinh tế trong một quốc gia nên các luật gia cho rằng việc một bên gửi văn bản
thông báo chấp nhận đề nghị giao kểt hợp đồng tín dụng của bên kia chỉ có giá trị
như một lời tuyên bố đồng ý giao kết hợp đồng chứ không phải là hành vi pháp lý
làm phát sinh quan hệ hợp đồng giữa các bên và do đó cũng không thể thay thế cho
việc giao kết hợp đồng chính thức giữa các bên. Giao kết hợp đồng chỉ được xem là
hoàn thành khi các bên đã trải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trực tiếp các
điều khoản của hợp đồng và người đại diện có thẩm quyền của các bên đã trực tiếp
kí tên vào văn bản hợp đồng tín dụng.
- Nguyên tắc chấp hành đúng: nguyên tắc này đòi hỏi các bên phải chấp hành
đúng, đầy đủ và trung thực các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng; đồng thời
cho phép mỗi bên có quyền yêu cầu bên kia thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của họ.
Các bên phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng. Nhưng
việc chấp hành đúng phải không được trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
người thực hiện nghĩa vụ ngoài việc tôn trọng những nghĩa vụ đã cam kết hoặc pháp
luật đã quy định còn phải tôn trọng và tuân thủ những quy định chung của pháp luật
trong suốt quá trình thực hiện nghĩa vụ dân sự.
21
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Nguyên tắc chấp hành trên tinh thần hợp tác: nguyên tắc này đòi hỏi các bên
phải hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nghĩa vụ. Các bên hợp tác
với nhau để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh những
điều khoản của hợp đồng, để đáp ứng nhu cầu và bảo đảm lợi ích cho các bên trong
quan hệ nghĩa vụ. Nếu thấy hợp đồng có thể bị vi phạm phải kịp thời thông báo cho
nhau biết để hạn chế thiệt hại có thể xảy ra hoặc khi đã có vi phạm hợp đồng, phải
tìm mọi cách để hạn chế thiệt hại. Nếu bên nào có điều kiện mà không thực hiện các
biện pháp ngăn chặn sẽ bị coi là có lỗi và phải gánh chịu thiệt hại.
- Nguyên tắc vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả tiền gốc và tiền lãi, theo
đùng thời hạn đã quy định: Thực hiện vai trò trung gian của mình, ngân hàng vừa là
người đi vay, vừa là người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng tham gia
vào các quan hệ pháp luật với những người cho vay. Ngân hàng có trách nhiệm trả
tiền cho người gửi. Với tư cách là người cho vay, ngân hàng là người có quyền
quyết định cho người khác vay và yêu cầu người đi vay hoàn trả cả tiền gốc và tiền
lãi. Ở loại quan hệ này, ngân hàng thực hiện các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh,
vừa phải bảo đảm thu đủ tiền gốc đã cho vay vừa phải bảo đảm thu đủ tiền lãi vay.
Đây là nguyên tắc áp dụng cho cả ngân hàng và người đi vay. Nguyên tắc này vừa
năng thanh toán, do thua lỗ hoặc doanh nghiệp có biểu hiện vi phạm pháp luật như
lừa đảo, trốn thuế. Xử lý khoản vay có vấn đề chính là áp dụng các biện pháp khác
nhau để thu hồi nợ. Việc xử lý này dựa trên nguyên tắc cơ bản là tận dụng hết lượng
tiền mặt sẵn có, buộc doanh nghiệp bán sản phẩm hay cung cấp dịch vụ ở mức giá
hợp lý để tạo nhu cầu có khả năng thanh toán bằng tiền mặt và nhất là cần tận dụng
hết tài sản có của doanh nghiệp, tìm cách chuyển hoá nhanh tất cả loại tài sản đó
thành tiền mặt tạo nguồn trả nợ cho ngân hàng.
2.2.3. Thanh lý hợp đồng tín dụng
- Tất toán khoản vay: khi khách hàng trả nợ, cán bộ tín dụng tiến hành phối
hợp với bộ phận kế toán đối chiếu, kiểm tra về số tiền trả nợ gốc, lãi, phí… để tất
toán khoản vay.
- Thanh lý hợp đồng tín dụng: Thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng theo
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết; khi bên vay trả xong nợ gốc và lãi thì
hợp đồng tín dụng đương nhiên hết hiệu lực và các bên không cần lập biên bản
thanh lý hợp đồng. Trường hợp bên vay yêu cầu, cán bộ tổ chức tín dụng soạn thảo
23
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
biên bản thanh lý hợp đồng trình trưởng phòng tín dụng kiểm soát và trưởng phòng
tín dụng trình lên lãnh đạo ký biên bản thanh lý.
Thực hiện xử lý rủi ro bảo đảm tiền vay: Các bên thoả thuận về việc thực
hiện các phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay. Trong trường hợp các bên thoả
thuận thực hiện phương thức bán tài sản bảo đảm tiền vay thì bên được bán tài sản
có thể là bên C, bên B, hoặc bên A; hai bên phối hợp cùng bán, uỷ quyền cho bên
thứ ba bán, bên được bán tài sản có thể thoả thuận bán cho người mua, uỷ quyền
cho trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sản thực hiện
việc bán tài sản bảo đảm tiền vay. Trong trường hợp bên A có quyền xử lý tài sản
bảo đảm tiền vay, bên B; C phải giao tài sản cho A để xử lý.
yêu cầu bảo lãnh, được quy định cụ thể tại thư bảo lãnh của ngân hàng.
Thế chấp tài sản trong quan hệ hợp đồng tín dụng ngân hàng được hiểu là
việc một cá nhân hay pháp nhân dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo
đảm cho khoản vay tại ngân hàng. Thế chấp tài sản phải làm thành văn bản dưới
hình thức hợp đồng thế chấp tài sản, phải được cơ quan công chứng nhà nước
chứng thực. Trong hợp đồng đó phải ghi rõ khối lượng, giá trị tài sản thế chấp, thời
hạn thế chấp, phương thức xử lý tài sản thế chấp…Nếu số tiền phát mại tài sản thế
chấp không đủ để trả nợ cho ngân hàng bằng các nguồn tài sản khác. Nếu bên đi
vay không đủ trả nợ cho ngân hàng có quyền khởi kiện bên vay trước pháp luật.
Cầm cố trong quan hệ hợp đồng tín dụng ngân hàng là việc người đi vay
dùng số động sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo cho khoản tiền vay
ngân hàng. Về phía ngân hàng, hoạt động dịch vụ cầm cố là một hình thức cho vay
bằng biện pháp cầm cố mà bên nhận cầm cố buộc người có tài sản cầm cố phải giao
vật cầm cố là tài sản của mình cho bên nhận cầm cố quản lý, để làm vật bảo đảm trả
nợ một khoản tiền cầm cố khi người có tài sản cầm cố hoặc người bảo lãnh không
trả được nợ. Cũng như thế chấp việc cầm cố phải được lập thành văn bản và phải
được cơ quan Công chứng Nhà nước chứng thực.
3. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng tín dụng và việc giải quyết tranh
chấp
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng giữa tổ chức kinh tế và tổ chức tín dụng
nếu có tranh chấp nảy sinh thì các bên tự dàn xếp và thương lượng. Trường hợp các
bên không tự giải quyết được với nhau thì được quyền đưa tranh chấp đó giải quyết
tại toà án kinh tế hoặc trọng tài kinh tế phi Chính phủ.
25
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh
45
25