Cơ sở lập luận của bản Tuyên Ngôn Độc Lập pot - Pdf 19

Cơ sở lập luận của bản Tuyên Ngôn Độc Lập
Có thể nói, học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh,
trước hết, là học tập cách viết và cách lập luận chặt chẽ qua từng
câu chữ, mỗi trang văn chính luận. Những văn bản: “Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến”, “Tuyên truyền”, “Bản án chế độ thực dân
Pháp”, “Tuyên ngôn Độc lập” luôn là những áng văn mẫu mực về
phong cách ngôn ngữ ngắn gọn, chắc chắn, dễ hiểu, chính xác
và giàu cảm xúc.
Dù viết trong hoàn cảnh nào, và bằng thứ tiếng nào, văn chính
luận Việt nói chung, văn chính luận Chủ tịch Hồ Chí Minh nói
riêng, luôn luôn dựa hẳn trên hai nguyên lí: nguyên lí nhân đạo
chủ nghĩa và triết lí ái quốc chủ nghĩa. Trong cách trình bày,
người viết thiên về sự khẳng định chân lý theo sát với hai nguyên
lí trên. Sự khẳng định thường được trình bày hết sức rạch ròi
giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu, cái cao thượng và cái
thấp hèn, điều chính nghĩa và điều phi nghĩa. Những sự khẳng
định có tính chất đối lập này được thể hiện một cách nhuần
nhuyễn, sắc sảo trong văn bản “Tuyên ngôn Độc lập”.

Tìm hiểu cách lập luận trong văn bản “Tuyên ngôn Độc lập”,
chúng ta có thể nhận ra: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng tất cả
những luận cứ sắc sảo nhất, đắt nhất cho cách lập luận của
mình, được thể hiện trong từng từ, từng câu, từng đoạn và toàn
bộ văn bản.
Lập luận thể hiện ở cấp độ toàn văn bản
Chúng ta đều biết, bản “Tuyên ngôn Độc lập” được Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết “bằng văn xuôi hiện đại tiếng Việt, thuộc phong
cách ngôn ngữ chính luận, một loại văn mang tính chính thức xã

bản nào thì sự mở đầu lúc nào cũng quan trọng, cũng là kết quả
của những sự cân nhắc thuộc chiến lược ngôn hành. Mở đầu bản
“Tuyên ngôn Độc lập”, ngay trong đoạn mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã trích dẫn ngay hai nội dung quan trọng trong hai bản
Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp làm luận cứ cho kết luận của mình.
Có thể nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thủ pháp lập
luận “gậy ông đập lưng ông” vào ngòi bút của mình một cách sắc
sảo và hiệu quả. Trong tranh luận, để bác bỏ luận điệu của một
đối thủ nào đấy, không gì thú vị và đích đáng hơn là dùng lí lẽ của
chính đối thủ ấy. Sự bác bỏ lí lẽ của bọn xâm lược trước dư luận
thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh là trường hợp như thế. Quan
hệ giữa đoạn mở đầu với đoạn tiếp theo trong bản “Tuyên ngôn
Độc lập” của Bác là quan hệ ngữ nghĩa đối lập: đối lập nội dung,
đối lập chữ nghĩa, đối lập về thái độ. Tất cả đã được diễn đạt
trang trọng, chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn và xúc động. Điều này
được thể hiện:

Thứ nhất, đi từ một chân lý đã biết, đã được công nhận, suy ra
một chân lý tương tự, có chung logic bên trong, đó là cách lập
luận so sánh tương đồng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng khi
đem so sánh lời trích trong bản “Tuyên ngôn Độc lập 1776 của
Mĩ”, để đi đến kết luận: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Cái “suy rộng
ra” của Bác là cái được lấy từ chính cái luận cứ và lí lẽ: “Lời bất
hủ ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ”,
nhưng đó lại là “sự bổ sung rất trí tuệ của Bác: với cuộc đời của
dân tộc mình và cuộc đời của biết bao dân tộc bị đoạ đày khác,
Bác đã đưa ra một sự bổ sung vĩ đại, góp phần xoá bỏ một vết
nhơ nhục nhã trong lịch sử loài người” [Nguyễn Nguyên Trứ,

người Pháp, người Mĩ; kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản
bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của
những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất
định tiến quân xâm lược Việt Nam.

