Cơ sở lập luận của bản Tuyên Ngôn Độc Lập Có thể nói, học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí
Minh, trước hết, là học tập cách viết và cách lập luận chặt
chẽ qua từng câu chữ, mỗi trang văn chính luận. Những
văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Tuyên
truyền”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Tuyên ngôn Độc
lập” luôn là những áng văn mẫu mực về phong cách ngôn
ngữ ngắn gọn, chắc chắn, dễ hiểu, chính xác và giàu cảm
xúc.
Dù viết trong hoàn cảnh nào, và bằng thứ tiếng nào, văn
chính luận Việt nói chung, văn chính luận Chủ tịch Hồ Chí
Minh nói riêng, luôn luôn dựa hẳn trên hai nguyên lí:
nguyên lí nhân đạo chủ nghĩa và triết lí ái quốc chủ nghĩa.
Trong cách trình bày, người viết thiên về sự khẳng định
chân lý theo sát với hai nguyên lí trên. Sự khẳng định
thường được trình bày hết sức rạch ròi giữa cái thiện và
cái ác, cái tốt và cái xấu, cái cao thượng và cái thấp hèn,
điều chính nghĩa và điều phi nghĩa. Những sự khẳng định
có tính chất đối lập này được thể hiện một cách nhuần
nhuyễn, sắc sảo trong văn bản “Tuyên ngôn Độc lập”.
Tìm hiểu cách lập luận trong văn bản “Tuyên ngôn Độc
lập”, chúng ta có thể nhận ra: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
vận dụng tất cả những luận cứ sắc sảo nhất, đắt nhất cho
cách lập luận của mình, được thể hiện trong từng từ, từng
câu, từng đoạn và toàn bộ văn bản.
mưu cầu hạnh phúc”.
Luận cứ 2: Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
của cách mạng Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do
và bình đẳng và quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và
bình đẳng về quyền lợi”.
Ở đây, xét về mục đích soạn thảo văn bản, bố cục là hình
thức nhưng cũng là nội dung; và trong bố cục của một loại
hình văn bản nào thì sự mở đầu lúc nào cũng quan trọng,
cũng là kết quả của những sự cân nhắc thuộc chiến lược
ngôn hành. Mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập”, ngay trong
đoạn mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn ngay hai
nội dung quan trọng trong hai bản Tuyên ngôn của Mĩ và
Pháp làm luận cứ cho kết luận của mình. Có thể nói rằng,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thủ pháp lập luận “gậy
ông đập lưng ông” vào ngòi bút của mình một cách sắc
sảo và hiệu quả. Trong tranh luận, để bác bỏ luận điệu
của một đối thủ nào đấy, không gì thú vị và đích đáng hơn
là dùng lí lẽ của chính đối thủ ấy. Sự bác bỏ lí lẽ của bọn
xâm lược trước dư luận thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh
là trường hợp như thế. Quan hệ giữa đoạn mở đầu với
đoạn tiếp theo trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Bác là
quan hệ ngữ nghĩa đối lập: đối lập nội dung, đối lập chữ
nghĩa, đối lập về thái độ. Tất cả đã được diễn đạt trang
trọng, chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn và xúc động. Điều
này được thể hiện:
Thứ nhất, đi từ một chân lý đã biết, đã được công nhận,
suy ra một chân lý tương tự, có chung logic bên trong, đó
là cách lập luận so sánh tương đồng mà Chủ tịch Hồ Chí
lập” đã đánh giá lời trích dẫn Tuyên ngôn của nước Mĩ là
“bất hủ” (nghĩa là không khi nào cũ, không bao giờ mất),
và lời trích dẫn Tuyên ngôn của nước Pháp “là những lẽ
phải không ai chối cãi được” thể hiện rõ hành động chính
trị, nhằm trả lời một đối một đối với những lí lẽ của những
người chống đối hoặc phòng xa nguy cơ chống đối. Có
thể nhận thấy, một mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao tư
tưởng chính trị chứa đựng trong những lời trích dẫn ấy
được ghi bằng chữ vàng trong lịch sử không chỉ của nước
Mĩ, nước Pháp mà cả toàn nhân loại; mặt khác Người lên
án việc xâm phạm, áp bức các dân tộc, chà đạp nhân
quyền là phi pháp lí và đạo lí, là phi văn hóa. Ở đây,
chúng ta bắt gặp một cách nói, cách viết vừa khéo léo,
vừa kiên quyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khéo léo vì nó
tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người
Pháp, người Mĩ; kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản
bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo
của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước
Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam.
Hệ thống luận cứ, luận chứng và cơ sở lập luận của
“Tuyên ngôn Độc lập”:
Chúng ta đều biết, văn chính luận thuyết phục người ta
bằng lí lẽ, nếu đánh địch thì cũng đánh địch bằng lí lẽ. Lợi
thế của nó là những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt
chẽ, những bằng chứng không ai chối cãi được. Do vậy,
trong văn chính luận, nếu có dùng đến hình ảnh, có gợi
đến tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm
cho sự thuyết phục bằng lí lẽ mà thôi. Điều này định
hướng đúng đắn cho người nghe, người đọc khi tiếp nhận
Nhật ”.
- “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt từ tay Nhật chứ
không phải từ tay Pháp” v.v
c) Tính biểu cảm của ngôn ngữ: Bác Hồ viết “Tuyên ngôn
Độc lập” với giọng văn chính luận hào hùng, lập luận sắc
sảo, chặt chẽ, ngắn gọn, chắc chắn, dễ hiểu, chính xác và
giàu cảm xúc. Điều này được thể hiện rõ trong văn bản
qua: giọng điệu vừa khéo léo vừa kiên quyết, lựa chọn từ
ngữ chính xác, ngắn gọn, súc tích nhưng hiệu quả. Khi nói
về mình thì: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố với thế giới
rằng”, “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần
một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc
lập”, “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp
hơn tám mươi năm nay ”. Khi nói về địch thì: 13 lần sử
dụng từ chúng với những hành động được miêu tả khác
nhau (chúng thi hành dã man, chúng thẳng tay chém
giết, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa, chúng ràng buộc,
chúng cướp, chúng bóc lột, chúng nhẫn tâm, ); còn khi
trình bày những bằng chứng hiển nhiên, ngoài nội dung
miêu tả là những kết tử, tác tử lập luận được sử dụng hết
sức chặt chẽ: “thế mà”, “thậm chí”, “tuy vậy”, “bởi thế cho
nên”, “vì những lẽ trên”, “suy rộng ra”; đặc biệt, Người đã
sử dụng lặp đi lặp lại đến hai lần hai chữ “sự thật là ”,
“sự thật là ” như một điệp khúc của bản cáo trạng, lời
văn khẳng định đầy rắn rỏi và đanh thép.
d) Thái độ người nghe: Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn Độc
lập” cho ai nghe? Rõ ràng, Bác đọc “Tuyên ngôn Độc lập”
cho toàn thể đồng bào cả nước và nhân dân thế giới. Điều
ngôn ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết, kinh nghiệm của
nhiều thế kỷ đấu tranh vì độc lập tự do, vì nhân quyền,
dân quyền của dân tộc và của nhân loại” [Nguyễn Đăng
Mạnh: 2006, tr.460]. Quả thật, bên trong tiếng nói của trí
tuệ là tiếng nói của trái tim. Trong cơn bão khốc liệt của
chủ nghĩa bạo lực, chủ nghĩa khủng bố đang diễn ra trong
thời đại ngày nay, những lời suy rộng của “Tuyên ngôn
Độc lập” đang vang lên như những tiếng chuông cảnh
tỉnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình
đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung
sướng và quyền tự do.