Hệ thống luận cứ, luận chứng và cơ sở lập luận của “Tuyên ngôn
Độc lập”:
Chúng ta đều biết, văn chính luận thuyết phục người ta bằng lí lẽ,
nếu đánh địch thì cũng đánh địch bằng lí lẽ. Lợi thế của nó là
những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng
chứng không ai chối cãi được. Do vậy, trong văn chính luận, nếu
có dùng đến hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì chẳng qua cũng
chỉ để phụ giúp thêm cho sự thuyết phục bằng lí lẽ mà thôi. Điều
này định hướng đúng đắn cho người nghe, người đọc khi tiếp
nhận văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” để chỉ ra cái hay, cái tài của
tác giả. Cách dùng từ ngữ (luận chứng), cách sắp xếp luận cứ (lí
lẽ) và mục đích, thái độ, tình cảm của người viết chính là những
cơ sở của những lập luận sắc sảo trong bản “Tuyên ngôn Độc
lập”. Khi tác giả soạn thảo bản “Tuyên ngôn Độc lập” đã hội tụ
đầy đủ 4 yếu tố bắt buộc của màn thuyết phục theo lý thuyết văn
bản đã nêu ở trên:

a) Cơ hội (thời cơ nói): Khi Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”
thì ở miền Nam, thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh (thay mặt
quân Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật) đang tiến vào Đông
Dương, còn ở phía Bắc thì bọn Tù Tưởng, tay sai của đế quốc
Mĩ, đã trực sẵn ở biên giới. Đây là thời điểm lịch sử quan trọng
để Bác Hồ viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới nhằm
khẳng định nền Độc lập của nước nhà.
b) Lí lẽ (các luận cứ): Để khẳng định quyền Độc lập dân tộc của

dụng lặp đi lặp lại đến hai lần hai chữ “sự thật là ”, “sự thật là ”
như một điệp khúc của bản cáo trạng, lời văn khẳng định đầy rắn
rỏi và đanh thép.

d) Thái độ người nghe: Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”
cho ai nghe? Rõ ràng, Bác đọc “Tuyên ngôn Độc lập” cho toàn
thể đồng bào cả nước và nhân dân thế giới. Điều này ai cũng
biết. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, Người viết không chỉ cho đồng
bào và thế giới chung chung, vì như thế không cần nhiều đến
những lời lẽ lập luận chặt chẽ, đanh thép đến vậy. Ở đây, người
nghe là kẻ thù xâm lược Pháp và Mĩ mới là đối tượng Bác hướng
tới. Từ đó ta mới hiểu, trong màn thuyết phục này, dù “Tuyên
ngôn Độc lập” đã dùng đầy đủ lí lẽ nhưng người nghe vẫn có thái
độ cố chấp, không đủ trí tuệ để nhận thức đúng, đầy đủ những
nội dung, giá trị trong lòng người nói. Thế mới biết “sự cố chấp”,
“ngang tàng” và “bạo ngược” của bọn đế quốc và thực dân xâm
lăng! Quân xâm lược đã lắng nghe với một thái độ chống đối.
Người viết bản “Tuyên ngôn Độc lập” cũng thừa hiểu rằng “mâu
thuẫn giữa Anh-Mĩ-Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mĩ nhân
nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương” (Nhận
định của Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 15-8-1945). Và
đúng như dự định, sau “Tuyên ngôn Độc lập” chỉ có 21 ngày, núp
dưới bóng quân Anh, thực dân Pháp đã nổ súng và Nam Bộ
kháng chiến bắt đầu. Một lần nữa khẳng định, Hồ Chủ tịch luôn là
người lãnh đạo “biết người biết mình trăm trận trăm thắng” trong
mọi quyết sách của dân tộc.

Có thể nói, từ góc nhìn lí thuyết lập luận, chúng ta có thể nhận
thấy một cách hiển ngôn hơn về nghệ thuật hùng biện, triết luận
sâu sắc, hùng hồn và đanh thép trong từng câu văn của bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status